Đánh giá rủi ro độc học sinh thái từ nước thải tại Quảng Nam sử dụng bèo hoa dâu Azolla Caroliniana

Luận văn tốt nghiệp nghiên cứu Luận văn tốt nghiệp sử dụng bèo hoa dâu azolla caroliniana willd 1810 đánh giá rủi ro độc học sinh, điều tra thực trạng, phân tích số liệu, đề xuất

Trường đại học

Đại học Đà Nẵng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2018

51
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỞ ĐẦU

0.1. Tính cấp thiết của đề tài

0.2. Mục tiêu của đề tài

0.2.1. Mục tiêu tổng quát

0.2.2. Mục tiêu cụ thể

0.3. Ý nghĩa khoa học của đề tài

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. HIỆN TRẠNG Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM

1.1.1. Tình hình ô nhiễm nước trên thế giới

1.1.2. Hiện trạng môi trường nước ở Việt Nam

1.2. SINH VẬT CẢNH BÁO SỚM Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG NƯỚC

1.2.1. Sinh vật cảnh báo sớm

1.2.2. Tình hình nghiên cứu trên thế giới

1.2.3. Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu

2.2. Loài bèo hoa dâu (Azolla caroliniana, Willd.)

2.3. Nước thải dùng trong thí nghiệm

2.4. Nội dung nghiên cứu

2.5. Phương pháp nghiên cứu

2.5.1. Vật liệu thí nghiệm

2.5.2. Phương pháp thu thập và tổng hợp tài liệu

2.5.3. Phương pháp nghiên cứu trong phòng thí nghiệm

2.5.4. Phương pháp xử lý số liệu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

3.1. Kết quả trong thử nghiệm nước thải đầu ra trạm xử lý nước thải Khu công nghiệp Điện Nam – Điện Ngọc

3.2. Kết quả trong thử nghiệm nước thải đầu ra bệnh viện Đa Khoa khu vực miền núi phía Bắc Quảng Nam

3.3. Kết quả trong thử nghiệm nước thải đầu ra Công ty TNHH nhà máy bia Heineken Việt Nam (Chi nhánh Quảng Nam)

3.4. Kết quả trong thử nghiệm nước thải đầu ra Công ty TNHH Lixil Việt Nam (Chi nhánh Quảng Nam)

3.5. Kết quả trong thử nghiệm nước thải đầu ra Công ty TNHH MTV Con Đường Xanh

4. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Đánh giá rủi ro độc học sinh thái từ nước thải

Đánh giá rủi ro độc học sinh thái từ nước thải là một vấn đề cấp thiết trong bối cảnh ô nhiễm môi trường ngày càng gia tăng. Nước thải từ các cơ sở công nghiệp, y tế và sinh hoạt có thể chứa nhiều chất độc hại, ảnh hưởng nghiêm trọng đến hệ sinh thái. Việc sử dụng bèo hoa dâu (Azolla Caroliniana) như một sinh vật chỉ thị để đánh giá mức độ ô nhiễm là một phương pháp hiệu quả và tiết kiệm. Nghiên cứu cho thấy bèo hoa dâu có khả năng hấp thụ và xử lý các chất ô nhiễm, từ đó cung cấp thông tin về chất lượng nước. Điều này không chỉ giúp bảo vệ môi trường mà còn đảm bảo sức khỏe cộng đồng.

1.1. Tình hình ô nhiễm nước tại Quảng Nam

Quảng Nam hiện đang đối mặt với nhiều thách thức về ô nhiễm nước, đặc biệt là từ các khu công nghiệp. Nước thải chưa qua xử lý được thải ra môi trường, gây ra tình trạng ô nhiễm nghiêm trọng. Theo báo cáo, lượng nước thải phát sinh từ các khu công nghiệp tại Quảng Nam lên tới 450.000 m3/ngày đêm, trong đó chỉ có 75% khu công nghiệp hoàn thành hệ thống xử lý nước thải. Điều này dẫn đến việc ô nhiễm nguồn nước, ảnh hưởng đến sinh vật và sức khỏe con người. Việc đánh giá rủi ro độc học sinh thái từ nước thải là cần thiết để có biện pháp xử lý kịp thời.

1.2. Vai trò của bèo hoa dâu trong đánh giá ô nhiễm

Bèo hoa dâu (Azolla Caroliniana) được biết đến với khả năng sinh trưởng nhanh và khả năng hấp thụ chất dinh dưỡng, giúp cải thiện chất lượng nước. Nghiên cứu cho thấy bèo hoa dâu có thể được sử dụng để đánh giá độc tính của nước thải, từ đó xác định mức độ ô nhiễm. Việc sử dụng bèo hoa dâu không chỉ tiết kiệm chi phí mà còn mang lại hiệu quả cao trong việc giám sát chất lượng nước. Các nghiên cứu trước đây đã chỉ ra rằng bèo hoa dâu có khả năng chống chịu tốt với các chất độc hại, làm cho nó trở thành một công cụ hữu ích trong việc bảo vệ môi trường.

II. Phân tích độc tính nước thải

Phân tích độc tính nước thải là một phần quan trọng trong việc đánh giá rủi ro độc học sinh thái. Nghiên cứu đã tiến hành thử nghiệm độc tính trên bèo hoa dâu (Azolla Caroliniana) với các mẫu nước thải từ các cơ sở khác nhau tại Quảng Nam. Kết quả cho thấy nồng độ độc tính khác nhau tùy thuộc vào nguồn nước thải. Việc xác định nồng độ EC50 (Effective Concentration 50%) giúp đánh giá mức độ ảnh hưởng của nước thải đến sinh vật. Kết quả này không chỉ cung cấp thông tin về chất lượng nước mà còn giúp các cơ sở có biện pháp xử lý kịp thời.

2.1. Kết quả thử nghiệm độc tính

Kết quả thử nghiệm cho thấy nước thải từ các khu công nghiệp có nồng độ độc tính cao hơn so với nước thải từ bệnh viện. Điều này cho thấy sự cần thiết phải có các biện pháp kiểm soát chất lượng nước thải từ các cơ sở công nghiệp. Bèo hoa dâu đã cho thấy khả năng hấp thụ và xử lý các chất độc hại, từ đó giúp cải thiện chất lượng nước. Việc sử dụng bèo hoa dâu trong các thử nghiệm độc tính không chỉ mang lại hiệu quả cao mà còn tiết kiệm chi phí cho các cơ sở.

2.2. Ý nghĩa của việc đánh giá độc tính

Đánh giá độc tính nước thải có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo vệ môi trường và sức khỏe cộng đồng. Kết quả từ các thử nghiệm độc tính giúp các cơ sở nhận thức rõ hơn về mức độ ô nhiễm của nước thải, từ đó có biện pháp xử lý kịp thời. Việc sử dụng bèo hoa dâu như một sinh vật chỉ thị không chỉ giúp đánh giá chất lượng nước mà còn góp phần nâng cao nhận thức về bảo vệ môi trường trong cộng đồng.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. HIỆN TRẠNG Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM 1.1Tình hình ô nhiễm nước trên thế giới Nước là một phần thiết yếu của cuộc sống. Việc cung cấp nước đầy đủ về chất lượng và số lượng có một ý nghĩa quan trọng, nó sẽ làm giảm đi 50% số ca tử vong ở trẻ em và giảm đi 25% các trường hợp tiêu chảy [31]. Tuy nhiên, hiện nay chúng ta đang phải đối mặt với cuộc khủng hoảng nghiêm trọng liên quan đến nguồn nước trên phạm vi toàn cầu mà nguyên nhân chính là do suy giảm hệ sinh thái, ô nhiễm môi trường và biến đổi khí hậu [1] Theo tính toán của một số chuyên gia, cứ 1 m3 nước bị ô nhiễm sẽ làm cho 50-60 m3 nước ngọt khác không sử dụng được [14].

Liên Hợp Quốc ước tính mỗi ngày khoảng 2 triệu tấn nước thải công nghiệp, sinh hoạt, nông nghiệp được thải ra môi trường. Lượng nước thải sản xuất mỗi năm khoảng 1,500 km2 gấp 6 lần lượng nước sông trên toàn cầu [30]. Năm 1990, UNICEP, cũng đã chỉ rõ, hằng năm tại các nước đang phát triển có khoảng 14 triệu trẻ em dưới 5 tuổi bị chết, hơn 3 triệu trẻ em bị tàn tật nặng [29] và theo đánh giá Tổ chức Y tế thế giới tại các nước châu Á 60% số người bị nhiễm trùng và 40% các trường hợp bị tử vong đều là hậu quả của nhiễm bẩn nước, vệ sinh kém và ô nhiễm trường [32]. Báo cáo của Chương trình Môi trường Liên hợp quốc (UNEP) đã chỉ ra rằng, trong giai đoạn 1990 – 2010, môi trường nước của hơn 50% các dòng sông ở 3 châu lục là Châu Á, Châu Phi và Châu Mỹ La tinh bị ô nhiễm vi sinh vật và các chất ô nhiễm hữu cơ, đồng thời nước bị nhiễm mặn cũng tăng gần 1/3.

Khoảng ¼ các con sông ở châu Mỹ Latinh, 10-25% sông ở Châu Phi và 50% các con sông ở châu Á bị ảnh hưởng bởi ô nhiễm vi sinh vật phần lớn là do việc xả nước thải, chất thải chưa qua xử lý ra sông. Theo thống kê báo cáo của UNEP, trung bình mỗi năm có khoảng 3,4 triệu người chết tại 3 châu lục do các bệnh liên quan đến vi sinh vật gây bệnh trong nước như dịch tả, thương hàn, bại liệt, tiêu chảy, viêm gan… và ước Luan van 4 tính khoảng 25 triệu người ở châu Mỹ Latinh, 164 triệu người ở châu Phi và 134 triệu người châu Á có nguy cơ lây nhiễm các bệnh trên [3]. Hiện nay, nhiều nước trên thế giới đang phải đối diện với tình trạng ô nhiễm và cạn kiệt nguồn nước, Ngày 20/03/2007, Quỹ bảo vệ thiên nhiên WWF đã cảnh báo về tình trạng 10 con sông lớn trên thế giới: sông Trường Giang, sông Nin, sông Ấn… có nguy cơ bị cạn kiệt và ô nhiễm trầm trọng [33]. Do hậu quả của hàng chục năm công nghiệp hóa xung quanh sông Trường Giang nên sông này đã trở thành sống ô nhiễm nhất trên thế giới.

Hàm lượng KLN trong nước rất cao và vượt nhiều lần tiêu chuẩn nước mặt của Tổ chức Y tế thế giới cho phép như Asen (20,8μg/l), Sắt (350μg/l), Chì (756 μg/l)… [15]. Theo số liệu thống kê chính thức, hằng năm Trung Quốc xảy ra khoảng 1,700 vụ liên quan đến ô nhiễm nguồn nước. Năm 2000, vụ tai nạn hầm mỏ xảy ra tại công ty Aurul (Rumani) đã thải ra 50-100 tấn xianua và kim loại nặng (như đồng) vào dòng sông gần Baia Mare khiến các loài thủy sản ở đây chết hàng loạt, tổn hại đến hệ thực vật và làm ảnh hưởng đến cuộc sống của 2,5 triệu người [28] Tại Ấn Độ, sông Hằng bị ô nhiễm bởi nền công nghiệp hóa chất, rác thải công nghiệp, sinh hoạt và phong tục hỏa tang thi thể rồi thả trôi trên sông làm chất lượng nước càng trở nên ô nhiễm, các nghiên cứu chất lượng nước cũng phát hiện hàm lượng cao các kim loại nặng trên sông Hằng như Hg (65÷520ppm), Pb (10÷800ppm) và Cr (10÷200ppm) [33]. Năm 2011, chỉ có 10% nước thải được xử lí, còn lại thải trực tiếp ra sông hồ tự nhiên, khoảng 700 triệu người Ấn Độ không có nhà vệ sinh thích hợp và hàng ngàn người chết vì tiêu chảy mỗi ngày [17] Như vậy, nguồn nước sạch trên thế giới đang bị ô nhiễm từ việc thải trực tiếp nước thải chưa xử lí của hoạt động công nghiệp, sinh hoạt, nông nghiệp…ra môi trường nước nhất là những quốc gia đông dân cư như Trung Quốc, Ấn Độ… Hằng ngày, các sông, hồ, ao… vẫn đang đón nhận hàng triệu tấn nước thải ô nhiễm, mang đến những nỗi lo, thách thức cho con người về môi trường hiện nay.

Hiện trạng môi trường nước ở Việt Nam Việt Nam có tài nguyên nước thuộc loại trung bình thế giới, nhưng ẩn chứa nhiều yếu tố kém bền vững. Tổng trữ lượng nước mặt của Việt Nam khoảng 830- Luan van 5 840 tỷ m3, trong đó khoảng 63% lượng nước là từ các quốc gia thượng nguồn chảy vào (Trung Quốc, Lào, Campuchia, Thái Lan) [7]. Hiện nay, nguồn nước của Việt Nam đang bị suy thoái, phá hủy, thay đổi, khai thác quá mức và ở nhiều vùng bị ô nhiễm nặng, từ nước mặt đến nước ngầm. Nhiều con sông, đoạn sông đang “chết” dần vì ô nhiễm và tình trạng ô nhiễm trong các ao, hồ càng bị ô nhiễm nặng.

Mức độ ô nhiễm nước đã có nguy cơ không kiểm soát được. Thực trạng ô nhiễm nguồn nước ở Việt Nam đang gây ra những tác hại to lớn cho sản xuất nông nghiệp, thủy sản, sức khỏe người dân. Cá tôm bị chết do nước ô nhiễm, nước tưới tiêu bị ô nhiễm làm giảm năng suất và chất lượng nông sản. Ô nhiễm nguồn nước sinh hoạt gây ra các bệnh cấp tính lây lan mạnh như kiết lỵ, dịch tả, tiêu chảy.

Ô nhiễm nước do các hóa chất gây ra ngộ độc cấp tính, dù ô nhiễm ở mức độ thấp nhưng tiếp xúc lâu dài sẽ dẫn đến ung thư, dị tật bẩm sinh. Tại một số địa phương ở Việt Nam, các trường hợp nhiễm ung thư, viêm nhiễm ở phụ nữ đã cho thấy 40-50% là do sử dụng các nguồn nước bị ô nhiễm [13]. Trung bình mỗi năm ở Việt Nam có khoảng 9.000 người tử vong vì nguồn nước và hằng năm gần 200.000 người mắc bệnh ung thư mới phát hiện mà một trong những nguyên nhân chính bắt nguồn từ ô nhiễm nguồn nước [2]. Tính đến tháng 3/2017, trên cả nước có 283 khu công nghiệp có cơ sở đã đi vào hoạt động với tổng lượng nước thải phát sinh gần 450.000 m3/ngày đêm; trong đó có 212/283 khu công nghiệp hoàn thành việc xây dựng hệ thống xử lý nước thải tập trung (đạt tỉ lệ 75%), trong đó có 82 hê thống xử lý nước thải tập trung đã được lắp đặt thiết bị quan trắc tự động đạt tỷ lệ 39% (các KCN tại các tỉnh: Hậu Giang, Lào Cai, Vĩnh Phúc, Hải Dương, Quãng Nam…).

Tuy nhiên, các hệ thống xử lý nước thải tập trung ở các KCN chỉ xử lý được khoảng 60% lượng nước thải phát sinh, lượng nước thải còn lại, một phần do các cơ sở đã được miễn trừ đấu nối và tự xử lý, một phần không xử lí mà thải trực tiếp ra môi trường. Hiện nay, cả nước vẫn còn 25% KCN chưa hoàn thành hệ thống xử lí nước thải, gần 94% cụm công nghiệp đang hoạt động chưa được đầu tư xây dựng hệ thống xử lý nước thải dẫn đến việc thải trực tiếp ra bên ngoài làm suy giảm chất lượng nước hiện nay. Ví dụ: ở ngành công nghiệp dệt may, công nghiệp giấy và bột giấy, nước thải thường có pH cao từ Luan van 6 9-11, chỉ số nhu cầu oxy hóa (BOD), oxy hóa học (COD) có thể lên đến 700mg/l và 2.500mg/l, ngoài ra hàm lượng nước thải còn chứa nhiều xyanua (CN-) cao nếu không xử lí đạt hiệu quả trước khi thải ra môi trường sẽ gây ô nhiễm nặng nề cho các nguồn nước mặt tiếp nhận [4]. Tại các lưu vực sông, tình trạng ô nhiễm và suy thoái chất lượng nước đang xảy ra nghiêm trọng đặc biệt những vùng có khu vực công nghiệp, làng nghề, hay đô thị.

Nơi ô nhiễm đã ở mức xảy ra nghiêm trọng như lưu vực sông Nhuệ-Đáy, sông Cầu và hệ thống sông Đồng Nai. Lưu vực sông Nhuệ-Đáy hằng ngày phải tiếp nhận khoảng 600.000m3/ngày đêm nước thải sinh hoạt (Hà Nội chiếm tới 70%), nước thải y tế khoảng hơn 10.000m3/ngày đêm, nước thải các hoạt động công nghiệp khoảng 340m3/ngày đêm và nước thải nông nghiệp, thủy sản dẫn đến lưu vực sông đang bị ô nhiễm nghiêm trọng, hàm lượng DO hầu như triệt tiêu không còn điều kiện để tôm cá sống được, dẫn đến những hiện tượng cá chết nổi trôi trên sông nhiều. Báo cáo của Cục trưởng Cục Quản lý môi trường y tế (Bộ Y Tế) tổng lượng nước thải y tế phát sinh từ cơ sở khám, chữa bệnh khoảng 125.000 m3 chưa kể lượng nước thải của các cơ sở y tế dự phòng. Trên cả nước, có 773 bệnh viện cần được xây dựng và nâng cấp hệ thống xử lí nước thải, trong đó có gần 563 bệnh viện chưa có hệ thống xử lí nước thải, những bệnh viện khác đã có hệ thống xử lí nước thải nhưng đều xuống cấp và việc xử lí không đạt hiệu quả.

Tại Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh lần lược chỉ có 5/31 bệnh viện và 24/142 cơ sở y tế lớn là có xử lý nước thải vì vậy đây là những nguồn quan trọng gây ra ô nhiễm nguồn nước trong các kênh, sông, hồ hiện nay. Ngoài ra, vấn đề môi trường ở một số làng nghề thép, đúc đồng, dệt nhuộm, bún…cho thấy có lượng nước thải hàng ngàn m3/ngày đêm không qua xử lí thải trực tiếp ra ngoài gây ô nhiễm nguồn nước và môi trường trong khu vực. Điển hình là làng nghề tái chế nhôm Bình Yên, Nam Định, ước tính chất thải độc hại từ quá trình sản xuất thải ra môi trường 35,59 tấn/tháng, lượng nước thải bình quân một ngày khoảng 500m3 đã xảy ra tình trạng ô nhiễm nghiêm trọng, toàn bộ các kênh mương quanh làng đều mất đi chức năng chứa và lưu thông nước mà thay vào đó là những Luan van 7 kênh bùn lỏng cao hơn cả mặt ruộng. Dẫn đến toàn bộ hệ thống nước mặt của thôn không còn giá trị sử dụng, sức khỏe người dân bị ảnh hưởng, hiện nay trong làng đang ngày càng nhiều người mắc các bệnh ung thư lạ [13].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Đánh giá rủi ro độc học sinh thái từ nước thải tại Quảng Nam sử dụng bèo hoa dâu Azolla Caroliniana" của tác giả Phạm Thị Diệu Phương, dưới sự hướng dẫn của ThS. Nguyễn Văn Khánh, trình bày một nghiên cứu quan trọng về việc sử dụng bèo hoa dâu để đánh giá rủi ro độc học từ nước thải. Nghiên cứu này không chỉ giúp hiểu rõ hơn về tác động của nước thải đến môi trường sinh thái mà còn mở ra hướng đi mới trong việc xử lý nước thải hiệu quả và bền vững. Đặc biệt, việc áp dụng bèo hoa dâu Azolla Caroliniana có thể mang lại nhiều lợi ích cho việc cải thiện chất lượng nước và bảo vệ hệ sinh thái tại Quảng Nam.

Nếu bạn quan tâm đến các vấn đề liên quan đến sức khỏe cộng đồng và quản lý tài nguyên, bạn có thể tham khảo thêm bài viết Thực Trạng Tự Kỳ Thị và Yếu Tố Liên Quan ở Bệnh Nhân HIV/AIDS Tại Phòng Khám Đông Anh Hà Nội (2017), nơi đề cập đến các yếu tố xã hội ảnh hưởng đến sức khỏe. Ngoài ra, bài viết Đánh giá kết quả tán sỏi thận bằng nội soi ống mềm tại Bệnh viện Bạch Mai và Bệnh viện Hữu Nghị Việt Đức cũng cung cấp cái nhìn sâu sắc về các phương pháp y học hiện đại trong điều trị bệnh lý. Cuối cùng, bài viết Thực trạng chăm sóc đường truyền tĩnh mạch ngoại vi của điều dưỡng tại bệnh viện đa khoa tỉnh Hà Giang sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về công tác chăm sóc sức khỏe tại các cơ sở y tế. Những tài liệu này sẽ mở rộng kiến thức của bạn về các vấn đề liên quan đến sức khỏe và quản lý tài nguyên.