ĐẶT VẤN ĐỀ Đất đai là nguồn tư liệu sản xuất đặc biệt, là điều kiện vật chất chung nhất với mọi ngành sản xuất và mọi hoạt động của con người. Chúng vừa là đối tượng lao động vừa là phương tiện lao động của con người. Đất đai là nguồn tài nguyên không tái tạo, trong lịch sử phát triển loài người dân số không ngừng tăng lên. Nhưng đất đai thì không tăng lên thậm chí còn giảm đi do sự sa mạc hóa, thoái hóa đất, quá trình bào mòn rửa trôi hay xâm thực mặn.
Nước ta có diện tích tự nhiên của nước ta 33 triệu ha, xếp thứ 59 trong 200 quốc gia và vùng lãnh thổ. Nhưng dân số của nước ta đứng thứ 13 trên thế giới thuộc vào tốp các nước đông dân trên thế giới. Bình quân diện tích trên người thấp khoảng 0,43ha/người bằng 1/7 so với thế giới. Thực tế trên cho thấy nhiệm vụ cấp thiết đặt ra lúc này là phải quản lý tốt đất đai, nắm chắc và quản chặt quỹ đất để sử dụng một cách hợp lý và hiệu quả đất đai.
Nhận thức được điều này nhà nước ta đã xây dựng một hệ thống quản lý đất đai từ trung ương đến địa phương để thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về đất đai theo hiến pháp và pháp luật mà Đảng và nhân dân đã giao phó. Tuy nhiên trong quá trình thực hiện còn nhiều khó khăn và bất cập đặc biệt là cấp cơ sở ở các xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã). Do đó cần phải đánh giá công tác quản lý đất đai ở địa phương để tìm ra điểm mạnh, yếu, những khó khăn, những bất cập và những thành tích trong quản lý n 2 nhà nước về đất đai cấp cơ sở. Để từ đó rút kinh nghiệm, khắc phục nhược điểm và phát huy các thành tích đã đạt được.
Thị trấn Sa Pa, huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai là một thị trấn du lịch, thu hút nhiều người, nhiều đầu tư vào dịch vụ. Do đó nhu cầu sử dụng đất phục vụ du lịch, sản xuất cũng như đời sống của người dân địa phương là cao. Từ đây đòi hỏi phải quản lý đất đai thật tốt, sử dụng quỹ đất hợp lý để phát triển bền vững. Xuất phát từ những luận điểm trên và được sự đồng ý của khoa quản lý tài nguyên cũng như sự hướng dẫn tận tình của thầy giáo PGS.TS Nguyễn Khắc Thái Sơn, em thực hiện đề tài “Đánh giá công tác quản lý đất đai tại thị trấn Sa Pa, huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai giai đoạn 2011 đến 2013”.2 MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Mục tiêu tổng quát - Nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước về đất đai trên địa bàn thị trấn Sa Pa, huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai.2 Mục tiêu cụ thể: - Đánh giá ảnh hưởng của tình hình cơ bản thị trấn Sa Pa đến công tác quản lý đất đai; - Đối chiếu thực tế công tác quản lý đất đai với 13 nội dung quản lý nhà nước về đất đai trong luật đất đai 2003; - Các kết quả đạt được, tồn tại trong công tác quản lý nhà nước về đất đai trong giai đoạn nghiên cứu, qua đó đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước về đất đai tại thị trấn Sa Pa, huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai trong giai đoạn tiếp theo.3 Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI - Tuyên truyền sâu rộng tới từng hộ dân trong toàn thị trấn quyền, lợi ích và nghĩa vụ trong Luật đất đai.
n 3 - Tăng cường hơn nữa trong việc thực hiện các nội dung quản lý nhà nước về đất đai trong Luật đất đai. Đánh giá được công tác quản lý nhà nước về đất đai tại địa phương từ đó đưa ra những kiến nghị để công tác quản lý nhà nước về đất đai được hoàn thiện hơn. - Củng cố những kiến thức đã học và bước đầu làm quen với công tác quản lý nhà nước về đất đai ngoài thực tế theo phương châm “học đi đôi với hành, lý luận đi đôi với thực tiễn” của Bác Hồ vĩ đại. n 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 2.
CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 2.1 Khái niệm về đất đai và quản lý đất đai - Khái niệm về đất đai “Đất đai” về mặt thuật ngữ khoa học được hiểu theo nghĩa rộng như sau: “Đất đai là một diện tích cụ thể của bề mặt trái đất, bao gồm tất cả các cấu thành của môi trường sinh thái ngay trên và dưới bề mặt đó bao gồm: khí hậu bề mặt, thổ nhưỡng, dạng địa hình, mặt nước (hồ, sông, suối, đầm lầy…), các lớp trầm tích sát bề mặt cùng với nước ngầm và khoáng sản trong lòng đất, tập đoàn thực vật và động vật, trạng thái định cư của con người, những kết quả của con người trong quá khứ và hiện tại để lại (sau nền, hồ chứa nước hay hệ thống tiêu thoát nước, đường xá, nhà cửa,…)”. Như vậy, “đất đai” là một khoảng không gian có giới hạn, theo chiều thẳng đứng (gồm khí hậu của bầu khí quyển, lớp đất phủ bề mặt, thảm thực vật, động vật, diện tích mặt nước, tài nguyên nước ngầm và khoáng sản trong lòng đất), theo chiều nằm ngang - trên mặt đất (là sự kết hợp giữa thổ nhưỡng, địa hình, thủy văn, thảm thực vật cùng với các ngành khác) giữ vai trò quan trọng và có ý nghĩa to lớn đối với hoạt động sản xuất cũng như cuộc sống của xã hội loài người. - Khái niệm về quản lý đất đai Quản lý nhà nước về đất đai là tổng hợp các hoạt động của cơ quan nhà nước có thẩm quyền để thực hiện và bảo vệ quyền sở hữu của nhà nước với đất đai; đó là các hoạt động nắm chắc tình hình sử dụng đất; phân phối và n 5 phân phối lại quỹ đất đai theo quy hoạch, kế hoạch; kiểm tra giám sát quá trình quản lý và sử dụng đất; điều tiết các nguồn lợi từ đất đai [7].2 Mục đích, yêu cầu của công tác quản lý nhà nước về đất đai Quàn lý nhà nước về đất đai nhằm mục đích: - Bảo vệ quyền sở hữu của nhà nước đối với đất đai, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất; - Đảm bảo sử dụng hợp lý quỹ đất đai của quốc gia; - Tăng cường hiệu quả sử dụng đất; - Bảo vệ, cải tạo đất, bảo vệ môi trường. Yêu cầu của công tác quản lý nhà nước về đất đai là phải đăng ký, thống kê đất đai đầy đủ theo đúng quy định của pháp luật đất đai ở từng địa phương theo các cấp hành chính [7].3 Nguyên tắc của quản lý nhà nước về đất đai Đảm bảo sự quản lý tập trung và thống nhất của nhà nước; Đảm bảo sự kết hợp hài hòa giữa quyền sở hữu đất đai và quyền sử dụng đất, giữa lợi ích của nhà nước và lợi ích của người trực tiếp sử dụng; Tiết kiệm và hiệu quả [7].4 Các phương pháp quản lý nhà nước về đất đai Phương pháp thu thập thông tin về đất đai: phương pháp toán học, phương pháp điều tra xã hội học, phương pháp thống kê.
Các phương pháp tác động đến con người trong quản lý đất đai: phương pháp kinh tế; phương pháp tuyên truyền, giáo dục [7].5 Công cụ quản lý nhà nước về đất đai Công cụ pháp luật; Công cụ quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai; Công cụ tài chính [7].6 Các nội dung quản lý nhà nước về đất đai Các nội dung quản lý nhà nước về đất đai được quy định tại khoản 2 điều 6 luật đất đai 2003 như sau: “a) Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai và tổ chức thực hiện các văn bản đó; b) Xác định địa giới hành chính, lập và quản lý hồ sơ địa giới hành chính, lập bản đồ hành chính; c) Khảo sát, đo đạc, đánh giá, phân hạng đất; lập bản đồ địa chính, bản đồ hiện trạng sử dụng đất và bản đồ quy hoạch sử dụng đất; d) Quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; đ) Quản lý việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng đất; e) Đăng ký quyền sử dụng đất, lập và quản lý hồ sơ địa chính, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản gắn liền với đất; g) Thống kê, kiểm kê đất đai; h) Quản lý tài chính về đất đai; i) Quản lý và phát triển thị trường quyền sử dụng đất trong thị trường bất động sản; k) Quản lý, giám sát việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất; l) Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành các quy định của pháp luật về đất đai và xử lý vi phạm pháp luật về đất đai; m) Giải quyết tranh chấp về đất đai; giải quyết khiếu nại, tố cáo các vi phạm trong việc quản lý và sử dụng đất đai; n) Quản lý các hoạt động dịch vụ công về đất đai.7 Các nhân tố tác động đến việc sử dụng đất - Con người: Là nhân tố chi phối chủ yếu trong quá trình sử dụng đất. Đối với đất nông nghiệp thì con người có vai trò rất quan trọng tác động đến đất làm tăng độ phì của đất. n 7 - Điều kiện tự nhiên: Việc sử dụng phù hợp với điều kiện tự nhiên của vùng như: địa hình, thổ nhưỡng, ánh sáng, lượng mưa… Do đó chúng ta phải xem xét điều kiện tự nhiên của mỗi vùng để có biện pháp bố trí sử dụng đất phù hợp. - Nhân tố kinh tế xã hội: Bao gồm chế độ xã hội, dân số, lao động, chính sách đất đai, cơ cấu kinh tế,… Đây là nhóm nhân tố chủ đạo và có ý nghĩa đối với việc sử dụng đất bởi vì phương hướng sử dụng đất thường được quyết định bởi yêu cầu xã hội và mục tiêu kinh tế trong từng thời kỳ nhất định, điều kiện kỹ thuật hiện có, tính khả thi, tính hợp lý, nhu cầu của thị trường.
- Nhân tố không gian: Đây là một trong những nhân tố hạn chế của việc sử dụng đất mà nguyên nhân là do vị trí và không gian của đất không thay đổi trong quá trình sử dụng đất. Trong khi đất đai là điều kiện không gian cho mọi hoạt động sản xuất mà tài nguyên đất thì lại có hạn; bởi vậy đây là nhân tố hạn chế lớn nhất đối với việc sử dụng đất. Vì vậy, trong quá trình sử dụng đất phải biết tiết kiệm, hợp lý, hiệu quả, đảm bảo phát triển tài nguyên đất bền vững.