ĐẶT VẤN ĐỀ Sau công cuộc cách mạng công nghiệp nền kinh tế thế giới như được thay da đổi thịt với tốc độ tăng trưởng kinh tế thần kì của nhiều nước. Nhưng mọi vấn đề đều luôn có mặt trái của nó. con người đã phá hỏng sự cân bằng của trái đất. Nguyên nhân nào làm cho môi trường sinh thái bị ô nhiễm và bị tàn phá.
Thực trạng của vấn đề này và một số giải phát dưới con mắt của triết học cho vấn đề thực sự đang rất nóng này. Trên hành tinh Xanh của chúng ta, ở đâu ta cũng dễ dàng nhận thấy dấu hiệu của sự ô nhiễm môi trường: từ những biến đổi của khí hậu khiến thời tiết trở nên khắc nghiệt bất thường, những cơn mưa axit phá hủy các công trình kiến trúc có giá trị, gây tổn thương hệ sinh thái, đến sự suy giảm tầng ôzôn khiến tăng cường bức xạ tia cực tím… Chúng ta đang phải đối mặt với 3 vấn đề phổ biến đó là sự nóng lên của Trái Đất, sự ô nhiễm biển và đại dương cùng với sự hoang mạc hóa. Nhiệt độ trung bình của Trái Đất hiện nay nóng hơn gần 40 độ C so với nhiệt độ trong kỷ băng hà gần nhất, khoảng 13. Tuy nhiên trong vòng 100 năm qua, nhiệt độ trung bình bề mặt Trái Đất tăng khoảng 0, 6-0, 7 độ C và dự báo sẽ tăng 1, 4-5, 8 độ C trong 100 năm tới.
Cũng như các quốc gia khác, vấn đề ô nhiễm môi trường cũng là nỗi lo ngại lớn ở Nhật Bản. Quá trình công nghiệp hóa làm cho môi trường bị ảnh hưởng. Ở Nhật Bản, vấn đề ô nhiểm môi trường xuất hiện từ thời Minh Trị, tiêu biểu là vụ nhiễm độc đồng do nước thải từ mỏ đồng Ashio thuộc tỉnh Tochigi năm 1878. Các ngành dệt may, giấy và bột giấy phát triển gây ô nhiễm nguồn nước.
Than được sử dụng làm nhiên liệu chính trong các nhà máy công nghiệp gây ô nhiễm không khí. Sau thế chiến thứ 2, Nhật Bản phát Luan van 2 triển mạnh điều đó khiến cho môi trường Nhật Bản bị ô nhiễm nặng nề và đứng hàng đầu thế giới. Nhật Bản bắt đầu xử lý rác thải đô thị bằng cách đốt rác vào năm 1960 nhưng quy trình này lại thải ra lượng khí độc hại lớn. Vào thập niên 1990, hàm lượng chất dioxin trong không khí ở một số nơi tại Nhật Bản lên cao mức kỷ lục do hoạt động đốt rác.
Trong khi đó, nhiều người dân vứt rác bừa bãi ở các bãi rác tự phát. Mọi thứ bắt đầu thay đổi vào năm 1993 khi Nhật Bản ban hành Luật Môi trường cơ bản. Sau đó, nhiều luật khác cũng được thông qua để giúp tạo ra một khung tổng thể cho một hệ thống quản lý rác thải mới nhưng cách triển khai cụ thể hệ thống này được giao cho các chính quyền địa phương. Câu chuyện thành công của hệ thống quản lý rác thải của Nhật Bản bắt đầu với việc thu gom rác từ các hộ gia đình ở các thành phố.
Đường phố ở các thành phố lớn Nhật Bản đều có các bảng dựng ven đường ghi chi tiết kế hoạch thu gom rác hàng tuần cũng như các biểu tượng nhiều màu sắc để minh họa cho các quy định phải thực hiện trong vấn đề rác thải. Các thành phố thường phát hành các cuốn cẩm nang về xử lý rác thải có thể dài đến 30 trang. Các hộ gia đình và các công ty được yêu cầu phải phân loại rác theo nhiều nhóm rác khác nhau. Xuất phát từ thực trạng trên, để biết được công tác xử lý rác thải tại Nhật Bản và được sự đồng ý, nhất trí của ban giám hiệu nhà trường, ban chủ nhiệm khoa Quản lý tài nguyên trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên và với sự hướng dẫn của thầy giáo ThS.
Nguyễn Đình Thi và công ty MT - nhằm góp phần giảm thiểu ô nhiễm môi trường do các tác nhân, hoạt động gây ra, em tiến hành thực hiện đề tài: “Đánh giá quá trình sản xuất và công tác quản lý rác thải tại công ty cổ phần MT, thành phố Nagoya, tỉnh Aichi, Nhật Bản”.2 Mục tiêu nghiên cứu - Khái quát tình hình chung tại đất nước Nhật Bản. Đánh giá tình hình sản xuất, đóng gói và tiêu thụ các sản phẩm rau, củ, quả tại công ty cổ phần MT thành phố Nagoya tỉnh Aichi. Đánh giá công tác quản lý và xử lý rác thải tại công ty cổ phần MT thành phố Nagoya tỉnh Aichi. - Thuận lợi, khó khăn, bài học kinh nghiệm.
Ý nghĩa của đề tài 1.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học - Nâng cao kiến thức, kĩ năng và rút ra nhiều kinh nghiệm thực tế phục vụ cho công tác sau này. - Vận dụng và phát huy các kiến thức đã học tập và nghiên cứu 1.2 Ý nghĩa trong thực tiễn - Đưa ra được các đánh giá chung nhất về công tác quản lý rác thải tại công ty cổ phần MT thành phố Nagoya tỉnh Aichi, từ đó rút ra những nhận xét, kết luận làm cơ sở cho các biện pháp quản lý, bảo vệ môi trường, những định hướng xây dựng phù hợp và đảm bảo sự cân bằng giữa phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường. - Nâng cao nhận thức của người dân về vấn đề bảo vệ môi trường làm cơ sở lý thuyết cho các nhà quản lý, các nhà đầu tư và nghiên cứu. - Sử dụng hiệu quả và tối đa các tài nguyên.
- Hiểu rõ các tác động của hoạt động sản xuất, kinh doanh đến môi trường. Luan van 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Tổng quan về đất nước Nhật Bản 2. Vị trí địa lý Nhật Bản có vị trí nằm ở phía Đông của châu Á, phía Tây của Thái Bình Dương.
Phần chính của Nhật Bản được cấu thành từ bốn đảo lớn là Hokkaido, Honshu, Shikoku và Kyushu.944 km², đứng hàng 62 trên thế giới. ・Biển của Nhật Bản có tổng chiều dài là 33. Nhật Bản là một đảo quốc hoàn toàn không tiếp giáp với quốc gia hay lãnh thổ nào trên đất liền. Tuy nhiên, bán đảo Triều Tiên và bán đảo Sakhalin (Nhật Bản gọi là Karafuto) chỉ cách các đảo chính của Nhật Bản vài chục km.
Xung quanh Nhật Bản là một loạt các biển thông nhau. + Phía Đông và phía Nam: Thái Bình Dương. + Phía Tây Bắc: biển Nhật Bản. + Phía Tây: biển Đông Hải.
+ Phía Đông Bắc: biển Okhotsk. + Vùng biển xung quanh các quần đảo Izu, Ogasawara, Nansei: biển Philippines theo cách gọi của thế giới, song các văn kiện của chính phủ Nhật Bản vẫn chỉ gọi đó là Thái Bình Dương. + Vùng biển nằm giữa Honshu và Shikoku gọi là biển Seito Naikai. Các quần đảo của Nhật Bản hình thành do các đợt vận động tạo núi và có từ cách đây lâu nhất là 2,4 triệu năm nên xét về mặt địa chất học, như vậy là rất trẻ.
Do đó, Nhật Bản có đặc trưng tự nhiên là nhiều núi lửa và động đất. Luan van 5 Mỗi năm Nhật Bản chịu khoảng 1.000 trận động đất. Các hoạt động địa chấn này đặc biệt tập trung vào vùng Kanto. Động đất cấp 3, 4 xảy ra thường xuyên và cấp 7 - 8 cũng đã từng xảy ra.
Động đất là mối đe dọa lớn nhất đối với Nhật Bản nên chính phủ Nhật mỗi năm đã phải bỏ ra hàng tỉ Yên Nhật để tìm kiếm một hệ thống báo động sớm về động đất, và khoa học địa chấn tại Nhật Bản được coi là tiến bộ nhất trên thế giới. Nhật Bản có 186 núi lửa còn hoạt động trong đó có núi Phú Sĩ. Đi kèm với núi lửa là các suối nước nóng cũng có rất nhiều ở Nhật Bản. - Nơi cao nhất Nhật Bản: núi Phú Sĩ (cao 3.776m) - Thấp nhất Nhật Bản: Hachinohe mine (sâu 160m do nhân tạo) và hồ Hachirogata (sâu 4m một cách tự nhiên).
Lịch sử hình thành Thời phong kiến: Kamakura Bắt đầu từ năm 1185, kết thúc năm 1333. Thời kỳ này nông nghiệp được phát triển nhờ sử dụng sức của động vật. Thu hoạch vụ mùa nửa năm một lần. Phật giáo Jodo phát triển.
Giáo phái Thiền tông du nhập từ Trung Quốc sang. Thời kỳ phong kiến: Tân chính kemmu Bắt đầu từ năm 1336, kết thúc năm 1392 Đây là giai đoạn tê liệt của triều đình do Ashikaga Takauji thành lập ở Kyoto. Nam triều do Thiên hoàng Hậu Đề Hồ cai trị đầu tiên ở Yoshino. Giữa hai triều đình liên tục nổ ra những cuộc chiến nhằm duy trì và củng cố quyền lực, về sau Nam triều thất bại.
Thời kỳ phong kiến: Muromachi Bắt đầu từ thế kỷ XVII, kết thúc thế kỷ XVIII, thời kỳ này chế độ Mạc phủ Ashikaga bắt đầu với việc hai triều đình Bắc – Nam hợp nhấ. Chế độ Mạc phủ này cuối cùng hoàn toàn được thừa nhận. Thời kỳ phong kiến: Sengoku Luan van 6 Bắt đầu từ năm 1493 và kết thúc năm 1573. Đây là thời kỳ mà Nhật Bản bất ổn định về chính trị nhất, nhen nhóm cho nhiều cuộc chiến tranh.
Thời kỳ phong kiến: Azuchi Bắt đầu từ năm 1573 và kết thúc năm 1603. Lúc này đất nước Nhật Bản đã được thống nhất nhờ công của hai nhà quân sư lỗi lạc Oda Nobunaga và Toyotomi Hideyoshi. Lúc này, những người châu Âu đầu tiên đã đến Nhật Bản, mang theo súng ống và Ki-tô giáo. Giao thương với nước ngoài bắt đầu được hình thành.
Vì thấy tham vọng của người châu âu quá lớn nên Nhật Bản sau này đã trục suất hết. Thời kỳ hiện đại hóa: Edo Bắt đầu từ năm 1603 đến năm 1868, thời kỳ edo bao gồm các thời kỳ. – Sơ kỳ Edo ( bắt đầu năm 1603 và kết thúc ở thế kỷ 18) bộ luật cho các gia đình quý tộc được hợp pháp, tạo điều kiện cho chế độ Mạc phủ kiểm soát triều đình và Thiên hoàng. Mối quan hệ chủ-tớ phong kiến được thiết lập.
– Trung kỳ Edo. Chế độ Mạc phủ gặp phải những khó khăn tài chính, samurai và nông dân rơi vào cảnh nghèo khó. Nhiều nỗ lực nhằm cải cách chế độ mạc phủ nhưng vẫn không thành công. Chế độ mạc phủ kết thúc.
– Hậu kỳ Edo ( bắt đầu từ thế kỷ 19 đến năm 1868). Các nước phương Tây bắt đầu có những bước đi để thâm nhập và đoạt quyền ở Nhật Bản. Nhiều hiệp định, ký kết đã được ký. Thời kỳ Heisei bắt dầu năm 1989.
Nhật Bản bước vào kỷ nguyên hậu hiện đại. Chiến tranh vùng Vịnh, hoạt động chính trị bị hỗn loạn. Đây là thời kỳ ghi dấu bởi những giai đoạn trì trệ kinh tế và những bước hồi phục chậm chạp.