CHƯƠNG 1 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI VÙNG NGHIÊN CỨU 1.1 Vị trí địa lý. Vùng nghiên cứu bao gồm diện tích huyện Qùy Hợp và một phần nhỏ diện tích của huyện Thái Hòa nằm ở phía Tây bắc của tỉnh Nghệ An. Từ ngã ba Xăng Lẻ trên đường 48 rẽ về hướng tây, tây nam khoảng 13km là đến vùng nghiên cứu. Diện tích nghiên cứu khoảng 160km2 giới hạn bởi các điểm có tọa độ sau ( hình 1.1 ): A: 105007’59’’ Kinh độ đông, 19022’19’’ Vĩ độ bắc; B: 105017’08’’ Kinh độ đông, 19022’19’’ Vĩ độ bắc; C: 105017’08’’ Kinh độ đông, 19016’53’’ Vĩ độ bắc; D: 105007’59’’ Kinh độ đông, 19016’53’’ Vĩ độ bắc; Huyện Qùy Hợp Hình 1.1: Sơ đồ vị trí vùng nghiên cứu.
Đặc điểm địa hình, địa mạo Trong phạm vi vùng nghiên cứu bao gồm các dạng địa hình thung lũng, bãi bồi thấp theo các dòng chảy phân bố trong các thung lũng sâu giữ núi, ven theo các dòng chảy của các sông, suối lớn trong vùng. Thành tạo nên dạng địa hình này là các trầm tích bở rời của Đệ tứ có nguồn gốc sông (aQ) với thành phần trầm tích gồm: cát, cát lẫn sạn sỏi. Ở ven các dòng SV: Phạm Đình Hải 4 Lớp: ĐCTV – ĐCCT A – K59 Đồ án tốt nghiệp Trường Đại học Mỏ - Địa chất chảy tạo nên các bãi bồi, về mùa mưa lũ thường bị ngập lụt. Tùy theo vị trí mà các bãi bồi này có thể được bồi đắp thêm hoặc bị bào mòn.
Trong các thung lũng hẹp giữa núi được bồi đắp bằng vật liệu phong hóa, phá hủy ( tự nhiên và nhân tạo) từ đá gốc. Địa hình đồng bằng cao trước núi với độ cao tuyệt đối từ 20-50m.Chúng được thành tạo chủ yếu là các thềm bậc I, bậc II ven theo hai bên bờ sông Lam hoặc phân bố trong các thung lũng trước núi với trầm tích trẻ Đệ tứ (Q) nguồn gốc chủ yếu là bồi tích (aQ), bồi tích - lú tích (apQ). Thành phần trầm tích gồm: sét, sét bột chứa sạn sỏi, cuội. Trong các thung lũng thường chứa các thành tạo hạt mịn và bị latenit hóa nhẹ.
Địa hình đồi núi có độ cao 100-200m: dạng địa hình này chiếm phần lớn diện tích của vùng với các đồi núi được cấu thành bởi trầm tích lục nguyên hệ tầng La Khê (C1 lk), hệ tầng Đồng Trầu (T2a đt), trầm tích carbonat hệ tầng Bắc Sơn (C-P bs). Trên bề mặt bị bóc mòn, xâm thực xẩy ra mạnh mẽ. Hiện tại bề mặt dạng địa hình này đang được cải tạo thành các ruộng bậc thang để trồng cây hoa màu, ngô và các loại cây ăn quả. Địa hình đồi núi có độ cao 200 – 500m: được cấu thành chủ yếu bởi các trầm tích carbonat hệ tầng Bắc Sơn (C-P bs).
Đây là dạng địa hình núi đá vôi thường có vách khá dốc (đôi nơi vách dốc đứng), xẩy ra hiện tượng xâm thực bóc mòn, rửa lũa mạnh. Trên sườn, vách núi phát triển hang hốc và mọc các loại cây gỗ tự nhiên. Đặc điểm khí hậu Vùng nghiên cứu nằm trong khu vực khí hậu miền nhiệt đới ẩm, gió mùa với các đặc trưng sau : 1. Nhiệt độ không khí Nhiệt độ không khí trong khí trong khu vực Qùy Hợp được chia thành hai mùa : Mùa nóng: từ tháng 4 đến tháng 10 hàng năm, nhiệt độ trung bình đạt từ 25 - 30°c, nhiệt độ cao nhất 38 - 41° c.
Từ tháng 8 đến tháng 10 thường có áp thấp nhiệt đới và bão gió. Mùa lạnh: từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau, nhiệt độ trung bình 17 - 25°C, có khi hạ thấp xuống 9 - 10°C. Mùa này thường kèm mưa phùn, giá lạnh ( bảng 1. Độ ẩm không khí SV: Phạm Đình Hải 5 Lớp: ĐCTV – ĐCCT A – K59 Đồ án tốt nghiệp Trường Đại học Mỏ - Địa chất Độ ẩm không khí trung bình các tháng ở khu vực nghiên cứu dao động trong khoảng 76,3 – 87,5%.
Những tháng mùa mưa thường có độ ẩm cao hơn những tháng mùa khô ( bảng 1. Lượng mưa Lượng mưa bình quân trong hàng năm là 1530,2mm. Tháng 12 đến tháng 4 năm sau ít mưa, khô hạn. Tháng 5 mưa tiểu mãn, khoảng 151,7-298,5mm.
Tháng 6; 7 khô nóng, tháng 8; 9; 10 mưa bão nhiều và có lượng mưa chiếm 45 - 60% lượng mưa cả năm. Lượng bốc hơi Lượng bốc hơi trong khu vực Qùy Hợp Bình quân nhiều năm là 760mm, các tháng mùa hè bốc hơi nhiều nhất là 4 tháng 5, 6, 7 và 8 chiếm từ 48% - 55% lượng bốc hơi của cả năm. Tổng lượng bốc hơi trung bình của vùng Quỳ Hợp là 26,5mm/năm ( bảng 1. Tổng hợp giá trị trung bình tháng của Nhiệt độ, Độ ẩm không khí, Bốc hơi, Lượng mưa tại trạm Qùy Hợp ( số liệu từ năm 2012 đến tháng 7 năm 2016) Độ ẩm không Tổng lượng bốc Tổng lượng Nhiệt độ không Tháng khí TB (%) hơi TB (mm) mưa TB (mm) khí TB (oC) I 85,0 36 40,9 17,1 II 83,0 72 15,9 19,3 III 81,0 66 65,1 22,0 IV 82,7 60 53,9 25,0 V 81,3 78 298,5 27,6 VI 76,3 120 78,7 29,5 VII 79,3 105 201,4 29,1 VIII 84,0 63 164,8 28,2 IX 85,5 54 274,0 27,2 X 87,5 39 245,2 25,1 XI 81,5 57 57,9 21,1 XII 84,0 45 33,9 18,6 SV: Phạm Đình Hải 6 Lớp: ĐCTV – ĐCCT A – K59 Đồ án tốt nghiệp Trường Đại học Mỏ - Địa chất 350 300 250 Tổng lượng bốc hơi TB (mm) 200 Tổng lượng mưa TB (mm) 150 Độ ẩm không khí TB (%) Nhiệt độ không khí TB (oC) 100 50 0 I II III IV V VI VII VIII IX X XI XII Hình1.2: Biểu đồ thể hiện các yếu tố khí tượng trạm Qùy Hợp 1.
Hướng gió Hướng gió chủ đạo trong vùng nghiên cứu thường là hướng tây nam về mùa hè và hướng đông bắc về mùa đông. Tốc độ gió mùa hè từ 8 - 15m/s. Mùa đông từ 8 – l0m/s. Mùa mưa bão tốc độ gió phụ thuộc vào cấp gió, thường từ cấp 7 -M1, 12.
Tổng số giờ trong năm Do nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới khắc nghiệt nên vùng nghiên cứu có số giờ nắng tổng cộng trong năm khá lớn từ 1358 giờ - 1617 giờ. Đặc điểm thuỷ văn. Vùng nghiên cứu có Sông Dinh chảy từ tây sang đông, song song với tỉnh lộ TL.532, đây là nguồn nước mặt rất quan trọng trong việc cung cấp nước sinh hoạt và nước tưới cho nông nghiệp. Ngoài ra còn có các suối nhỏ như suối Nậm Nọc, Nậm Tôn, Nậm Chòng, Kẻ Láo, Kẻ Sông và một số hồ đập đáng kể như hồ Huyện (ở thị trấn), hồ xóm 12-9 góp phần cung cấp, điều phối nước trong vùng.
Tuy nhiên các sông, suối trong vùng những năm gần đây lưu lượng dòng chảy nhỏ dần, bị bồi đắp làm cạn dòng, mực nước thấp, chất lượng nước kém dần. Dân cư, kinh tế.1: Dân cư Vùng nghiên cứu có dân số 125. Trong đó người Kinh tập chung chủ yếu ở thị trấn, các dân tộc Thái, Thổ phân bố thành những bản làng nhỏ ở các xã xung quanh. Các dân tộc trong vùng nghiên cứu sống hòa thuận, đoàn kết tương trợ lẫn SV: Phạm Đình Hải 7 Lớp: ĐCTV – ĐCCT A – K59 Đồ án tốt nghiệp Trường Đại học Mỏ - Địa chất nhau, thực hiện tốt mọi chủ trương, chính sách và pháp luật của Đảng và Nhà nước.
Trong những năm qua được sự quan tâm thích đáng về chính sách đối với đồng bào dân tộc nên đời sống của người dân được cải thiện nhiều, đồng bào càng tin tưởng và trung thành vào chế độ của nhà nước. Kinh tế Vùng nghiên cứu có nền kinh tế chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp. Mấy chục năm gần đây việc khai thác khoáng sản của các tổ chức Nhà nước và tư nhân trên địa bàn rất phát triển. Nhưng việc khai thác khoáng sản tự phát rất khó quản lý, trong đó có nhiều cơ sở khai thác không có giấy phép hoặc khai thác vượt quá trữ lượng cho phép.
Có các cơ sở công nghiệp sau: Công ty kim loại màu một thành viên, các cơ sở khai thác đá vôi xuất khẩu. Ngoài ra chưa có cơ sở công nghiệp nào đáng kể. Nói chung tổng thu ngân sách của địa phương trên không đủ bù chi, phải dựa vào nguồn kinh phí cấp của Trung ương và tỉnh. Giao thông vận tải.
Từ ngã ba Xăng Lẻ trên đường tỉnh lộ 48 rẽ theo đường tỉnh lộ TL532 về phía tây khoảng 13km đến thị trấn Quỳ Hợp. Đường giao thông này mới được cải tạo, trải nhựa. Tuy nhiên do nền móng địa chất công trình nhiều đoạn không đảm bảo, hơn nữa đây là tuyến đường chuyên chở khoáng sản từ nơi khai thác xuất đi ngoại tỉnh với các loại phượng tiện vận tải hạng siêu nặng (từ 50 đến hàng 100 tấn) nên vừa thi công xong nhiều đoạn đã bị hư hỏng. Ngoài ra còn một hệ thống các đường cấp tỉnh, cấp huyện quản lý trên địa bàn mấy năm gần đây được đầu tư nâng cấp, khá thuận lợi hơn cho việc đi lại.
Với những đặc điểm về địa lý, khí hậu, địa hình và kinh tế giao thong như đã nêu trên cho thấy vùng Qùy Hợp là khu vực khá thuận lợi cho công tác điều tra đánh giá tài nguyên trong đó có nước đưới đất. SV: Phạm Đình Hải 8 Lớp: ĐCTV – ĐCCT A – K59 Đồ án tốt nghiệp Trường Đại học Mỏ - Địa chất CHƯƠNG 2 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA CHẤT VÙNG QÙY HỢP 2. Lịch sử nghiên cứu địa chất Trong diện tích vùng nghiên cứu từ trước đến nay có một số công trình nghiên cứu với mức độ khác nhau của các nhà địa chất trong và ngoài nước. Giai đoạn nghiên cứu địa chất trước năm 1954.
- Bản đồ địa chất Đông Dương tỷ lệ 1:4.Juchs, xuất bản năm 1882 đã sơ bộ phân chia được cấu trúc địa chất, các địa tầng cơ bản. - Bản đồ địa chất Đông Dương, tỷ lệ 1:2.000 của Fromaget xuất bản năm 1952. Trên cơ sở tài liệu trước đã phân chia được chi tiết hơn về các thể địa chất, các hệ thống kiến tạo chính. Giai đoạn sau năm 1954.
Sau khi giành được độc lập, công tác nghiên cứu địa chất của nước ta được đẩy mạnh với sự họp tác giúp đỡ của các chuyên gia địa chất Xô Viết (Liên Xô cũ). - Bản đồ địa chất phần miền Bắc Việt Nam (trong đó có vùng nghiên cứu), tỷ lệ 1:500. Dovjicov, năm 1965: đây là công trình nghiên cứu cơ bản nhất ở miền Bắc khi nước nhà còn bị chia cắt - làm cơ sở cho công tác nghiên cứu địa chất sau này. - Bản đồ địa chất (phần miền Bắc) của Trần Văn Trị, tỷ lệ 1:1.