Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về năng suất lao động và tăng năng suất lao động. Chương 2: Phƣơng pháp nghiên cứu. Chương 3: Đánh giá, Phân tích năng suất lao động của các doanh nghiệp chế biến trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên. Chương 4: Đề suất một số giải pháp nhằm không ngừng nâng cao năng suất lao động của các doanh nghiệp chế biến trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên.
5 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NĂNG SUẤT LAO ĐỘNG VÀ TĂNG NĂNG SUẤT LAO ĐỘNG 1. Khái niệm năng suất lao động Theo quan niệm truyền thống: năng suất lao động là tỷ số giữa đầu ra là kết quả sản xuất và đầu vào là lƣợng lao động để tạo ra kết quả sản xuất đó. Năng suất lao động đƣợc đo bằng số lƣợng sản phẩm sản xuất ra trong một đơn vị thời gian, hoặc bằng lƣợng thời gian lao động hao phí để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm. Theo quan điểm tiếp cận mới về năng suất lao động do ủy ban năng suất của hội đồng năng suất châu Âu đƣa ra: năng suất lao động là một trạng thái tƣ duy.
Nó là một thái độ nhằm tìm kiếm để cải thiện những gì đang tồn tại. Có một sự chắc chắn rằng ngày hôm nay con ngƣời có thể làm việc tốt hơn ngày hôm qua và ngày mai tốt hơn ngày hôm nay. Hơn nữa nó đòi hỏi những cố gắng không ngừng để thích ứng với các hoạt động kinh tế trong những điều kiện luôn thay đổi, luôn ứng dụng những lý thuyết và phƣơng pháp mới. Đó là sự tin tƣởng chắc chắn trong quá trình tiến triển của loài ngƣời.
Nhƣ vậy với quan niệm truyền thống, năng suất lao động chỉ thuần túy thể hiện mối tƣơng quan giữa “đầu ra” và “đầu vào”. Trong thực tế hiện nay ở Việt Nam thì năng suất lao động thƣờng đƣợc tính bằng giá trị sản xuất hoặc giá trị tăng thêm chia cho lao động làm việc bình quân (Lao động tạo ra các giá trị sản xuất hoặc giá trị tăng thêm). Trong luận văn này sử dụng chỉ tiêu giá trị tăng thêm của doanh nghiệp chế biến (cho phù hợp chung với chỉ tiêu đầu ra của năng suất lao động tính trên phạm vi toàn nền kinh tế quốc dân ở Việt Nam và thông lệ quốc tế. Cụ thể công thức nhƣ sau: 6 Giá trị tăng thêm Năng suất lao đông = Lao động làm việc bình quân Nếu đầu ra lớn hơn đạt đƣợc từ một đầu vào thì có thể nói năng suất lao động cao hơn.
Quan niệm truyền thống đề cập về mặt tĩnh và chủ yếu nhấn mạnh về mặt số lƣợng. Còn theo quan niệm mới thì năng suất lao động đƣợc hiểu rộng hơn, đó là tăng số lƣợng sản xuất đồng thời với tăng chất lƣợng đầu ra. Điều này có nghĩa là sử dụng một lƣợng lao động để sản xuất một khối lƣợng lớn các đầu ra có cùng chất lƣợng hoặc chất lƣợng cao hơn. Với quan niệm nhƣ vậy, năng suất có thể hiểu là trả ít hơn và nhận nhiều hơn mà không tổn hại đến chất lƣợng.
Năng suất lao động không chỉ phụ thuộc vào số lƣợng sản phẩm mà còn phụ thuộc rất nhiều vào chất lƣợng sản phẩm, đặc điểm của đầu ra và tính hiệu quả trong sản xuất. Năng suất lao động cao phải tạo ra những sản phẩm và dịch vụ có các đặc tính kinh tế kỹ thuật và chức năng sử dụng thỏa mãn nhu cầu của khách hàng và những đòi hỏi của xã hội, bảo vệ môi trƣờng, sử dụng tiết kiệm nguồn tài nguyên, ít gây ô nhiễm và không lãng phí trong quá trình sản xuất. Từ những quan niệm trên, ta có thể chỉ ra rằng: năng suất lao động là hiệu quả sản xuất của lao động có ích trong một đơn vị thời gian. Tăng năng suất lao động không chỉ đơn thuần là chỉ tiêu phản ánh lƣợng sản phẩm sản xuất ra tăng lên mà nó phải chỉ ra đƣợc mối quan hệ giữa năng suất- chất lƣợng- cuộc sống- việc làm và sự phát triển bền vững.
Tăng năng suất lao động, vai trò và ý nghĩa của tăng năng suất lao động 1. Khái niệm tăng năng suất lao động Tăng năng suất lao động là “sự tăng lên của sức sản xuất hay năng suất lao động, nói chung chúng ta hiểu là sự thay đổi trong cách thức lao động, một sự thay đổi làm rút ngắn thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra một hàng hóa sao cho lƣợng lao động ít nhất mà lại sản xuất ra nhiều giá trị sử 7 dụng hơn”. Điều đó có nghĩa là trong cùng một thời gian làm ra đƣợc nhiều sản phẩm hơn, hay làm ra một sản phẩm với hao phí lao động ít hơn. Vai trò và ý nghĩa tăng năng suất lao động Tăng năng suất lao động thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội của mọi quốc gia, là cơ sở quan trọng trong các quyết định ở tầm vi mô và vĩ mô.
Tác động quan tổng hợp nhất hay là mục tiêu của tăng năng suất lao động hiện nay là hoàn thiện chất lƣợng cuộc sống của con ngƣời trên toàn thế giới. Đối với các doanh nghiệp tăng năng suất lao động làm nâng cao khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp trên thị trƣờng. Có thể nói nâng cao năng lực cạnh tranh là một vấn đề quan trọng hàng đầu đặt ra đối với doanh nghiệp đặc biệt là trong nền kinh tế thị trƣờng nhƣ hiện nay. Bởi nâng cao năng lực cạnh tranh sẽ giúp doanh nghiệp bán đƣợc nhiều sản phẩm hơn trên thị trƣờng, tăng thị phần, tăng lợi nhuận… Mà năng suất lao động tăng thì làm giảm giá thành sản phẩm nhƣng đồng thời chất lƣợng sản phẩm cũng đƣợc cải tiến vì tiết kiệm đƣợc chi phí về tiền lƣơng trên một đơn vị sản phẩm.
Giá cả và chất lƣợng chính là hai yếu tố quyết định đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trƣờng. Tăng năng suất lao động là con đƣờng tăng tổng sản phẩm xã hội không có giới hạn, con đƣờng làm giàu cho mỗi quốc gia và từng thành viên trong xã hội. Để tăng tổng sản phẩm xã hội có 2 cách: tăng thời gian lao động hoặc tiết kiệm chi phí lao động cho một đơn vị sản phẩm. Việc tăng thời gian lao động có giới hạn.
Còn tăng năng suất lao động là vô hạn vì nó phụ thuộc vào tiến bộ của khoa học kỹ thuật, mà tiến bộ đó đƣợc thực tiễn chứng minh là vô hạn. Do đó, tăng năng suất lao động không phải là một hiện tƣợng kinh tế thông thƣờng mà là một quy luật kinh tế chung cho mọi hình thái kinh tế xã hội. 8 - Năng suất lao động tăng lên tạo cơ hội giảm thời gian hao phí lao động vào quá trình sản xuất vật chất, làm tăng khả năng thỏa mãn nhu cầu về tinh thần, tạo cơ hội cho con ngƣời phát triển toàn diện. - Năng suất lao động tăng là cơ sở vật chất cho mọi tiến bộ của xã hội.
Trong phạm vi một quốc gia, tăng năng suất lao động quốc gia tạo ra sức mạnh kinh tế của đất nƣớc và đƣợc xem nhƣ một trong những chỉ tiêu quan trọng nhất để đánh giá kết quả sản xuất kinh doanh. Tăng năng suất lao động quốc gia cũng là chỉ tiêu dùng để so sánh giữa các quốc gia trên thế giới để cho thấy quốc gia nào có sức mạnh kinh tế hơn quốc gia nào. Vì vậy việc tăng năng suất xã hội có ý nghĩa quan trọng đối với mọi đất nƣớc, nhằm củng cố vị trí của nƣớc mình trên trƣờng quốc tế. Trong phạm vi một tổ chức, một đơn vị, trƣớc hết tăng năng suất lao động làm cho giá thành sản phẩm giảm vì tiết kiệm đƣợc chi phí tiền lƣơng trong một đơn vị sản phẩm.
Tăng năng suất lao động cho phép giảm đƣợc số ngƣời làm việc, do đó cũng dẫn đến tiết kiệm đƣợc quỹ lƣơng; đồng thời lại tăng tiền lƣơng cho từng công nhân do hoàn thành vƣợt mức sản lƣợng. Năng suất lao động cao và tăng nhanh sẽ tạo điều kiện tăng quy mô và tốc độ của tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân, cho phép giải quyết các vấn đề tích lũy và tiêu dùng. Tăng năng suất lao động làm thay đổi cơ chế quản lý kinh tế. Đối với tỉnh Thái Nguyên nói chung (một tỉnh miền núi) và các doanh nghiệp công nghiệp nói riêng thì vấn đề tăng năng suất lao động có ý nghĩa quan trọng đặc biệt, vì năng suất lao động của Thái Nguyên thực tế còn quá thấp do trình độ công nghệ còn thấp và chƣa khai thác hết tiềm năng hiện có.
Muốn tăng trƣởng, phát triển kinh tế và cải thiện mức sống, Thái Nguyên nhất là các doanh nghiệp chế biến phải tìm mọi cách để tăng năng suất lao động. 9 Đó là biện pháp nhằm biến Việt Nam nói chung thành nƣớc công nghiệp hóa, hiện đại hóa, dân giàu, nƣớc mạnh, xã hội công bằng văn minh, và là biện pháp làm cho Thái Nguyên nói riêng phát triển nhanh chóng và vững chắc. Các nhân tố ảnh hưởng đến tăng năng suất lao động Có nhiều yếu tố ảnh hƣởng đến tăng năng suất lao động và mức độ tác động của các nhân tố sẽ khác nhau ở từng quốc gia theo các giai đoạn phát triển. Tuy nhiên, có thể phân loại thành các nhóm yếu tố sau: 1.
Các yếu tố về khoa học và công nghệ Việc phân tích các yếu tố cho phép rút ra kết luận về tác dụng của từng yếu tố đối với năng suất lao động, phải đặc biệt chú trọng đến vai trò của khoa học kỹ thuật, công nghệ sản xuất. Đó là yếu tố mạnh nhất làm tăng năng suất lao động. Trình độ kỹ thuật của sản xuất biểu hiện thông qua tính năng của công cụ sản xuất, trình độ sáng chế và sử dụng các đối tƣợng lao động, các quá trình công nghệ sản xuất. Tính năng của công cụ sản xuất là mực thƣớc quan trọng nhất để đo trình độ kỹ thuật sản xuất.
Ngày nay, ai cũng thừa nhận máy móc hiện đại là yếu tố mạnh mẽ nhất làm tăng năng suất lao động, sự phát triển của lực lƣợng sản xuất xã hội thƣờng bắt đầu từ sự thay đổi và phát triển của công cụ sản xuất, lấy máy móc thay thế cho lao động thủ công, lấy máy móc hiện đại thay thế cho máy móc cũ. Các yếu tố liên quan đến lao động - Do nhân tố lao động có tính quyết định trong việc kết hợp với các tƣ liệu lao động và đối tƣợng lao động để tạo ra các sản phẩm hàng hóa và dịch vụ cho xã hội, nên đây cũng là nhân tố có ảnh hƣởng mạnh đến năng suất lao động.