Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Xóa đói giảm nghèo là một trong những chủ trương lớn trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam. Mặc dù tỷ lệ nghèo chung trên cả nước đã giảm qua các thời kỳ, kết quả giảm nghèo tại nhiều địa phương vẫn chưa đảm bảo tính bền vững, nguy cơ tái nghèo còn cao và tình trạng nghèo kinh niên vẫn tồn tại ở khu vực nông thôn. Một trong những nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ việc đo lường nghèo đói truyền thống chỉ dựa trên tiêu chí đơn chiều về thu nhập hoặc chi tiêu. Phương pháp này dẫn đến độ bao phủ chính sách chưa toàn diện, bỏ sót các nhóm đối tượng có mức thu nhập tiệm cận hoặc nhỉnh hơn chuẩn nghèo nhưng lại bị tước đoạt các nhu cầu an sinh xã hội cơ bản như giáo dục, chăm sóc y tế, nhà ở kiên cố, nước sạch và điều kiện vệ sinh môi trường.

Xuất phát từ yêu cầu chuyển đổi phương pháp đánh giá nghèo đói nhằm nhận diện chính xác các chiều thiếu hụt phúc lợi của người dân nông thôn, tác giả Bùi Thu Trang đã thực hiện khóa luận tốt nghiệp ngành Khuyến nông tại Trường Đại học Nông Lâm – Đại học Thái Nguyên với đề tài: "Đánh giá thực trạng nghèo theo hướng tiếp cận nghèo đa chiều và giải pháp giảm nghèo bền vững tại xã Bảo Lý - Phú Bình - Thái Nguyên".

Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận được xác định cụ thể như sau:

  • Mục tiêu chung: Đánh giá thực trạng nghèo đói theo hướng tiếp cận đa chiều thông qua các chỉ số nghèo đa chiều và chuẩn nghèo thu nhập hiện hành; từ đó đề xuất hệ thống giải pháp giảm nghèo bền vững, hạn chế tình trạng tái nghèo tại xã Bảo Lý, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên.
  • Mục tiêu cụ thể:
    1. Đánh giá thực trạng nghèo đói của xã Bảo Lý thông qua phương pháp tiếp cận nghèo đa chiều và đơn chiều.
    2. So sánh thực trạng nghèo của phương pháp tiếp cận đa chiều so với phương pháp tiếp cận đơn chiều theo thu nhập.
    3. Phân tích các nguyên nhân ảnh hưởng đến tình trạng nghèo đa chiều và đơn chiều tại địa phương.
    4. Đề xuất các giải pháp nhằm hỗ trợ người dân thoát nghèo một cách bền vững.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Các hộ dân trong cộng đồng dân cư tại xã Bảo Lý, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên.
  • Phạm vi không gian: Địa bàn xã Bảo Lý, trong đó tập trung khảo sát sâu tại 3 xóm đại diện cho các mức độ phát triển kinh tế khác nhau gồm xóm Vạn Già (kinh tế phát triển nhất), xóm Dinh (kinh tế trung bình) và xóm Hóa (kinh tế trung bình).
  • Phạm vi thời gian: Nguồn số liệu thứ cấp được thu thập trong giai đoạn 3 năm (2011 – 2013); số liệu sơ cấp được điều tra trực tiếp trong năm 2013. Thời gian triển khai thực hiện đề tài từ ngày 07/01/2014 đến ngày 13/05/2014.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận xây dựng trên nền tảng lý luận về nghèo đói và các phương pháp đo lường nghèo đơn chiều và đa chiều:

  • Khung khái niệm và chuẩn nghèo: Văn bản hệ thống hóa quan niệm nghèo đói của Ủy ban Kinh tế Xã hội khu vực Châu Á - Thái Bình Dương (ESCAP, 1993), Hội nghị Thượng đỉnh Thế giới về Phát triển Xã hội (Copenhagen, 1995), quan điểm của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO / Amartya Sen, 1997) về sự thiếu hụt cơ hội lựa chọn. Đồng thời, tác giả viện dẫn các văn bản quy định chuẩn nghèo của Việt Nam qua các thời kỳ, trọng tâm là Quyết định số 170/2005/QĐ-TTg (chuẩn nghèo nông thôn dưới 400.000 đồng/người/tháng giai đoạn 2011 - 2015) và Quyết định số 587/2002/QĐ-BLĐTBXH quy định tiêu chí xác định xã nghèo.
  • Phương pháp đo lường nghèo đa chiều (MPI): Áp dụng phương pháp luận của Alkire và Foster (2007) do Sáng kiến Phát triển Con người và Nghèo đói Đại học Oxford (OPHI) phối hợp cùng Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP) công bố trong Báo cáo Phát triển Con người năm 2011. Chỉ số MPI được xác định qua công thức: $$MPI = H \times A$$ Trong đó, $H$ là tỷ lệ hộ nghèo đa chiều trong cộng đồng và $A$ là cường độ thiếu hụt trung bình của các hộ nghèo. Chỉ số bao gồm 3 chiều đo lường với 10 chỉ báo cụ thể:
    • Giáo dục (trọng số mỗi chỉ báo 1/6): Số năm đi học của người lớn (hộ bị tước đoạt nếu không có thành viên nào hoàn thành tiểu học); Trẻ em đi học (bị tước đoạt nếu có trẻ trong độ tuổi không được học đến lớp 9).
    • Y tế - Sức khỏe (trọng số mỗi chỉ báo 1/6): Tỷ lệ tử vong ở trẻ em; Tình trạng dinh dưỡng / bệnh hiểm nghèo của các thành viên.
    • Mức sống (trọng số mỗi chỉ báo 1/18): Tiếp cận điện lưới; Điều kiện nhà tiêu hợp vệ sinh; Tiếp cận nước uống an toàn; Chất lượng nhà ở; Nhiên liệu nấu ăn; Sở hữu tài sản sinh hoạt thiết yếu. Hộ gia đình được xác định là nghèo đa chiều nếu bị tước đoạt từ 33,33% tổng trọng số các chỉ báo trở lên.
  • Khung phân tích các nguồn vốn sinh kế: Đánh giá tình trạng nghèo dựa trên sự thiếu hụt 6 loại nguồn vốn cơ bản gồm: Vốn con người, vốn tự nhiên, vốn vật chất, vốn thông tin, vốn tâm lý và vốn kinh tế (tài chính).

Phương pháp nghiên cứu thực tế được thực hiện qua các bước:

  • Thu thập dữ liệu thứ cấp: Tổng hợp từ báo cáo thống kê của UBND xã Bảo Lý, Trung tâm Khuyến nông huyện Phú Bình, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2011 – 2013.
  • Thu thập dữ liệu sơ cấp: Sử dụng bảng hỏi cấu trúc để phỏng vấn trực tiếp 54 hộ gia đình. Mẫu được chọn theo phương pháp phân tầng ngẫu nhiên tại 3 xóm đại diện (18 hộ/xóm), chia đều thành 3 nhóm đối tượng: 18 hộ khá (33,33%), 18 hộ cận nghèo (33,33%) và 18 hộ nghèo (33,33%).
  • Phương pháp phân tích số liệu: Sử dụng phương pháp thống kê mô tả (tính giá trị trung bình, tỷ lệ phần trăm, tần suất) và phương pháp so sánh đối chiếu giữa nghèo đơn chiều theo thu nhập và nghèo đa chiều theo chỉ số MPI.

Nội dung chính theo từng phần

Phần 1: Mở đầu

Trình bày tính cấp thiết của việc chuyển đổi phương pháp tiếp cận giảm nghèo tại Việt Nam từ đơn chiều sang đa chiều. Xác định mục tiêu tổng quát, 4 mục tiêu cụ thể, ý nghĩa khoa học và giá trị thực tiễn của đề tài trong việc cung cấp cơ sở dữ liệu phục vụ hoạch định chính sách an sinh xã hội tại địa bàn nghiên cứu.

Phần 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn

Hệ thống hóa cơ sở lý luận về nghèo đói đơn chiều và đa chiều, các chuẩn nghèo quốc tế của Ngân hàng Thế giới (WB), UNDP và chuẩn nghèo quốc gia của Việt Nam. Phân tích bản chất của nghèo đa chiều là sự thiếu hụt tổng hợp các nguồn vốn sinh kế. Đánh giá bối cảnh thực tiễn công tác giảm nghèo tại Việt Nam, chỉ ra các hiện tượng giảm nghèo thiếu bền vững, khoảng cách giàu nghèo gia tăng (chênh lệch thu nhập tăng từ 9,2 lần năm 2010 lên 9,4 - 9,5 lần năm 2012) và những hạn chế của việc hỗ trợ theo cơ chế "thiếu gì cấp nấy".

Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Xác định đối tượng khảo sát là hộ dân xã Bảo Lý; phạm vi nghiên cứu tại 3 xóm Vạn Già, Dinh, Hóa trong mốc thời gian 2011 - 2014. Trình bày chi tiết phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp, phương pháp chọn mẫu phân tầng 54 hộ điều tra (Bảng 3.1) và các công cụ thống kê mô tả, phương pháp so sánh phục vụ xử lý số liệu.

Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

1. Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội xã Bảo Lý

  • Điều kiện tự nhiên: Tổng diện tích tự nhiên đạt 1.411,63 ha. Trong đó, đất nông nghiệp chiếm 992,02 ha (70,28%), đất phi nông nghiệp chiếm 273,06 ha (19,34%) và đất chưa sử dụng là 146,55 ha (10,38%). Địa hình có sông Cầu và sông Đào chảy qua chia xã thành hai vùng rõ rệt (Nam Lý đồng bằng bằng phẳng và Bắc Lý đồi núi thấp xen kẽ).
  • Dân số và lao động: Toàn xã có 1.691 hộ với 6.489 nhân khẩu (98% dân tộc Kinh, 2% các dân tộc Tày, Nùng, Dao, Sán Dìu, Hoa). Số hộ làm nông nghiệp là 1.484 hộ (chiếm 87,76%), hộ phi nông nghiệp là 207 hộ (12,24%).
  • Kinh tế: Tốc độ tăng trưởng kinh tế năm 2013 đạt 6,3% (nông nghiệp chiếm 83,5%, tiểu thủ công nghiệp 9,3%, thương mại dịch vụ 7,2%). Diện tích gieo trồng lúa năm 2013 đạt 568 ha (năng suất 46,7 tạ/ha, sản lượng 2.652,6 tấn); ngô đạt 106 ha; lạc đạt 91 ha; khoai lang đạt 160 ha. Tổng đàn vật nuôi năm 2013 gồm 615 con trâu, 1.350 con bò, 5.900 con lợn và 79.000 con gia cầm.
  • Cơ sở hạ tầng: Xã có 8,6 km đường tỉnh lộ nhựa; 5/12 xóm có đường bê tông liên xóm; hệ thống thủy lợi có 8 hồ chứa, kênh mương dài 33,28 km (đã kiên cố hóa 11,67 km); 100% hộ dân sử dụng điện lưới quốc gia; trạm y tế xã có 1 dãy nhà 2 tầng với 10 phòng chức năng, 8 giường bệnh và 6 cán bộ y tế; cả 3 trường học (mầm non, tiểu học, THCS) đều đạt chuẩn quốc gia.
Chỉ tiêu đất đai xã Bảo Lý (năm 2013) Mã Diện tích (ha) Cơ cấu (%)
Tổng diện tích đất tự nhiên 1.411,63 100,00
I. Đất nông nghiệp NNP 992,02 70,28
- Đất sản xuất nông nghiệp SXN 632,66 44,82
- Đất lâm nghiệp LNP 260,86 18,48
- Đất nuôi trồng thủy sản NTS 98,50 6,98
II. Đất phi nông nghiệp PNN 273,06 19,34
- Đất chuyên dùng CDG 143,24 10,15
- Đất sông suối, mặt nước chuyên dùng SMN 76,55 5,41
- Các loại đất phi nông nghiệp khác 53,27 3,78
III. Đất chưa sử dụng CSD 146,55 10,38

2. Thực trạng nghèo của xã Bảo Lý

Tỷ lệ hộ nghèo toàn xã giảm liên tục qua 3 năm: từ 10,88% (184 hộ năm 2011) xuống 10,35% (175 hộ năm 2012) và còn 8,57% (145 hộ năm 2013). Số hộ cận nghèo năm 2013 là 244 hộ (chiếm 14,43%). Tỷ lệ hộ nghèo phân bố không đồng đều giữa các xóm: cao nhất tại xóm Cô Dạ (22,16%), Đại Lễ (20,00%), Thượng (19,82%), Vạn Già (19,14%), Dinh (16,82%), Hóa (12,50%) và thấp nhất tại xóm Ngược (4,70%).

3. Thực trạng nghèo và các nguồn vốn của 54 hộ điều tra

  • Vốn con người: Trong 218 nhân khẩu khảo sát, số người trong độ tuổi lao động là 132 người (60,42%), gồm 65 nam (49,24%) và 67 nữ (50,76%). Lao động chính chiếm 64,39%, lao động phụ chiếm 35,61%. Về giáo dục, có 3 hộ không có bằng cấp (5,56%, toàn bộ thuộc nhóm nghèo); hộ nghèo có bằng cấp cao nhất chủ yếu dừng ở tiểu học (18,52%), trong khi nhóm khá đạt THPT (18,52%). Có 2 hộ nghèo (3,70%) không có thành viên nào học hết tiểu học; 14 hộ (25,92%) có trẻ em trong độ tuổi không được học đến lớp 9 (nhóm nghèo chiếm 8 hộ, cận nghèo 5 hộ, khá 1 hộ). Về y tế, trung bình có 1,185 người ốm/hộ/năm, số ngày ốm trung bình là 14,5 ngày/tháng nhưng số lần khám bệnh chỉ đạt 1,70 lần/người/năm; 11 hộ có trẻ em tử vong (20,37%, riêng hộ nghèo chiếm 6 hộ); 14 hộ có thành viên suy dinh dưỡng (25,92%, hộ nghèo 7 hộ, cận nghèo 5 hộ, khá 2 hộ).
  • Vốn tự nhiên: Đất sản xuất cây hàng năm trung bình đạt 6,33 sào/hộ; đất mặt nước nuôi trồng thủy sản trung bình 0,81 sào/hộ; đất vườn đạt 1,00 sào/hộ.
  • Vốn vật chất và mức sống: Về nhà ở, 51,85% hộ có nhà bán kiên cố (28 hộ, trong đó 16 hộ nghèo, 12 hộ cận nghèo); 25,93% có nhà kiên cố khép kín (14 hộ, chủ yếu nhóm khá); còn 1 hộ nghèo ở nhà tạm (1,85%). Giá trị nhà ở trung bình đạt 127,8 triệu đồng, diện tích trung bình 78,31 m2 (thấp nhất 20 m2, cao nhất 156 m2). Tỷ lệ thiếu hụt các điều kiện sống cơ bản tập trung ở nhóm nghèo: 16 hộ (29,63%) có nhà vệ sinh không đạt chuẩn (hộ nghèo chiếm 12 hộ); 19 hộ (35,18%) sử dụng nhiên liệu nấu ăn chưa hợp vệ sinh như than, củi, rơm rác (hộ nghèo 11 hộ); 16 hộ (29,62%) thiếu nước uống an toàn; 2 hộ nghèo (3,70%) sở hữu ít hơn 1 tài sản sinh hoạt thiết yếu.
Chỉ báo mức sống và tiện nghi sinh hoạt (N = 54 hộ) Nhóm Khá (hộ) Nhóm Cận nghèo (hộ) Nhóm Nghèo (hộ) Tổng số hộ thiếu hụt Tỷ lệ thiếu hụt (%)
Không có thành viên hoàn thành tiểu học 0 0 2 2 3,70
Có trẻ em không được học đến lớp 9 1 5 8 14 25,92
Có trẻ em bị tử vong 2 3 6 11 20,37
Có người suy dinh dưỡng / ốm nặng 2 5 7 14 25,92
Nhà vệ sinh không đảm bảo tiêu chuẩn 0 4 12 16 29,63
Nhiên liệu nấu ăn không hợp vệ sinh 2 6 11 19 35,18
Nước uống không hợp vệ sinh 2 6 8 16 29,62
Nhà ở bán kiên cố hoặc nhà tạm 0 12 17 29 53,70
Sở hữu ít hơn 1 tài sản tiêu dùng 0 0 2 2 3,70
  • Vốn thông tin: 100% hộ tiếp cận thông tin thị trường, giá cả qua đài truyền thanh, tivi, báo chí hoặc internet.
  • Vốn tâm lý: Có 21 hộ do phụ nữ làm chủ (38,89%), gặp nhiều áp lực trong gánh vác kinh tế và chăm sóc gia đình; 22,23% số hộ (12 hộ nghèo/khó khăn) không có điều kiện tiếp cận các hoạt động vui chơi, giải trí.
  • Vốn kinh tế: Thu nhập từ hoạt động phi nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn nhất ở nhóm hộ khá, trong khi nhóm hộ nghèo và cận nghèo phụ thuộc chủ yếu vào nguồn thu từ trồng trọt (lúa, ngô, khoai) và chăn nuôi nhỏ lẻ với chi phí đầu vào cao, giá bán bấp bênh.

Phần 5: Kết luận và kiến nghị

Tổng kết toàn bộ kết quả phân tích về thực trạng nghèo đơn chiều và đa chiều tại xã Bảo Lý. Khẳng định việc chuyển đổi phương pháp đo lường nghèo là cơ sở nâng cao hiệu quả can thiệp chính sách. Nêu các đề xuất, kiến nghị cụ thể đối với UBND xã Bảo Lý và các cơ quan quản lý chuyên môn cấp huyện/tỉnh.

Kết quả và đóng góp

1. Kết quả nghiên cứu chính

  • Làm rõ sự sai khác giữa chuẩn nghèo đơn chiều và tiếp cận đa chiều: Đo lường đơn chiều theo thu nhập năm 2013 xác định tỷ lệ hộ nghèo của xã Bảo Lý là 8,57% (145 hộ). Tuy nhiên, phân tích đa chiều trên 54 hộ mẫu chỉ ra rằng có sự thiếu hụt nghiêm trọng về các dịch vụ an sinh xã hội cơ bản ngay cả ở nhóm cận nghèo và một bộ phận hộ khá: 29,63% hộ thiếu nhà vệ sinh đạt chuẩn, 35,18% thiếu nhiên liệu nấu ăn sạch, 29,62% thiếu nước sạch hợp vệ sinh, 25,92% có trẻ bỏ học trước lớp 9 và 25,92% có thành viên suy dinh dưỡng hoặc đau ốm kéo dài.
  • Xác định các nguyên nhân gốc rễ dẫn đến nghèo đa chiều:
    1. Thiếu hụt vốn con người: Trình độ học vấn thấp, thiếu kỹ năng nghề nghiệp, sức khỏe suy giảm do tỷ lệ ốm đau cao và dinh dưỡng không đảm bảo.
    2. Hạn chế về vốn tự nhiên và vốn vật chất: Đất canh tác nông nghiệp manh mún (trung bình 6,33 sào/hộ), thiếu vốn đầu tư máy móc cơ giới hóa, điều kiện nhà ở và công trình vệ sinh thiếu thốn.
    3. Rủi ro thị trường và môi trường: Biến động giá vật tư đầu vào nông nghiệp tăng cao, đầu ra sản phẩm không ổn định, dịch bệnh trên cây trồng - vật nuôi và nguy cơ ngập lụt vào mùa mưa.
    4. Yếu tố nhân khẩu và giới: Các hộ có phụ nữ làm chủ hộ neo đơn, hộ đông con, hộ có người khuyết tật hoặc nghiện hút chịu nguy cơ rơi vào nghèo kinh niên cao hơn.

2. Hệ thống giải pháp tác giả đề xuất

  • Phát triển nguồn vốn con người: Tổ chức các lớp tập huấn khuyến nông, chuyển giao kỹ thuật trồng trọt và chăn nuôi phù hợp với điều kiện địa phương; đẩy mạnh đào tạo nghề cho lao động nông thôn; tăng cường chăm sóc sức khỏe ban đầu, tư vấn dinh dưỡng cho phụ nữ mang thai và trẻ nhỏ nhằm giảm tỷ lệ tử vong và suy dinh dưỡng; hỗ trợ chi phí học tập để hạn chế tình trạng học sinh bỏ học giữa chừng.
  • Tăng cường nguồn vốn tài chính (kinh tế): Mở rộng mạng lưới tín dụng ưu đãi từ Ngân hàng Chính sách Xã hội cho các hộ nghèo và cận nghèo; gắn việc giải ngân vốn vay với phương án sản xuất cụ thể và sự hướng dẫn của cán bộ khuyến nông nhằm tránh sử dụng vốn sai mục đích.
  • Cải thiện nguồn vốn vật chất và điều kiện sống: Lồng ghép các chương trình mục tiêu quốc gia để hỗ trợ người dân xây dựng nhà vệ sinh tự hoại đạt chuẩn, lắp đặt hệ thống lọc nước sạch sinh hoạt; hỗ trợ cải tạo nhà tạm, nhà bán kiên cố dột nát; khuyến khích chuyển đổi sang sử dụng bếp gas, bếp điện thay thế than, củi và rơm rác.
  • Giải pháp phân loại theo nhóm hộ:
    • Hộ nghèo thiếu lao động/bảo trợ xã hội: Trợ cấp an sinh thường xuyên, hỗ trợ bảo hiểm y tế miễn phí và chăm sóc y tế tại chỗ.
    • Hộ nghèo có lao động nhưng thiếu vốn và kỹ thuật: Ưu tiên vay vốn sản xuất, tập huấn kỹ thuật và hướng dẫn mô hình kinh tế hộ hiệu quả.

3. Đóng góp của đề tài

  • Về mặt lý luận, khóa luận vận dụng chỉ số nghèo đa chiều MPI (OPHI/UNDP) và khung sinh kế vào phân tích thực tế cấp xã, cung cấp bức tranh chi tiết về các chiều thiếu hụt phi thu nhập tại địa bàn nông thôn trung du miền núi phía Bắc.
  • Về mặt thực tiễn, các kết quả khảo sát cung cấp luận cứ cụ thể giúp UBND xã Bảo Lý và Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Phú Bình xây dựng kế hoạch can thiệp giảm nghèo trúng đích, tránh tình trạng hỗ trợ dàn trải.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Phạm vi khảo sát sơ cấp mới dừng lại ở quy mô mẫu 54 hộ tại 3 trong tổng số 12 xóm của xã Bảo Lý; các số liệu tài chính hộ gia đình (thu - chi cụ thể) chưa được hạch toán chi tiết do người dân không có thói quen ghi chép sổ sách kế toán; thời gian điều tra thực địa giới hạn trong phạm vi đợt thực tập tốt nghiệp đại học năm 2014.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng quy mô điều tra mẫu trên toàn bộ 12 xóm của xã Bảo Lý hoặc khảo sát so sánh liên xã trong huyện Phú Bình; áp dụng các mô hình kinh tế lượng (hồi quy đa biến/logit) để định lượng mức độ tác động của từng yếu tố đến xác suất rơi vào nghèo đa chiều của hộ gia đình nông thôn.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng tham khảo: Sinh viên, học viên chuyên ngành Khuyến nông, Kinh tế nông nghiệp, Phát triển nông thôn, Xã hội học nông thôn; cán bộ phụ trách công tác giảm nghèo, thương binh xã hội và khuyến nông cấp xã, huyện.
  • Phần nội dung đáng tham khảo nhất: Khung phương pháp đánh giá 10 chỉ báo nghèo đa chiều kết hợp phân tích 6 nguồn vốn sinh kế (Phần 2 và Phần 3); bộ bảng biểu phân tích thực trạng thiếu hụt điều kiện sống, sức khỏe, giáo dục của các nhóm hộ (Phần 4).

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận sử dụng khung phương pháp nào để đo lường nghèo đa chiều?
Khóa luận áp dụng phương pháp luận của Alkire và Foster (2007) do OPHI và UNDP công bố năm 2011, gồm 3 chiều (Giáo dục, Y tế, Mức sống) với 10 chỉ báo cụ thể. Hộ gia đình được xác định là nghèo đa chiều nếu bị tước đoạt từ 33,33% tổng trọng số các chỉ báo trở lên.

2. Tỷ lệ hộ nghèo đơn chiều của xã Bảo Lý biến động như thế nào trong giai đoạn 2011 – 2013?
Theo số liệu thống kê của UBND xã Bảo Lý, tỷ lệ hộ nghèo giảm liên tục qua 3 năm: từ 10,88% (184 hộ năm 2011) xuống 10,35% (175 hộ năm 2012) và còn 8,57% (145 hộ năm 2013). Toàn xã còn 244 hộ cận nghèo (chiếm 14,43%).

3. Mẫu điều tra sơ cấp được phân bổ ra sao giữa các xóm và nhóm hộ?
Tổng mẫu điều tra gồm 54 hộ tại 3 xóm (Vạn Già, Dinh, Hóa), mỗi xóm điều tra 18 hộ. Mẫu được phân tầng đều thành 3 nhóm: 18 hộ khá (33,33%), 18 hộ cận nghèo (33,33%) và 18 hộ nghèo (33,33%).

4. Những chỉ báo mức sống nào có tỷ lệ thiếu hụt cao nhất ở các hộ được khảo sát?
Các chỉ báo thiếu hụt cao nhất gồm: sử dụng nhiên liệu nấu ăn chưa hợp vệ sinh (35,18% hộ, tương ứng 19 hộ); nhà vệ sinh không đạt chuẩn (29,63% hộ, tương ứng 16 hộ); nước uống không hợp vệ sinh (29,62% hộ, tương ứng 16 hộ); và nhà ở bán kiên cố hoặc nhà tạm (53,70% hộ, tương ứng 29 hộ).

5. Về mặt giáo dục và y tế, các hộ nghèo tại địa bàn gặp những khó khăn cụ thể nào?
Khảo sát 54 hộ cho thấy có 3 hộ không có bằng cấp (toàn bộ là hộ nghèo); 14 hộ có trẻ em không được học đến lớp 9 (nhóm nghèo chiếm 8 hộ); 11 hộ có trẻ em tử vong (hộ nghèo chiếm 6 hộ); 14 hộ có người suy dinh dưỡng hoặc mắc bệnh kéo dài (hộ nghèo chiếm 7 hộ).

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Bùi Thu Trang đã đánh giá thực trạng nghèo đói tại xã Bảo Lý (huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên) thông qua việc kết hợp chuẩn nghèo thu nhập với phương pháp tiếp cận nghèo đa chiều MPI và khung vốn sinh kế. Nghiên cứu chỉ ra rằng mặc dù tỷ lệ nghèo thu nhập của xã giảm còn 8,57% năm 2013, người dân địa phương vẫn chịu nhiều thiếu hụt nghiêm trọng về nhà ở, công trình vệ sinh, nước sạch, giáo dục và chăm sóc sức khỏe. Trên cơ sở nhận diện đúng nguyên nhân theo từng nhóm hộ, tác giả đã đề xuất hệ thống giải pháp can thiệp đồng bộ vào các nguồn vốn con người, vật chất và tài chính nhằm hướng tới mục tiêu giảm nghèo bền vững.