Đặt vấn đề từ trang 1 đến trang 3; Chƣơng 1. Tổng quan tài liệu từ trang từ trang 4 đến 37; Chƣơng 2. Đối tƣợng và Phƣơng pháp nghiên cứu, từ trang 38 đến 48; Chƣơng 3. Kết quả nghiên cứu và Bàn luận, từ trang 49 đến 80; Kết luận và Kiến nghị, từ trang 81 đến trang 82; Tính mới, tính khoa học, điểm hạn chế đề tài, từ trang 82 đến trang 83; Công trình khoa học đã công bố của tác giả, trang 84; Danh mục các tài liệu tham khảo, từ trang 85 đến 91.
e 4 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tình hình sốt rét thế giới và Việt Nam qua báo cáo năm 2017-2018 1. Trên toàn cầu Báo cáo sốt rét của Tổ chức Y tế thế giới (TCYTTG) năm 2018 (WHO, 2018) cho biết những năm qua có nhiều sự đầu tƣ về kinh phí, kỹ thuật vào các chƣơng trình Phòng chống và Loại trừ sốt rét (PC<SR) và nghiên cứu sốt rét cũng nhƣ tiến bộ trên tất cả lĩnh vực can thiệp phòng ngừa, chẩn đoán, điều trị và giám sát. Báo cáo cũng bao gồm các chuyên đề về loại trừ sốt rét và các mối đe dọa chính trong cuộc chiến chống lại bệnh sốt rét (SR).
Báo cáo này dựa trên thông tin nhận đƣợc từ các chƣơng trình PCSR Quốc gia và các đối tác khác ở các quốc gia lƣu hành bệnh. Trong năm 2017, ƣớc tính có khoảng 219 triệu ca ghi nhận trên toàn cầu, so với 239 triệu ca năm 2010 và 217 triệu ca trong năm 2016. Hầu hết bệnh nhân sốt rét (BNSR) trong năm 2017 đều nằm ở châu Phi (92%), tiếp theo là khu vực Đông Nam Á (5%) và Đông Địa Trung Hải (2%). Mƣời lăm quốc gia ở vùng cận Sahara, châu Phi và Ấn Độ chiếm gần 80% gánh nặng bệnh toàn cầu.
Năm nƣớc chiếm gần 1/2 số BNSR trên toàn cầu là Nigeria (25%), Congo (11%), Mozambique (5%), Ấn Độ (4%) và Uganda (4%). 10 quốc gia có gánh nặng cao nhất ở châu Phi báo cáo có sự gia tăng BNSR vào năm 2017 so với năm 2016. Ngƣợc lại, Ấn Độ báo cáo ít hơn 3 triệu ca so với cùng kỳ, giảm 24% so với năm 2016. Rwanda đã ghi nhận giảm gánh nặng SR, với 430.000 BNSR, ít hơn trong năm 2017 và Ethiopia và Pakistan rõ rệt hơn 240.000 BNSR so với cùng kỳ.
Tỷ lệ mắc mới SR giảm trên toàn cầu trong giai đoạn (2010-2017), từ 72 xuống còn 59 ca/1000 dân có nguy cơ. Mặc dù, con số này thể hiện mức giảm 18% trong giai đoạn này, nhƣng số ca/1000 dân số có nguy cơ vẫn ở mức 59 so với toàn cầu trong 3 năm qua. Số liệu ở các nƣớc Đông Nam Á tiếp tục e 5 cho thấy tỷ lệ mắc bệnh giảm từ 17 ca bệnh /1000 dân có nguy cơ trong năm 2010 xuống còn 7 vào năm 2017 (giảm 59%). Tất cả khu vực khác đều ghi nhận có ít tiến triển hoặc gia tăng tỷ lệ mắc SR.
Châu Mỹ ghi nhận có sự gia tăng số BNSR, phần lớn là do việc lan truyền ở Brazil, Nicaragua và Venezuela. Trong khu vực Châu Phi, tỷ lệ mắc mới SR vẫn duy trì ở 219 ca/ 1000 dân có nguy cơ mắc bệnh trong năm thứ hai liên tiếp. falciparum là loài ký sinh trùng sốt rét (KSTSR) phổ biến nhất trong khu vực Châu Phi, chiếm 99,7% số BNSR ƣớc tính vào năm 2017, cũng nhƣ trong khu vực Đông Nam Á (62,8%), Đông Địa Trung Hải (69%) và Tây Thái Bình Dƣơng (71,9%). Trong khi đó, loài P.
vivax là ký sinh trùng chủ yếu ở khu vực châu Mỹ, chiếm 74,1% số BNSR. Tuy nhiên, cơ cấu ký sinh trùng này đến nay vẫn đang tiếp tục thay đổi theo từng quốc gia và vùng lãnh thổ.000 ca TVSR trên toàn cầu so với 451.000 ca ƣớc tính năm 2016 và 607. Trẻ em dƣới 5 tuổi là nhóm liên quan nhất. Năm 2017, trẻ em chiếm 61% trong số TVSR toàn cầu.
châu Phi chiếm 93% số TVSR vào năm 2017. Mặc dù, châu Phi là nơi có số TVSR cao nhất vào năm 2017 và khu vực này cũng chiếm 88% số TVSR toàn cầu. Gần 80% số TVSR toàn cầu trong năm 2017 tập trung ở 17 nƣớc châu Phi và Ấn Độ; 7 trong số các nƣớc này chiếm 53% tất cả ca tử vong toàn cầu: Nigeria (19%), Congo (11%), Burkina Faso (6%), Tanzania (5%), Sierra Leone (4%), Niger (4%), Ấn Độ (4%). Tất cả khu vực theo phân bố của TCYTTG ngoại trừ khu vực châu Mỹ ghi nhận sự sụt giảm số TVSR năm 2017 so với năm 2010.
Sự sụt giảm lớn nhất xảy ra ở Đông Nam Á (54%), châu Phi (40%) và Đông Địa Trung Hải (10%). Dù vậy, tỷ lệ giảm TVSR cũng chậm lại kể từ năm 2015, phản ánh xu hƣớng về tỷ lệ mắc mới. Tình hình sốt rét tại Việt Nam năm 2017-2018 Tình hình SR của Việt Nam hiện chỉ còn tập trung ở khu vực miền Trung- Tây Nguyên và Nam Bộ-Lâm Đồng, các tỉnh phía Bắc có số mắc thấp hơn, chủ e 6 yếu là ca ngoại lai từ nhóm dân di biến động tại các tỉnh Tây Nguyên, Bình Phƣớc, một số khác do lao động nƣớc ngoài trở về nhƣ Lào, Campuchia, Angola. Kết quả thực hiện Phòng chống và loại trừ sốt rét trên toàn quốc năm 2018 so sánh với 2017 cho thấy: Số BNSR giảm 18,3% (6.411), số KSTSR tăng 5,8%, tỷ lệ KSTSR/1.000 dân tăng 5,7%, số sốt rét ác tính giảm 67,6%, số tử vong giảm 5 ca và không có dịch xảy ra.
Tiếp tục tập trung cao những vùng sốt rét lƣu hành (SRLH) nặng, kháng thuốc và đối tƣợng nguy cơ cao, củng cố yếu tố bền vững, ngăn chặn SR quay trở lại tiến tới LTSR. Số BNSR phân theo từng khu vực trong năm 2018 so với năm 2017 cho thấy ngoại trừ khu vực Tây Nguyên, các khu vực khác đều có số BNSR giảm so với năm 2017. Đặc biệt, miền núi phía Bắc, đồng bằng Trung du Bắc bộ, Khu IV cũ và Khu vực Đồng bằng sông Cửu Long số BNSR giảm trên 40%. Tây Nguyên có số BNSR gia tăng (23,2%) và đây là năm thứ 2 liên tiếp BNSR tăng ở khu vực này.440) so với cùng kỳ 2016; năm 2018 tăng 23,20% (2.060) so với cùng kỳ 2017.
Phân bố BNSR theo tháng toàn quốc năm 2018 so với năm 2017 và trung bình các tháng 5 năm 2013-2017 cho thấy số BNSR trong các tháng năm 2018 cao ở các tháng cuối năm (tháng 9-12) và các tháng đầu năm (tháng 1-5). BNSR giảm và duy trì mức 400-500 ca các tháng giữa năm (tháng 4-8). So với các tháng năm 2017, BNSR các tháng năm 2018 thấp hơn, các tháng năm 2017 thấp nhất 558 ca vào tháng 1, các tháng còn lại cao trên 600 ca và cao nhất vào tháng 12 năm 2017 với 1. So với giai đoạn (2013-2017), số BNSR các tháng năm 2018 thấp hơn đáng kể, trung bình tháng giai đoạn (2013-2017) thấp ở các tháng 2 đến tháng 8, thấp nhất vào tháng 4 (1.287 ca) và cao nhất 10-12 và tháng 1 (trên 1.
Về diễn biến số BNSR và KSTSR giai đoạn (2009-2017) cho thấy số mắc giảm dần đều qua giai đoạn 10 năm (2009-2018) với số BNSR cao nhất là 60.867 ca, số lƣợng BNSR bắt đầu giảm từ năm 2010 (54.406 ca năm 2013 và giảm dần. Năm e 7 2018 số BNSR giảm 88,71% so với năm 2009. Số KSTSR từ năm 2009 duy trì mức cao đến năm 2014 và giảm nhiều trong giai đoạn 2015-2016. Số KSTSR tăng liên tiếp trong 3 năm gần đây với năm 2016 (4.
Số KSTSR năm 2018 giảm ở hầu hết khu vực, riêng Tây Nguyên tăng 27,18% so cùng kỳ năm 2017. Năm 2018, bệnh nhân có KST tăng ở 14 tỉnh, phân bố ở các khu vực nhƣ sau: Khu vực miền Bắc: Bắc Kạn tăng 1 ca (5/4), Hòa Bình tăng 2 ca (4/2), Hà Nội tăng 3 ca (16/13), Nghệ An tăng 8,33% (26/24). Khu vực miền Trung: Đà Nẵng tăng 3 ca (5/2), Thừa Thiên Huế tăng 8 ca, Phú Yên tăng 376,47%, Bình Định tăng 18,42%, Bình Thuận tăng 2 ca. Khu vực Tây Nguyên có Gia Lai tăng 30,76%, Kon Tum tăng 26,42%, Đăk Lăk tăng 46,29%.
Số lƣợng KSTSR 10 tỉnh cao nhất chiếm 89,03% so với toàn quốc (4.811) gồm Bình Phƣớc 1.243 ca, Gia Lai 1.101 ca, Đắk Lắk 768 ca, Phú Yên 324 ca, Đăk Nông 218 ca, Lâm Đồng 175 ca, Kon Tum 134 ca, Khánh Hòa 125 ca, Bình Thuận 102 ca, Quảng Bình 95 ca. BNSR ác tính của toàn quốc năm 2018 giảm 25 ca so với cùng kỳ năm 2017 (12/37), khu vực miền Bắc (1 ca), ven biển miền Trung (5 ca), khu vực Tây Nguyên (3 ca), Đông Nam bộ (1 ca), Đồng bằng Cửu Long (2 ca). Các tỉnh có số BNSR ác tính cao nhất ở vùng SRLH nặng nhƣ Bình Phƣớc, Gia Lai, Khánh Hòa. Các tỉnh/ thành có số KSTSR cao nhất năm 2018 và so với 2017 Tỷ lệ % KSTSR Tỷ lệ KSTSR/ KSTSR KSTSR TT Tỉnh năm KSTSR/ 1.000 dân số SRLH giảm (-) 1 Bình Phƣớc 1.101 0,76 1,13 842 +30,76 3 Đắk Lắk 768 0,40 0,52 525 +46,29 4 Phú Yên 324 0,34 1,03 68 +376,47 e 8 Tỷ lệ % KSTSR Tỷ lệ KSTSR/ KSTSR KSTSR TT Tỉnh năm KSTSR/ 1.000 dân số SRLH giảm (-) 5 Đắk Nông 218 0,36 0,40 262 -16,79 6 Lâm Đồng 175 0,14 0,26 149 +17,45 7 Kon Tum 134 0,23 0,31 106 +26,42 8 Khánh Hoà 125 0,10 0,65 144 -13,19 9 Bình Thuận 102 0,08 0,15 100 +2,00 10 Quảng Bình 95 0,10 0,23 122 -22,13 Hai tỉnh có KSTSR cao nhất là Bình Phƣớc và Gia Lai, có 6 tỉnh tăng KSTSR so với cùng kỳ năm 2017 nhƣ Gia Lai tăng 30,76%, Đăk Lăk tăng 46,29%, Phú Yên tăng 376,47%, Lâm Đồng tăng 17,45%, Kon Tum tăng 26,42%, Bình Thuận tăng 2%.
Số lƣợng KSTSR năm 2018 cao nhất ở khu vực Tây Nguyên và Đông Nam Bộ. Đây cũng là nơi có 3 tỉnh có KSTSR cao nhất trong toàn quốc Bình Phƣớc, Gia Lai và Đắk Lắk. Số lƣợng KSTSR khu vực Tây Nguyên và Đông Nam Bộ chiếm 77,93% (3.813) so với tổng số KSTSR cả nƣớc. Bản đồ phân bố ký sinh trùng sốt rét toàn quốc năm 2018 Điểm đặc biệt cần lƣu ý là số BNSR từ năm 2017-2018 cao nhất ở các tỉnh Tây Nguyên có liên quan trên nhóm dân nguy cơ cao nhƣ đi rừng, ngủ rẫy và có liên quan công việc dài ngày trong rừng để lấy mật ong, phong lan, lấy gỗ, thu hoạch theo vào mùa vụ của từng vùng ở vùng giáp ranh giữa 3 tỉnh Phú Yên, e 10 Đăk Lăk và Gia Lai.813 bệnh nhân có KSTSR, trong đó P.
vivax chiếm 36%, nhiễm phối hợp 2%.Cơ cấu KSTSR năm 2018 có sự khác nhau giữa các khu vực: Khu vực miền Bắc có 104 KSTSR, trong đó có 61 ca P. ovale (1,92%), 1 nhiễm phối hợp (0,96%) và miền Trung và Tây Nguyên có 3. vivax chiếm 35,63%; 7 ca P.