PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Giáo dục thể chất (GDTC) trong các trường Đại học, Cao đẳng, Trung học chuyên nghiệp là một mặt giáo dục quan trọng không thể thiếu được trong sự nghiệp giáo dục và đào tạo, góp phần thực hiện mục tiêu: “Nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân lực, đào tạo nhân tài” cho đất nước.[3] Đảng và nhà nước luôn luôn nhất quán về mục tiêu công tác GDTC và thể thao trường học là nhằm góp phần thực hiện mục tiêu đào tạo đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật, quản lý kinh tế và văn hoá xã hội, phát triển hài hoà, có thể chất cường tráng, đáp ứng yêu cầu chuyên môn, nghề nghiệp và có khả năng tiếp cận với thực tiễn lao động sản xuất của nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII về Giáo dục - Đào tạo và khoa học công nghệ đã khẳng định: “Giáo dục và đào tạo phải cùng với khoa học và công nghệ thực sự trở thành quốc sách hàng đầu.” Muốn xây dựng đất nước giàu mạnh, văn minh phải có con người phát triển toàn diện. Không chỉ phát triển về trí tuệ, trong sáng về đạo đức và lối sống mà còn phải là con người cường tráng về thể chất.
Quán triệt được vấn đề này trong nhiều năm qua Bộ Giáo dục Đào tạo đã chú trọng cải tiến nội dung, phương pháp giảng dạy nhằm phát triển thể lực nâng cao chất lượng GDTC trong nhà trường các cấp, xây dựng qui hoạch phát triển và kế hoạch đổi mới công tác GDTC và thể thao học đường. Việc nghiên cứu thực trạng phát triển thể lực của sinh viên ở mỗi cơ sở đào tạo là một vấn đề cấp thiết, đánh giá đúng thực trạng phát triển thể lực của sinh viên sẽ giúp các nhà sư phạm xác định hiệu quả của chương trình đào tạo, các phương pháp giảng dạy. Mặt khác trên cơ sở đó các nhà khoa học có cơ sở để lựa chọn các giải pháp thích hợp nâng cao thể lực sinh viên nói riêng, hiệu quả của quá trình GDTC nói chung. 2 Nghiên cứu về thể lực của sinh viên, chất lượng GDTC trong các trường Cao đẳng, Đại học và Trung học Chuyên nghiệp là một vấn đề thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu.
Trong những năm gần đây, có thể kể đến các công trình nghiên cứu của tác giả: Ma Đức Tuấn, Nguyễn Duy Nam (2013) với đề tài: “Nghiên cứu ứng dụng bàì tập Aerobic vào giờ học ngoại khóa TDTT nhằm nâng cao thể lực cho nữ sinh trường Đại học sư phạm, Đại học Thái Nguyên”, Lương Thị Ánh Ngọc, Nguyễn Văn Nhượng (2014) với kết quả nghiên cứu: “Sự biến đổi về thể lực của nam SV năm thứ nhất Học viện Hải quân Nha Trang sau ba tháng tập luyện chương trình ngoại khóa môn bóng chuyền”, Tại Trường Đại học Hải Phòng đã có các nghiên cứu của Nguyễn Văn Tuấn (2016) với đề tài “Diễn biến thể lực của sinh viên khối sư phạm Trường Đại học Hải Phòng”, Phạm Kim Huệ (2016) với đề tài “Xây dựng hệ thống bài tập bổ trợ chuyên môn trong quá trình giảng dạy môn học chạy 100m cho sinh viên năm thứ hai khối không chuyên Trường Đại học Hải Phòng, Nguyễn Hữu Toán (2019) với đề tài “Lựa chọn các biện pháp phát triển thể lực chung cho sinh viên Trường Đại học Hải Phòng”… Trường đại học Hải Phòng là một trường thuộc khu vực Duyên hải Bắc bộ đào tạo đa ngành, trong đó có khối ngành công nghệ thông tin thuộc khoa CNTT và các ngành thuộc khoa Điện cơ (điện công nghiệp và dân dụng, điện tự động công nghiệp, công nghệ chế tạo máy, công nghệ KT Cơ- điện tử). Hai khoa này có số lượng nam sinh viên chiếm đa số và chiếm phần lớn số nam SV của trường. Vì vậy, việc đánh giá thực trạng thể chất của nam sinh viên khoa CNTT và khoa Điện cơ là đánh giá thể lực của nam sinh viên Trường Đại học Hải Phòng. Kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở để xây dựng và lựa chọn các biện pháp ứng dụng nhằm nâng cao thể lực sinh viên.
Vì những lý do trên, chúng tôi tiến hành đề tài: “Đánh giá mức độ phát triển thể lực chung của nam sinh viên Khoa Công nghệ thông tin và Khoa Điện cơ sau một năm học tập tại Trường Đại học Hải Phòng ”. Mục tiêu nghiên cứu Đề tài đặt ra 2 mục tiêu: Mục tiêu 1: Đánh giá thực trạng thể lực chung của nam sinh viên năm thứ nhất Khoa CNTT và Khoa Điện cơ. Mục tiêu 2: Đánh giá mức độ phát triển thể lực chung của SV khoa CNTT và khoa Điện cơ sau một năm học tập, từ đó làm cơ sở đề xuất các biện pháp nâng cao thể lực của sinh viên. Đối tƣợng và khách thể nghiên cứu - Đối tượng nghiên cứu: Các chỉ số đánh giá thể lực của sinh viên.
- Khách thể nghiên cứu: Sinh viên K23 khoa CNTT và khoa Điện cơ Trường Đại học Hải Phòng 4. Giả thuyết khoa học Giả thuyết được đặt ra là đề tài đánh giá đúng thực trạng và mức độ phát triển thể lực chung của sinh viên sau 1 năm học tập, so sánh mức độ phát triển thể lực của sinh viên giữa hai khoa, xác định được những điểm tồn tại từ đó có cơ sở đề xuất biện pháp tác động để phát triển toàn diện thể lực cho sinh viên, nâng cao hiệu quả công tác GDTC. Phạm vi nghiên cứu - Các yếu tố ảnh hưởng đến thể lực chung của sinh viên - Đánh giá thực trạng thể lực sinh nam viên năm thứ nhất khoa Điện cơ và khoa CNTT, so sánh các chỉ số thể lực của sinh viên năm thứ nhất với mức trung bình về thể chất của người Việt Nam cùng độ tuổi, cùng giới (người VN tuổi 18); - Thực trạng thể lực sinh viên năm thứ hai, so sánh các chỉ số thể lực của sinh viên ở thời điểm năm thứ hai (số liệu tháng 9/2023) với mức trung bình của người Viêt Nam cùng độ tuổi, cùng giới (người VN tuổi 19); - So sánh các chỉ số thể lực của sinh viên (thời điểm – SV năm thứ 2), với Tiêu chuẩn đánh giá thể lực (TCĐGTL) của Bộ GD-ĐT. - So sánh mức độ tăng trưởng của nam sinh viên sau 1 năm học tập.
Phƣơng pháp nghiên cứu Để giải quyết các mục tiêu nghiên cứu đặt ra, đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau: 6. Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu Đây là phương pháp được sử dụng trong suốt quá trình nghiên cứu. Phân tích và tổng hợp các tài liệu có liên quan còn là cơ sở để giúp chúng tôi lựa chọn các phương pháp nghiên cứu và bàn luận kết quả nghiên cứu. Trong đề tài đã tiến hành tham khảo tài liệu bao gồm: các văn kiện của Đảng và Nhà nước về TDTT, các chỉ thị, thông tư, các chế độ chính sách đối với TDTT, các hồ sơ lưu trữ về TDTT, một số luận văn, luận án, tài liệu khoa học và các kết quả nghiên cứu của các tác giả, các nhà khoa học trong và ngoài nước.
Phương pháp quan sát sư phạm Phương pháp quan sát sư phạm được sử dụng trong quá trình nghiên cứu nhằm thu thập thông tin về các mặt hành vi, thái độ học tập của sinh viên trong các giờ học nội khoá và hoạt động ngoại khoá TDTT. Quan sát quá trình dạy học, giáo dục của giảng viên TDTT. Các thông tin thu được từ phương pháp này sẽ được sử dụng để lập luận, đánh giá thực trạng thể lực và các yếu tố ảnh hưởng đến thể lực sinh viên. Phương pháp phỏng vấn Sử dụng phương pháp phỏng vấn gián tiếp với đối tượng lựa chọn nhằm thu thập các thông tin nghiên cứu.
Các lĩnh vực mà đề tài quan tâm là: Nhận thức về vai trò và vị trí của GDTC trong rèn luyện sức khỏe của sinh viên; động cơ, hứng thú tập luyện; các môn thể thao sinh viên yêu thích và lựa chọn, sự tham gia tập luyện ngoại khóa của SV. Đối tượng phỏng vấn là sinh viên Trường Đại học Hải Phòng. Phương pháp kiểm tra sư phạm Để đánh giá thực trạng thể lực sinh viên trường trường Đại học Hải Phòng, đề tài sử dụng các Test, phương tiện và phương pháp Điều tra thể chất 5 người Việt Nam từ 6 - 20 tuổi (2001), do Viện Khoa học TDTT chuyển giao và hỗ trợ [12].1 Các nội dung kiểm tra - Lực bóp tay thuận (kg), để đánh giá sức mạnh tối đa của tay thuận. - Bật xa tại chỗ (cm), để đánh giá sức mạnh tốc độ của chân.
- Nằm ngửa gập bụng (lần/30giây), để đánh giá sức mạnh bền. - Chạy 30 mét xuất phát cao (giây), để đánh giá sức nhanh. - Chạy con thoi 4 x10 mét (giây), để đánh giá năng lực phối hợp vận động. - Chạy tuỳ sức 5 phút (m), để đánh giá sức bền chung.
Phương pháp kiểm tra - Lực bóp tay thuận (kg) Mục đích: dùng để đánh giá sức mạnh tối đa. Cách tiến hành: Đối tượng điều tra đứng hai chân rộng bằng vai, tay thuận cầm lực kế đưa thẳng chếch sang bên, tạo thành góc 450 so với trục dọc cơ thể, đồng hồ của lực kế hướng vào lòng bàn tay, các ngón tay ôm chặt thân lực kế. Tay còn lại duỗi thẳng tự nhiên, song song với thân người. Khi bóp, dùng hết sức của bàn tay bóp vào lực kế.
Bóp đều và gắng sức liên tục trong 2 giây. Không được bóp giật cục hay thêm các động tác trợ giúp của thân người, hoặc các động tác thừa. Đối tượng điều tra bóp hai lần, nghỉ giữa 15 giây. Điều tra viên xác định kết quả lần cao nhất rồi ghi vào biên bản kiểm tra.
Thành tích được tính bằng kg. - Bật xa tại chỗ (cm) Mục đích: dùng để đánh giá sức mạnh tốc độ. Yêu cầu về sân tập, dụng cụ: Đối tượng điều tra thực hiện bật xa tại chỗ trên thảm cao su. Trên thảm đặt thước đo chiều dài bật xa.
Thước đo là một thanh hợp kim dài 3m, rộng 3cm, có chia độ tới từng milimét. Kẻ vạch xuất phát, mốc 0 của thước chạm vạch xuất phát. 6 Đối tượng điều tra đứng ở tư thế chuẩn bị, ngón chân đặt sát mép vạch xuất phát, hai tay giơ lên cao, hạ thấp trọng tâm, gấp khớp khuỷu, gập thân, hơi lao người về phía trước, đầu hơi cúi, hai tay hạ xuống dưới, ra sau (giống tư thế xuất phát trong bơi), phối hợi duỗi thân, chân bật mạnh về trước đồng thời hai tay cũng vung mạnh ra trước. Khi bật nhảy và khi tiếp đất (sàn) hai chân tiến hành đồng thời cùng lúc.