MỞ ĐẦU 1. Chăn nuôi lợn là một phần không thể thiếu của nông nghiệp. Nền kinh tế Việt Nam đang từng bước hội nhập mạnh mẽ với nền kinh tế thế giới. Cùng với sự phát triển của thế giới, nền kinh tế nước ta có những bước nhảy vọt và không ngừng đi lên, cùng với nó là đời sống của con người ngày càng được cải tiến, nhu cầu về chất lượng thực phẩm cũng được quan tâm hơn, đặc biệt là các loại thịt có chất lượng cao.
Chăn nuôi lợn ngoài việc cung cấp dinh dưỡng cao cho người tiêu dùng, cung cấp nguồn nguyên liệu cho công nghiệp chế biến thì nó còn góp phần phát triển nền nông nghiệp hữu cơ sinh thái, tạo ra nguồn phân bón hữu cơ cho ngành trồng trọt, cải tạo đất (nhất là đất nông nghiệp), cải tạo môi trường cân bằng sinh thái giữa cây trồng, vật nuôi và con người… Trong những năm gần đây ngành chăn nuôi nước ta đã và đang phát triển rất mạnh. Đặc biệt là ngành chăn nuôi lợn sinh sản đã chuyển từ chăn nuôi truyền thống sang chăn nuôi theo mô hình công nghiệp. Vĩnh Phúc là một trong những tỉnh chăn nuôi lợn tập trung với nhiều trang trại lớn và nhỏ, phương thức chăn nuôi công nghiệp vừa giải quyết việc làm vừa góp phần tăng thu nhập cho người lao động. Tính đến hết tháng 1/2020, toàn tỉnh đã có gần 1.000 hộ chăn nuôi, với tổng số lợn khoảng 23 nghìn con, bao gồm hơn 2.500 con lợn nái, lợn đực giống; hơn 20 nghìn con lợn thịt.
Để nâng cao năng suất chăn nuôi, chất lượng con giống là yếu tố quan trọng, vì chất lượng của đàn lợn nái sinh sản ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất, số lượng con giống và hiệu quả sản suất. Tuy nhiên, đối với lợn nái, nhất là lợn nái ngoại thì các bệnh về sinh sản xuất hiện khá phổ biến, do khả năng thích nghi của đàn nái ngoại với điều kiện khí hậu nước ta còn kém, đặc biệt là bệnh 2 ở cơ quan sinh dục như đẻ khó, viêm tử cung, viêm vú… Các bệnh này do nhiều yếu tố như điều kiện vệ sinh chăm sóc nuôi dưỡng kém, thức ăn, nước uống không đảm bảo vệ sinh, do vi khuẩn, virus gây nên. Vì vậy, việc nắm chắc quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho lợn nái sinh sản là việc cần thiết. Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn, được sự đồng ý của Ban chủ nhiệm Khoa Chăn nuôi Thú y - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên cùng với sự giúp đỡ của thầy giáo hướng dẫn và cơ sở nơi thực tập, chúng tôi đã thực hiện chuyên đề “Đánh giá năng suất sinh sản và một số biện pháp phòng trị bệnh trên đàn lợn nái sinh sản nuôi tại trại lợn công ty Phát Đạt – xã Cao Minh – thành phố Phúc Yên – tỉnh Vĩnh Phúc” 1.
Mục tiêu và yêu cầu của chuyên đề 1. Mục tiêu - Đánh giá tình hình chăn nuôi tại trang trại lợn công ty Phát Đạt, xã Cao Minh, thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc. - Thực hiện quy trình chăm sóc nuôi dưỡng cho lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ tại trại. - Nắm được các loại thức ăn dành cho lợn nái sinh sản, khẩu phần ăn và cách cho lợn nái ăn qua từng giai đoạn mang thai.
- Nắm được các bệnh hay xảy ra và đề xuất các biện pháp điều trị hiệu quả cho lợn nái sinh sản tại trại. Yêu cầu của chuyên đề - Đánh giá tình hình chăn nuôi tại trại chăn nuôi công ty Phát Đạt. - Áp dụng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng cho đàn lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ nuôi tại trại. - Xác định tình hình nhiễm bệnh trên đàn lợn nái sinh sản và áp dụng các biện pháp phòng trị bệnh.
- Chăm chỉ, học hỏi để nâng cao kỹ thuật, tay nghề của bản thân. 3 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Điều kiện cơ sở nơi thực tập. Điều kiện tự nhiên.
Vị trí địa lý Thành phố Phúc Yên nằm ở phía Đông Nam của tỉnh Vĩnh Phúc; cách trung tâm thủ đô 45 km về phía Bắc. Xã Cao Minh là một trong 2 xã của TP Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc. Cao Minh gồm 6 làng: Đức Cung, Yên Điềm, Cao Quang, Hiển Lễ, Xuân Hòa 1 và Xuân Hòa 2. Diện tích tự nhiên của cả xã có 1.
Trang trại chăn nuôi lợn Phát Đạt được xây dựng trên vùng bán sơn địa thuộc xã thôn Cao Quang, xã Cao Minh, thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc. + Phía Đông tiếp giáp phường Xuân Hòa. + Phía Tây giáp xã Bá Hiến và Sơn Lộ huyện Bình Xuyên. + Phía Nam giáp xã Nam Viêm.
+ Phía Bắc giáp xã Ngọc Thanh. Đây là điều kiện khá thuận lợi cho việc giao lưu buôn bán giữa các xã, huyện lân cận. Trại lợn và lò mổ chỉ cách chợ Xuân Hòa thành phố Phúc Yên 5km, nên có vị trí thuận lợi cho việc giao lưu kinh tế, giải quyết được một phần cho đầu ra. Điều kiện địa hình, đất đai Nhìn chung địa hình của xã thuộc vùng trung du miền núi, có đồi núi, đồng bằng và vùng trũng, địa hình thấp dần từ Bắc xuống Nam.
Diện tích đất canh tác là 717,40 ha. Xã có hai loại đất chính là đất feralit và phù xa cổ bồi đắp. Khí hậu Khí hậu là yếu tố quan trọng trong đời sống sinh hoạt của người dân cũng như trong chăn nuôi. Là vùng trung du, Cao Minh cũng như thành phố Phúc Yên chịu ảnh hưởng của vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, với nhiệt độ trung bình hàng năm là 23 - 24○C, có nét đặc trưng nóng ẩm mưa nhiều về mùa hè (từ tháng 4 đến tháng 9), hanh khô kéo dài và lạnh về mùa đông (từ tháng 10 đến tháng 3).
Độ ẩm không khí tương đối trung bình năm là 83%, độ ẩm cực tiểu tuyệt đối là 16%. Hướng gió chủ yếu về mùa đông là Đông - Bắc, về mùa hè là Đông – Nam. Khí hậu tương đối cho phát triển nông nghiệp đa dạng. Lượng mưa bình quân năm khoảng 1661mm nhưng phân bố không đều, thường tập trung vào các tháng 6,7,8.
Từ tháng 5 đến tháng 8, có nhiều mưa bão gây ảnh hưởng tới nông nghiệp và đời sống nhân dân. Nhìn chung, điều kiện khí hậu của xã là thuận lợi cho phát triển sản xuất nông nghiệp cả về trồng trọt và chăn nuôi. Tuy nhiên, chế độ khí hậu của xã cũng có một số hạn chế như úng lụt, hạn hán nên ảnh hưởng đến sản xuất của người dân, đồng thời là điều kiện thuận lợi cho vi sinh vật phát triển và gây bệnh. Chính vì vậy, việc phòng và trị bệnh cho đàn gia súc là quan trọng.
Giao thông, thủy lợi Trại có hệ thống giao thông thuận lợi kết nối với các khu vực trung tâm và các khu vực xung quanh; có đường liên thôn chạy qua gần khu vực trại đã được bê tông hóa, lòng đường rộng thuận lợi cho ô tô có thể ra vào trại để vận chuyển con giống, thức ăn, vật tư cũng như các sản phẩm chăn nuôi. Quá trình thành lập Trại chăn nuôi lợn công ty Phát Đạt là trang trại lợn tư nhân do ông Nguyễn Văn Tuấn lập nên, nằm tại thôn Cao Quang, xã Cao Minh, thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc. Trại bắt đầu hoạt động chăn nuôi từ năm 2009 với quy mô là 120 nái, đến năm 2013 công ty có mở thêm quy mô nái lên 300 nái 5 và 800 lợn thịt. Khu chăn nuôi mở rộng với quy mô khép kín.
Trại công ty đứng đầu là giám đốc thuê kỹ thuật, quản lí trại và công nhân. Cơ cấu tổ chức của trại Cơ cấu của trại được tổ chức như sau: + 01 giám đốc Công ty. + 01 kĩ sư công ty thức ăn chăn nuôi Green Feed. + 04 sinh viên thực tập.
Với đội ngũ công nhân trên, trại phân ra làm các tổ, nhóm khác nhau như tổ chuồng đẻ, tổ chuồng nái chửa, tổ chuồng thịt và tổ chuồng cai sữa. Mỗi một khâu trong quy trình chăn nuôi đều được khoán đến từng công nhân và sinh viên, nhằm nâng cao trách nhiệm, thúc đẩy sự phát triển của trại. Cơ sở vật chất và cơ sở hạ tầng của trại Trại lợn được xây dựng trên gần 5 ha đất gồm khu chuồng lợn nái đẻ, khu chuồng lợn nái mang thai, khu chuồng thịt, khu chuồng lợn hậu bị, khu chuồng đực, hệ thống nước, phòng thay đồ, hệ thống điện, kho thức ăn, kho thuốc, phòng pha tinh… Ngoài ra còn có nhà điều hành, nhà ở cho công nhân, bếp ăn và các công trình phụ phục vụ cho công nhân, sinh viên thực tập và các hoạt động khác của trại. Hệ thống chuồng nuôi xây dựng khép kín hoàn toàn.
Phía đầu chuồng là hệ thống giàn mát, cuối chuồng có 3 quạt thông gió đối với các chuồng đẻ, chuồng lợn nái chửa, chuồng thịt, 2 quạt thông gió đối với chuồng cách ly và 2 quạt thông gió đối với chuồng lợn đực và chuồng lợn loại. Hai bên tường có dãy cửa sổ lắp kính. Mỗi cửa sổ có diện tích 1,5 m2, cách nền 1,2 m, mỗi cửa sổ cách nhau 40 cm. Trên trần được lắp hệ thống chống nóng bằng tôn lạnh.
6 Hệ thống điện: nguồn cấp điện có điện lưới và máy phát dự phòng. Đối với chuồng chửa, hệ thống điện được cung cấp đầy đủ đảm bảo độ sáng phục vụ cho công tác chăm sóc nuôi dưỡng lợn nái bầu. Hệ thống nước trong khu chăn nuôi đều là nước giếng khoan. Nước tắm và nước xả gầm, phục vụ cho công tác khác, được bố trí từ các bể lọc và được bơm qua hệ thống ống dẫn tới bể chứa ở giữa các chuồng.
Trại có hệ thống dẫn nước và ống thoát nước thải đã qua xử lý xuống ao thả cá để kết hợp nuôi lợn với nuôi cá, từ đó nâng cao hiệu quả kinh tế của trại và hạn chế chất thải trong chăn nuôi thải ra ngoài môi trường. Phòng pha tinh của trại được trang bị các dụng cụ hiện đại như: kính hiển vi, thiết bị cảm ứng nhiệt, các dụng cụ đóng liều tinh, nồi hấp cách thủy và một số thiết bị khác. Hệ thống xử lý môi trường: chất thải được xử lý bằng hệ thống biogas trước khi thải ra môi trường, có giàn khử mùi phía sau quạt hút gió, có hố tiêu hủy lợn xa khu vực chăn nuôi. Một số dụng cụ và trang thiết bị khác: tủ lạnh bảo quản vaccine, tủ thuốc để bảo quản và dự trữ thuốc cho trại, xe chở cám từ nhà kho xuống chuồng, máy nén khí phun sát trùng di động khu vực ngoài chuồng nuôi.