Chương 1: Giới thiệu 3 3. Phân tích khả năng tích lũy chất dinh dưỡng trong sinh khối của thật vật thử nghiệm. So sánh và đánh giá chất lượng nước thải sau xử lý của mô hình với mô hình đất ngập nước xuôi dòng và với các kết quả nghiên cứu tương tự khác trên thế giới. Qua đó, đề xuất các thông số vận hành thích hợp cho việc áp dụng mô hình công trình đất ngập nước kiến tạo vào thực tế xử lý nước thải dệt nhuộm đạt quy chuẩn Việt Nam 13:2008/BTNMT.6 Y NGHĨA KHOA HOC VÀ THUC TIEN 1.1 Y nghĩa khoa học Toản bộ kết quả của đề tài được rút ra từ những thí nghiệm có căn cứ khoa học rõ ràng, vận dụng các phương pháp tiêu chuẩn trong nghiên cứu, phân tích; xử lý số liệu thông qua phương pháp thống kê toán học nên đảm bảo tính khoa học của đề tải.
Các phương pháp, thông số thí nghiệm nghiên cứu của đề tài có kế thừa thành quả của các nghiên cứu trước, tạo cơ sở và độ tin cậy cho kết quả của đề tài mang lại.2 Y nghĩa thực tiễn Các kết quả nghiên cứu trong luận văn này tạo cơ sở và tiền đề để nghiên cứu sâu hơn việc áp dụng đất ngập nước kiến tạo dòng chảy ngược dé xử lý nước thải công nghiệp khác. Góp phan khắc phục tinh trạng thiếu nước sạch, bảo vệ môi trường sinh thái.3 Tính mới của đề tài Sử dụng đất ngập nước kiến tạo xử lý nước thải đã được ứng dụng đối với nhiều loại nước thải và nhiều nơi trên thế giới vì tính thân thiện môi trường của nó. Tuy nhiên, ở dé tài nay là nghiên cứu ứng dụng đất ngập nước kiến tạo ngược dòng xử lý nước thải dệt nhuộm là một trong những loại nước thải có thành phan khong 6n dinh can phai co quá trình xử lý thích hợp dé đáp ứng quy chuẩn Việt Nam. SVTH: Phan Lê Xuân Hanh Chương 2: Tổng quan tài liệu 4 CHƯƠNG 2 TÔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 TONG QUAN NƯỚC THÁI DET NHUỘM Nước thải dét nhuộm là sự tong hợp nước thải phát sinh từ tat cả các công đoạn hồ sợi, nấu tây, tây trăng, làm bóng sợi, nhuộm in và hoản tất.
Theo phân tích của các chuyên gia, trung bình, một nhà máy dệt nhuộm sử dụng một lượng nước đáng kể, trong đó, lượng nước được sử dụng trong các công đoạn sản xuất chiếm 72,3%, chủ yếu là trong công đoạn nhuộm và hoàn tat sản phẩm. Xét hai yếu t6 là lượng nước thải và thành phân các chất ô nhiễm trong nước thải, ngành dét nhuộm được đánh giá là ô nhiễm nhất trong số các ngành công nghiệp. Nước thải dệt nhuộm rất đa dạng và phức tạp. thành phan nước thải hầu như thay đôi theo công nghệ và mặt hàng.
Vì vậy, việc xác định thành phan và tinh chất nước thai cũng gây nhiều khó khăn. Một số thành phần thường có trong nước thải dệt nhuộm: - Phẩm nhuộm - Chất hoạt động bề mặt - Chất điện ly - Chất ngậm - Chất tạo môi trường - Tinh bột, chất oxi hóa. - Các hóa chất hòa tan dưới dang ion và chat kim loai nặng.1 Giới thiệu về thuốc nhuộm Thuốc nhuộm là tên chỉ chung những hợp chất có màu, chúng rất đa dạng về màu sắc va chủng loại, chúng có khả năng nhuộm mau, nghĩa là bắt màu hay gắn màu trực tiếp cho các vật liệu khác. Thuốc nhuộm bao gồm thuốc nhuộm tự nhiên và thuốc nhuộm tong hợp.
Thuốc nhuộm tổng hợp rất đa dạng vẻ thành phần hóa học, màu sắc và phạm vi sử dụng, cho đến nay trên thế giới đã tổng hợp được 13.000 loại thuốc nhuộm hơn 27.000 tên thương mại khác nhau. Tuy theo cau tạo, tính chất và phạm vi sử dụng mà người ta chia thuốc nhuộm thành các họ, các loại khác nhau. Về cau tạo hóa học, nói chung tat cả các hợp chất vòng thơm đều hap thu năng lượng điện từ nhưng chỉ có những chất hấp thu ánh sáng trong vùng khả kiến là có màu. Câu SVTH: Phan Lê Xuân Hanh Chương 2: Tổng quan tài liệu 5 tạo của phân tử thuốc nhuộm bao gồm các nhóm mang màu và các nhóm tăng mau.
Các nhóm mang mau (chromophore) là hệ điện tử không cô định của nối đôi liên hop như —C=C-, -C=C-, -C=O, -N=N-, -NO2 và các vòng quinoid. Các nhóm tăng mau (auxochrome) là các nhóm thế làm tăng cường màu của nhóm mang màu bằng việc thay đôi năng lượng của hệ điện tử -NHa, - COOH, -SO3H và —OH. Trên cơ sở của cau trúc hóa học hoặc nhóm mang màu, thuốc nhuộm được phân loại thành khoảng 20 — 30 họ thuốc nhuộm khác nhau. Trong đó thuốc nhuộm azo là họ thuốc nhuộm quan trọng nhất và có số lượng lớn nhất, chiếm khoảng 60 — 70% số lượng các thuốc nhuộm tong hop.
Cac ho thuốc nhuộm quan trọng còn lại gồm antraquinon (khoảng 15%), triarylmetan (khoảng 3%) va phtaloxyanin (khoảng 2%). Thuốc nhuộm azo là họ thuốc nhuộm có nhóm mang màu là một hệ thống nối đôi liên hợp mà trong đó có chứa một hoặc nhiều nhóm azo —N=N-. Công thức chung để tạo thành thuốc nhuộm azo gồm hai thành phần hợp chất hữu cơ — một thành phần kết hợp và một thành phan azo. Dựa vào số nhóm azo có trong hệ mang màu của thuốc nhuộm azo ma người ta chia ra các phân nhóm thuốc nhộm azo, gồm : Monoazo: Ar—N=N-Ar Diazo: Ar—N=N-Ar —N=N-Ar”’ Tri va polyazo: Ar—N=N-Ar—N=N-Ar’?—N=N-Ar’”’.
Trong đó : Ar, Ar’, Ar’’. là những gốc hữu co nhân thơm có cấu tạo da vòng, di vòng rất khác nhau. Đề phân loại thuốc nhuộm, ngoài phương pháp phân loại hóa học trên đây, người ta còn dùng phương pháp phân lớp kỹ thuật dựa vao tinh chất công nghệ sử dung chúng để nhuộm in hoa các sản phẩm dệt, da, giấy. Theo cách phân lớp nay, thì những thuốc nhuộm tuy được xếp cùng một họ theo phân loại hóa học có thé nằm ở các lớp khác nhau theo phân lớp kỹ thuật thuốc nhuộm chủ yếu gồm : Thuốc nhuộm axit (acid dyes): là những hợp chất anion được dùng chủ yếu để nhuộm các loại sợi chứa nitơ như len, polyamid, tơ tằm và acryl biến tính, một số dùng để nhuộm lông thú và da.
Tuy khác nhau về cấu tạo hóa học nhưng các loại thuốc nhuộm axit có đặc điểm chung là hòa tan trong nước và bắt màu vào xơ trong môi trường axit, còn bản thân thuốc nhuộm thì có phản ứng trung tính. Thuốc nhuộm trực tiếp (direct dyes): là những chất anion có phân tử tương đối lớn, hòa tan trong nước và có ái lực cao với các sợi xenluloza. Đây là loại thuốc nhuộm bắt SVTH: Phan Lê Xuân Hanh Chương 2: Tổng quan tài liệu 6 mau trực tiếp với xơ sợi không qua giai đoạn xử lý trung gian. Trong công nghệ dệt nhuộm, thuốc nhuộm trực tiếp thường được sử dụng để nhuộm sợi 100% bông, tơ tằm, sợi polyamit.
Thuốc nhuộm phân tán (disperse dyes): thuốc nhuộm không hòa tan mà khuếch tán vào sợi vải, để nhuộm các loại sợi tong hợp khong ưa nước. Thuốc nhuộm cam màu (mordant dyes): là loại thuốc nhuộm được cô định vào sợi bang một chất cầm mau, chất cam mau thường là một kim loại như crom, nhôm, đồng hoặc sắt giữ vai trò liên kết thuốc nhuộm với sợi vải. Khi kết hợp với sợi vải chúng tạo thành các phức kim loại và kết tủa lên sợi vải. Thuốc nhuộm azoic (thuốc nhuộm azo không tan): tên azoic là tên gọi dành cho các thuốc nhuộm azo không hòa tan được hình thành trong quá trình nhuộm.
Thuốc nhuộm azoic là các sản phẩm không hòa tan của phản ứng giữa một thành phan kết hop va một amin vòng diazo hóa. Phản ứng này được tiễn hành ngay trên sợi. Tat ca thuốc nhuộm azoic là các hợp chất azo. Thuốc nhuộm bazo (basic dyes): là các hợp chất cation hòa tan trong nước, được sử dụng để nhuộm các loại sợi chứa nhóm axit, thường là các loại sợi tong hop nhu polyacryl biến tính.
Chúng liên kết với các nhóm axit của sợi vải. Thuốc nhuộm hoạt tính (reactive dyes): là loại thuốc nhuộm có các nhóm hoạt tính tạo thành liên kết cộng hóa tri với các nhóm —OH, NH-, hoặc SH- trong sợi vải (bông, len, tơ, lynon). Nhờ vậy mà thuốc nhuộm hoạt tính có độ bền màu cao. Hơn nữa, thuốc nhuộm hoạt tính có đủ gam màu, màu tươi và thuần sắc, công nghệ nhuộm đa dạng và không quá phức tap, vì vậy nên tuy mới ra đời năm 1956 đến nay đã sản xuất với khối lượng rất lớn va sử dụng khá phố biến.
Chúng được sử dụng dé nhuộm và in hoa cho các vật liệu xenluloza, tơ tam, len, vật liệu từ xơ polyamit. Câu tạo hóa học và tính chất chung của thuốc nhuộm hoạt tính: tuy có khác nhau về cầu tạo phân tử, phạm vi sử dụng và hoạt độ nhưng các loại thuốc nhộm hoạt tính đều có thể được trình bày dưới dạng tổng quát là: S-R-T-X Trong đó: S-: nhóm tạo cho phân tử thuốc nhuộm có độ hòa tan cần thiết trong nước, thường gặp nhất là các nhóm: -SO3Na, -COONa, - SO2CH3. SVTH: Phan Lê Xuân Hanh Chương 2: Tổng quan tài liệu 7 R-: phần mang màu của phân tử thuốc nhuộm, tuy không ảnh hưởng đến mối liên kết giữa thuốc nhuộm và xơ nhưng phan nay quyết định về màu sắc, độ bền mau với ánh sáng và cũng có tác động đến các chỉ tiêu về độ bền màu khác của thuốc nhuộm. Những gốc màu thường gặp là mono và diazo, phức chất của thuốc nhuộm azo với ion kim loại, gốc antraquinon, hoàn nguyên đa vòng, dẫn xuất của ftaloxianin,.
T-: là gốc mang nguyên tử nhóm phản ứng. làm nhiệm vụ liên kết giữa thuốc nhuộm với xơ và có ảnh hưởng quyết định đến độ bền của liên kết này. X-: là nguyên tử (hay nhóm) phản ứng, trong quá trình nhuộm nó sẽ tách ra khỏi phân tử thuốc nhuộm, tạo khả năng cho thuốc nhuộm thực hiện phản ứng hóa học với xơ, X không có ảnh hưởng gì đến màu sắc nhưng đôi khi cũng có ảnh hưởng đến độ hòa tan của thuốc nhuộm. Những nguyên tử này thường là —CI, -SO2, -OSOaH, - Ch=CH›,.
T-X-: là nhóm hoạt tính có cấu tạo khác nhau, được đưa vào các hệ thống mang màu khác nhau. Các nhóm T-X- thường sử dụng gồm: monoclotriazin, diclotriazin, triclopirimidin, dicloquinoxalin, diclopiridazol, ftalazin, vinylsufon, vinyl sunfamit,. Trong quá trình nhuộm, khi tiếp xúc với vật liệu thuốc nhuộm hoạt tính sẽ tham gia đồng thời vào 2 phản ứng: với vật liệu và với phan ứng thủy phân.