ĐẶT VẤN ĐỀ Từ những năm 1980, khi các công ty lâm nghiệp nhà nước bắt đầu bộc lộ hạn chế trong quản lý tài nguyên rừng quốc gia, nhà nước đã chú ý đến phương thức huy động sự tham gia của các thành phần kinh tế trong quản lý bảo vệ rừng. Nhằm thể chế hóa phương thức này, Luật bảo vệ và phát triển rừng (BV&PTR) năm 1991 và Luật Đất đai năm 1993 đã thiết lập căn cứ pháp lý cho việc giao khoán rừng và đất lâm nghiệp cho các hộ gia đình, cá nhân và tổ chức với mục tiêu tạo động lực kinh tế khuyến khích người dân tham gia bảo vệ và phát triển rừng, đặc biệt là các đồng bào dân tộc thiểu số sống dựa vào rừng. Tiếp đó, nhà nước và chính phủ ban hành nhiều chính sách để triển khai thực hiện việc khoán bảo vệ rừng, trong đó nhà nước vẫn nắm quyền sở hữu và quản lý rừng và đất rừng, cụ thể là Nghị định 01/CP năm 1995 và Quyết định 178/2001/QĐ-TTg. Trong giai đoạn đầu những năm 2000, Luật Đất đai 2003 và Luật BV&PTR 2004 bắt đầu công nhận quyền sở hữu cộng đồng đối với đất đai và rừng cộng đồng, đồng thời Luật BV&PTR cho phép khoán rừng đặc dụng cho các cá nhân/hộ gia đình sinh sống lâu đời tại địa phương.
Cùng với sự phát triển kinh tế xã hội, các văn bản dưới luật như Nghị định 135/2005/NĐ-CP và Nghị định 75/2015/NĐ-CP hướng dẫn thực hiện khoán bảo vệ rừng cũng thay đổi các quyền, cơ chế hưởng lợi của các bên liên quan để phù hợp hơn với nhu cầu thực tiễn. Nhờ chính sách giao đất giao rừng và khoán bảo vệ rừng, cơ chế quản trị rừng của Việt Nam đã dần dần chuyển đổi từ bảo vệ nghiêm ngặt sang phát triển trồng rừng, từ cơ chế quản lý nhà nước tập trung sang phân quyền về địa phương và lấy con người là trung tâm (Nguyen et al. Việt Hồng là xã vùng cao của huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái có nhiều thế mạnh về sản xuất lâm nghiệp với độ che phủ của rừng lên đến 86,21% và là địa bàn của Công ty TNHH một thành viên Lâm nghiệp Việt Hưng (Lâm 2 trường Việt Hưng trước kia). Tuy nhiên; cho đến năm 2008, việc thực thi chính sách quản lý rừng dựa vào cộng đồng (QLR dựa vào CĐ) mới được triển khai tại đây, khi chính phủ ban hành Nghị định về việc giao khoán đất nông nghiệp, đất rừng sản xuất và đất có mặt nước nuôi trồng thủy sản trong các nông trường quốc doanh, lâm trường quốc doanh (Nghị định số 135/2005/NĐ-CP).
Phương thức quản lý rừng này lại tiếp tục được duy trì khi chính phủ ban hành Nghị định về cơ chế, chính sách bảo vệ và phát triển rừng gắn với chính sách giảm nghèo nhanh, bền vững và hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số giai đoạn 2015 - 2020 (Nghị định số 75/2015/NĐ-CP). Theo bối cảnh dân sinh - kinh tế - văn hóa của mỗi cộng đồng dân cư, cách triển khai phù hợp sẽ quyết định sự thành công của chính sách QLR dựa vào CĐ. Mặt khác; chỉ khi cộng đồng dân địa phương tham gia vào các hoạt động bảo vệ rừng và các hoạt động này thực sự mang lại những lợi ích kinh tế xã hội cho họ thì lúc đó việc thực thi chính sách QLR dựa vào CĐ mới có được hiệu quả cao. Xuất phát từ bối cảnh trên, tôi đã lựa chọn đề tài: “Đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp quản lý rừng dựa vào cộng đồng trên địa bàn xã Việt Hồng, huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái”, với mong muốn góp phần đẩy mạnh xã hội hóa công tác quản lý tài nguyên rừng trên địa bàn nghiên cứu.
3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Phƣơng thức quản lý tài nguyên rừng dựa vào cộng đồng Cộng đồng được hiểu là những nhóm xã hội cùng chia sẻ một môi trường, trong một phạm vi địa lý nơi họ cùng nhau nỗ lực, chung niềm tin, chung nguồn tài nguyên, cùng có nhu cầu và chịu cùng rủi ro cũng như những điều kiện chung khác tác động đến cuộc sống của họ (Hoàng Thị Thanh Nhàn và Nguyễn Thị Hồng Nhung, 2015). Quản lý tài nguyên rừng dựa vào cộng đồng (QLTNR dựa vào CĐ) là một cách tăng cường sự tham gia của cộng đồng vào quản lý tài nguyên rừng tại địa phương (Vandergeest, 2006). Trên thực tế việc quản lý tài nguyên rừng luôn song hành với quản lý đất rừng và được thể hiện bằng thuật ngữ “rừng và đất rừng sử dụng vào mục đích lâm nghiệp”.
Ở Việt Nam, cộng đồng tham gia vào quản lý rừng và đất rừng dưới ba hình thức (theo Nguyễn Bá Ngãi, 2009) như sau: (1). Cộng đồng tự công nhận và quản lý theo truyền thống từ nhiều đời nay- đây chính là mô hình quản lý rừng cộng đồng (QLRCĐ); (2). Chính quyền địa phương giao cho cộng đồng quản lý, sử dụng ổn định lâu dài; (3). Cộng đồng nhận khoán bảo vệ, khoanh nuôi tái sinh và trồng mới rừng của các tổ chức nhà nước như: lâm trường, ban quản lý rừng đặc dụng và rừng phòng hộ… Tại mỗi quốc gia, địa phương cụ thể; cho dù được tổ chức dưới hình thức nào thì việc quản lý tài nguyên rừng dựa vào cộng đồng vẫn là phương thức đảm bảo mục tiêu phát triển bền vững.
Tuy nhiên, việc hiểu không đúng về “tài sản công cộng” theo thuyết của Garrett Hardin (Hardin, 1968) có thể ảnh hưởng xấu tới các nỗ lực tăng cường quản lý tài nguyên rừng dựa vào cộng đồng. Hardin cho rằng; khi tài nguyên là của cả cộng đồng, không phải của riêng ai; từng cá nhân sẽ tranh thủ khai thác tài nguyên thật nhiều trước khi chúng bị người khác khai thác, dẫn đến tài nguyên bị cạn kiệt nhanh. 4 Thực ra các mối quan hệ xã hội và thể chế cộng đồng là những yếu tố quan trọng hạn chế chủ nghĩa cá nhân và hậu quả của nó đối với việc sử dụng quá mức gây cạn kiệt tài nguyên. Do đó, tốt hơn là tìm hiểu hiện trạng và vai trò của cộng đồng trong quản lý tài nguyên công cộng hơn là việc xây dựng chính sách dựa trên lý thuyết của Hardin về: “thảm họa công cộng”- nghĩa tiếng Việt là: “cha chung không ai khóc”.
Quyền sử dụng rừng và đất rừng là yếu tố quan trọng trong QLTNR dựa vào CĐ. Khi quyền của cộng đồng bị suy giảm và quyền của từng cá nhân riêng rẽ được tăng cường thì việc quản lý tài nguyên theo truyền thống bị ảnh hưởng tiêu cực (Colchester, 1995). Lynch và Alcorn (1994) tranh luận rằng; người dân địa phương có thể quyết định về quản lý sử dụng tài nguyên trên thực tế ngay cả trong trường hợp nhà nước đã công bố quyền sở hữu; mặc dù quyết định của chính phủ có thể làm mất đi động lực quản lý tài nguyên bền vững của cộng đồng. Vì thế cần bảo vệ thể chế, quyền lực chung của cộng đồng, đặc biệt là quyền luật tục; đồng thời cải cách quyền sở hữu đất lâm nghiệp nhằm quản lý bền vững tài nguyên rừng.
Thế nào là mô hình tốt về quản lý rừng dựa vào cộng đồng? Vì sự tham gia của cộng đồng rất đa dạng về cả hình thức và mức độ, nên rất khó để nói mô hình nào về quản lý rừng dựa vào cộng đồng (QLR dựa vào CĐ) ở Việt Nam hay ở quốc gia khác là tốt nhất; vì mỗi mô hình thích ứng cho một cộng đồng cụ thể với những đặc trưng riêng về dân cư, địa lý, thể chế và văn hóa. Để xem xét mức độ thành công của một mô hình QLR dựa vào CĐ, cần phải có các tiêu chí và chỉ số đánh giá cụ thể. Về lý thuyết, những tiêu chí cơ bản để đánh giá một mô hình QLR dựa vào CĐ (theo Apel và cộng sự, 2002) có thể bao gồm: tính hợp lý trong thực hiện, tính hiệu quả (lợi ích thu được) và tính bền vững (duy trì lâu dài). Mỗi tiêu chí lại có các chỉ số cụ thể; các khía cạnh của tính hợp lý trong thực hiện sẽ có: chỉ số vận hành (phối hợp tham gia của cộng đồng), chỉ số tài chính 5 (đóng góp của cộng đồng, chi phí vận hành), và các chỉ số về thể chế (điều lệ và quy định vận hành).
Về tính hiệu quả, cần đánh giá các tác động của mô hình về kinh tế (lợi ích tài chính của cộng đồng), xã hội (tạo việc làm, nâng cao năng lực) và môi trường (tăng diện tích và chất lượng rừng). Về tính bền vững, cần chú ý rằng; mô hình tổ chức cùng những hiệu quả mang lại từ mô hình đã quan trọng, nhưng quan trọng hơn chính là “luật chơi” - hay cơ chế chia sẻ lợi ích đang áp dụng có làm hài lòng các bên liên quan không? Đặc biệt “luật chơi” đó có phù hợp với bối cảnh trong tương lai? 1. Bài học thực tiễn trong quản lý tài nguyên rừng dựa vào cộng đồng Quản lý tài nguyên rừng dựa vào cộng đồng đã và đang được định hướng áp dụng bởi nhiều quốc gia trên thế giới với những đặc trưng khác nhau. Do đó, việc nghiên cứu, so sánh, đánh giá thành công hay thất bại phải dựa trên các điều kiện đặc trưng cụ thể của từng địa phương.
Kết quả phân tích của Roberts và Gautam (2003) khi nghiên cứu về những kinh nghiệm của nhiều nước trên các châu lục khác nhau đã chỉ ra rằng, sự thành công của lâm nghiệp cộng đồng phụ thuộc vào việc có hay không: Rừng cộng đồng mang lại những giá trị cho cộng đồng; Hướng đến mục tiêu của cộng đồng; Mang lại lợi ích cho cộng đồng. Trong đó, cải cách hợp pháp, nhận thức, quan niệm của cộng đồng, công bằng, minh bạch và giải trình là những vấn đề cốt lõi cần được quan tâm. Ở Việt Nam, thực tiễn cũng cho thấy, do tính đa dạng của các cộng đồng nên không thể có một mô hình lâm nghiệp cộng đồng chung mà cần có loại hình lâm nghiệp cộng đồng khác nhau, phù hợp với từng điều kiện cụ thể. Theo những tổng kết và đánh giá của Nguyễn Bá Ngãi (2009), mặc dù các loại hình rừng cộng đồng hình thành từ các nguồn gốc khác nhau nhưng đều được 3 chủ thể chính quản lý là cộng đồng dân cư thôn, dòng tộc và nhóm hộ hoặc nhóm sở thích.
Trong đó hình thức cộng đồng dân cư thôn và dòng tộc thường ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, còn hình thức 6 nhóm hộ hoặc nhóm sở thích thường ở những vùng có sản xuất và thị trường phát triển, trình độ sản xuất của nông hộ cao và khả năng đầu tư lớn.