Đặt vấn đề Bệnh viện Đa khoa Trung ƣơng Thái Nguyên là một bệnh viện trọng yếu ở khu vực Đông Bắc có chức năng nhiệm vụ khám chữa bệnh cho nhân dân các dân tộc thuộc 6 tỉnh miền núi phía Đông Bắc, đào tạo sinh viên trƣờng Đại học Y Thái Nguyên, trƣờng Trung học y tế Thái Nguyên, các bác sỹ có trình độ sau đại học, cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ cho việc khám chữa bệnh của bệnh viện ngày càng đƣợc nâng cao. Là một bệnh viện lớn, nơi luôn tập trung một lƣợng lớn bệnh nhân khám chữa bệnh và những ngƣời thân chăm sóc. Hoạt động khám chữa bệnh của bệnh viện đã phát sinh ra một lƣợng lớn nƣớc thải,các chất thải độc hại và nguy hiểm gây ảnh hƣởng xấu tới sức khoẻ của con ngƣời. Chất thải bệnh viện, đặc biệt là nƣớc thải và chất thải rắn đƣợc phân vào nhóm chất thải nguy hại do tính độc và tính lây nhiễm.
Các loại chất thải này nếu không đƣợc xử lý hoặc xử lý không triệt để mà thải thẳng ra môi trƣờng sẽ gây ra những hậu quả nghiêm trọng tới môi trƣờng.Hiện tại vấn đề nƣớc thải đang là vấn đề nổi cộm của Bệnh viện Đa khoa Trung ƣơng Thái Nguyên. Với số lƣợng giƣờng bệnh là 1000 giƣờng, mỗi ngày bệnh viện thải ra một lƣợng lớn khoảng 350 m3 đến 500 m3 nƣớc thải, hệ thống xử lý nƣớc thải cũ của bệnh viện bị xuống cấp và quá tải, không đáp ứng đƣợc yêu cầu của việc xử lý nƣớc thải bệnh viện, các kết quả phân tích đánh giá hiện trạng chất lƣợng nƣớc thải bệnh viện cho thấy mức độ ô nhiễm nghiêm trọng, với nhiều thông số vƣợt tiêu chuẩn cho phép. Bệnh viện Đa khoa Trung ƣơng Thái Nguyên nằm trong danh sách các cơ sở gây ô nhiễm môi trƣờng nghiêm trọng theo Quyết định 64/2003/QĐ-TTg ngày 22/4/2003 của Thủ tƣớng Chính phủ phê duyệt kế hoạch xử lý triệt để các cơ sở gây ô nhiễm môi trƣờng nghiêm trọng và phải tiến hành xử lý triệt để ô nhiễm phải tiến hành xử lý triệt để ô nhiễm. Xuất phát từ thực tiễn trên, dƣới sự hƣớng dẫn của thầy giáo TS.
Dƣ Ngọc Thành, em tiến hành nghiên cứu đề tài: “ Đánh giá công tác quản lý và xử lý chất thải tại Bệnh viện Đa Khoa tỉnh Thái Nguyên ”. Mục tiêu và yêu cầu nghiên cứu của đề tài n 2 1. Mục tiêu - Nghiên cứu đánh giá hiện tra ̣ng chất thải tại bệnh viện - Xác định đƣợc khối lƣợng rác thải và nƣớc thải của bệnh viện ra ngoài môi trƣờng - Đề xuấtt giải pháp nâng cao năng lực quản lý nhà nƣớc về môi trƣờng tại bệnh viện Đa Khoa Trung ƣơng Thái Nguyên 1. Yêu cầu - Số liệu thu thập phải khách quan, trung thực, chính xác.
- Phản ánh đầy đủ, đúng đắn công tác thu gom và quản lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện Đa khoa Thái Nguyên. - Các mẫu nghiên cứu phải đại diện cho khu vực lấy mẫu trên địa bàn nghiên cứu. - Đề xuất những giải pháp kiến nghị phải có tính khả thi, thực tế, phù hợp với điều kiện thực tế của cơ sở. - Nâng cao kiến thức thực tế của bản thân phục vụ cho công tác sau khi ra trƣờng.
Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học - Áp dụng kiến thức đã học của nhà trƣờng vào thực tế. - Rèn luyện kỹ năng tổng hợp và phân tích số liệu. - Nâng cao kiến thức thực tế.
- Tích luỹ kinh nghiệm cho công việc sau khi ra trƣờng. - Bổ sung tƣ liệu cho học tập. Ý nghĩa thực tiễn -Giúp bản thân có thêm kiến thức về chất thải y tế. - Đánh giá đƣợc công tác thu gom và quản lý chất thải rắn y tế bệnh viện đa khoa Thái Nguyên.
- Có những biện pháp đề xuất hiệu quả trong công tác quản lý chất thải bênh viện. - Kết quả của đề tài là căn cứ tăng cƣờng tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức của ngƣời dân về môi trƣờng. n 3 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Cơ sở khoa học của đề tài 2. Một số khái niệm * Định nghĩa chất thải y tế Theo Quy chế Quản lý CTYT của Bộ Y tế ban hành tại Quyết định số 43/QĐ- BYT ngày 30/11/2007 quy định: + Chất thải y tế là vật chất ở thể rắn, lỏng và khí đƣợc thải ra từ các cơ sở y tế bao gồm chất thải y tế nguy hại và chất thải thông thƣờng.
+ Chất thải y tế nguy hại là chất thải y tế chứa yếu tố nguy hại cho sức khỏe con ngƣời và môi trƣờng nhƣ dễ lây nhiễm, gây ngộ độc, phóng xạ, dễ cháy, dễ nổ, dễ ăn mòn hoặc có đặc tính nguy hại khác nếu những chất thải này không đƣợc tiêu hủy an toàn. + Quản lý chất thải nguy hại là các hoạt động liên quan đến việc phòng ngừa, giảm thiểu, phân định, phân loại, tái sử dụng trực tiếp, lƣu giữ tạm thời, vận chuyển và xử lý CTNH. + Quản lý chất thải y tế là hoạt động quản lý việc phân loại, xử lý ban đầu, thu gom, vận chuyển, lƣu giữ, giảm thiểu, tái sử dụng, tái chế, xử lý, tiêu hủy chất thải y tế và kiểm tra, giám sát việc thực hiện. Nguồn gốc phát sinh - Hầu hết, các chất thải rắn y tế là các chất thải sinh học độc hại và mang tính đặc thù, nếu không đƣợc phân loại cẩn thận trƣớc khi xả chung với các loại chất thải sinh hoạt sẽ gây ra những nguy hại đáng kể.
- Theo Quy chế quản lý chất thải y tế (Bộ Y tế) thì chất thải y tế là vật chất ở thể rắn, lỏng và khí, đƣợc thải ra từ các cơ sở y tế bao gồm chất thải y tế nguy hại và chất thải thông thƣờng. Chất thải y tế nguy hại là chất thải y tế chứa yếu tố nguy hại cho sức khỏe con ngƣời và môi trƣờng nhƣ dễ lây nhiễm, gây ngộ độc, phóng xạ, dễ cháy, dễ nổ, dễ ăn mòn hoặc có đặc tính nguy hại khác nếu những chất thải này không đƣợc tiêu hủy hoàn toàn. n 4 - Các chất thải rắn y tế nguy hại bao gồm: + Chất thải lây nhiễm sắc nhọn (bơm kim tiêm, đầu sắc nhọn của dây truyền dịch, lƣỡi dao mổ, đinh mổ, cƣa, các ống tiêm, mảnh thủy tinh vỡ và các vật sắc nhọn khác), chất thải lây nhiễm không sắc nhọn (bông, băng, gạc); chất thải có nguy cơ lây nhiễm (bệnh phẩm và dụng cụ đựng dính bệnh phẩm); chất thải giải phẫu (các mô, cơ quan, bộ phận cơ thể ngƣời, rau thai, bào thai); chất thải hóa học nguy hại (dƣợc phẩm quá hạn, kém phẩm chất không còn khả năng sử dụng, chất hóa học nguy hại sử dụng trong y tế), chất thải chứa kim loại nặng (thủy ngân từ nhiệt kế, huyết áp kế bị vỡ)… - Chất thải lỏng y tế nguy hại: + Đƣợc phát sinh từ các hoạt động chuyên môn (từ các phòng phẫu thuật, thủ thuật, xét nghiệm, thí nghiệm.) và sinh hoạt của nhân viên bệnh viện, bệnh nhân và ngƣời chăm nuôi (từ các nhà vệ sinh, giặt giũ, từ việc làm vệ sinh phòng bệnh). Đối với nƣớc thải bệnh viện ngoài những yếu tố ô nhiễm thông thƣờng nhƣ chất hữu cơ, dầu mỡ động thực vật, vi khuẩn thông thƣờng còn có những chất bẩn khoáng và hữu cơ đặc thù nhƣ các vi khuẩn gây bệnh, chế phẩm thuốc, chất khử trùng, các dung môi hóa học, dƣ lƣợng thuốc kháng sinh, các đồng vị phóng xạ đƣợc sử dụng trong quá trình chẩn đoán và điều trị.
- Chất thải thông thƣờng (hay chất thải không nguy hại): Là chất thải không chứa các yếu tố lây nhiễm, hóa học nguy hại, phóng xạ, dễ cháy nổ, bao gồm: + Chất thải sinh hoạt phát sinh từ các buồng bệnh (trừ các buồng bệnh cách ly) + Chất thải phát sinh từ các hoạt động chuyên môn y tế (chai, lọ thủy tinh, chai lọ huyết thanh, các vật liệu nhựa, các loại bột bó trong gãy xƣơng kín). Những chất thải này không dính máu, dịch sinh học và các chất hóa học nguy hại, chất thải phát sinh từ các công việc hành chính (giấy, báo, tài liệu, túi nilon.), chất thải ngoại cảnh (lá cây, rác ở các khu vực ngoại cảnh). Phân loại chất thải y tế Căncứvào Quy chế Quản lý CTYT của Bộ Y tế ban hành tại Quyết định số 43/QĐ-BYT ngày 30/11/2007.Cácđặcđiểm lýhọc,hoáhọc,sinhhọcvàtínhchấtnguyhại n 5 thì việc phân loạichất thảitrongcáccơsởytế ở đa số các nƣớc trên thế giới và của tổ chức WHO đƣợcphânthành5nhóm: * Chất thải lây nhiễm: - Chất thải sắc nhọn (loại A): Là chất thải có thể gây ra các vết cắt hoặc chọc thủng, có thể nhiễm khuẩn, bao gồm: bơm kim tiêm, đầu sắc nhọn của dây truyền, lƣỡi dao mổ, đinh mổ, cƣa, các ống tiêm, mảnh thủy tinh vỡ và các vật sắc nhọn khác sử dụng trong các hoạt động y tế. - Chất thải lây nhiễm không sắc nhọn (loại B): Là chất thải bị thấm máu, thấm dịch sinh học của cơ thể và các chất thải phát sinh từ buồng bệnh cách ly.
- Chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao (loại C): Là chất thải phát sinh trong các phòng xét nghiệm nhƣ: bệnh phẩm và dụng cụ đựng, dính bệnh phẩm. - Chất thải giải phẫu (loại D): Bao gồm các mô, cơ quan, bộ phận cơ thể ngƣời: rau thai, bào thai và xác động vật thí nghiệm. * Chất thải hóa học nguy hại: - Dƣợc phẩm quá hạn, kém phẩm chất không còn khả năng sử dụng. - Chất hóa học nguy hại sử dụng trong y tế - Chất gây độc tế bào, gồm: vỏ các chai thuốc, lọ thuốc, các dụng cụ dính thuốc gây độc tế bào và các chất tiết từ ngƣời bệnh đƣợc điều trị bằng hóa trị liệu.
- Chất thải chứa kim loại nặng: thủy ngân (từ nhiệt kế, huyết áp kế thủy ngân bị vỡ, chất thải từ hoạt động nha khoa), cadimi (Cd) (từ pin, ắc quy), chì (từ tấm gỗ bọc chì hoặc vật liệu tráng chì sử dụng trong ngăn tia xạ từ các khoa chẩn đoán hình ảnh, xạ trị). * Chất thải phóng xạ: - Chất thải phóng xạ: Gồm các chất thải phóng xạ rắn, lỏng và khí phát sinh từ các hoạt động chẩn đoán, điều trị, nghiên cứu và sản xuất. - Danh mục thuốc phóng xạ và hợp chất đánh dấu dùng trong chẩn đoán và điều trị ban hành kèm theo Quyết định số 33/2006/QĐ - BYT ngày 24 tháng 10 năm 2006 của Bộ trƣởng Bộ Y tế. * Bình chứa áp suất: Bao gồm bình đựng oxy, CO2, bình ga, bình khí dung.Các bình này dễ gây cháy, gây nổ khi thiêu đốt.