Chương 1: TONG QUAN VAN ĐÈ NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan về Ton thương bờ biển 1. Khái niệm Theo quan niệm thông thường, tính dé bị tổn thương thường được biểu thị thông qua cầu trúc của một hệ thống kinh tế - chính trị - xã hội hay môi trường và được tạo ra bởi 2 nhóm yếu tô là mức độ ton thất và khả năng chống chịu. Đối với các tổ chức quốc tế, đặc biệt là các tô chức hoạt động trong lĩnh vực liên quan đến tài nguyên - môi trường thì có những định nghĩa riêng về tính tổn thương tùy thuộc vào từng mục đích nghiên cứu và hoạt động (Tan, 2015).
Liên hợp quốc phân biệt 2 khái niệm quan trọng trong định nghĩa TDBTT. Trước tiên, phân biệt TDBTT kinh té va tính nhay cam (Sensitivity) sinh thai va cho rang ton thương kinh tế bao gồm cả các yếu tố sinh thái. Do vậy, TDBTT phan ánh tính nhạy cảm kinh tế và sinh thái đối với những sự cô hay biến động từ bên ngoài. Tiếp theo là phân biệt giữa TDBTT cấu trúc bắt nguồn từ tình hình chính trị và TBDTT bắt nguồn từ các chính sách kinh tế.
Theo đó, TDBTT được coi là sự mat mát/tốn thất do các hiện tượng tự nhiên có cường độ khác nhau. Theo quan niệm của Cục Bảo vệ Môi trường Hoa kỳ trong Chương trình đánh giá TDBTT vùng (Regional Vulnerability Assessment Programme) thì TDBTT của một hệ thong là mức độ tốn thất của hệ đó dưới tac động cua một áp lực nao đó từ bên ngoài hay bên trong hệ thống. Ví dụ, suy thoái chất lượng nước mặt và ô nhiễm môi trường khí là căn cứ dé nhận biết TDBTT của hệ môi trường. Liên quan đến khía cạnh BĐKH, TDBTT do BĐKH là mức độ mà hệ thống dé bị tác động và không có khả năng chống chịu trước những tác động bất lợi (IPCC, 2007).
Như vậy, theo các định nghĩa trên thi TDBTT gém 2 yếu tố: 1) Mức độ tốn that, suy thoái của (hệ thống) va; 2) Mức độ chống chịu, phục hồi, ứng phó của đối tượng bi ton thương. Theo cách tiếp cận này, định nghĩa TDBTT của tải nguyên — môi trường biển là mức độ tôn that, suy thoái về tài nguyên — môi trường biên, mức độ chong chịu, phục hôi, ứng phó của tài nguyên — môi trường biên trước các tác động từ bên ngoài (tai biến và các hoạt động nhân sinh) (Tân, 2012). Biến đối khí hậu và nước biến dâng 1. Tong quan về BĐKH toàn cầu Biến đổi khí hậu Trái Đấtlà sự thay đổi của hệ thống khí hậu gồm khí quyền, thủy quyền, sinh quyền, thạch quyền hiện tại và trong tương lai bởi các nguyên nhân tự nhiên và nhân tạo trong một giai đoạn nhất định từ tính băng thập kỷ hay hàng triệu năm.
Sự biến đổi có thé là thay đổi thời tiết bình quân hay thay đổi sự phân bố các sự kiện thời tiết quanh một mức trung bình. Sự biến đối khí hậu có thế giới hạn trong một vùng nhất định hay có thế xuất hiện trên toàn Địa Câu. Trong những năm gan đây, đặc biệt trong ngữ cảnh chính sách môi trường, biến đổi khí hậu thường dé cập tới sự thay doi khí hậu hiện nay, được gọi chung bằng hiện tượng nóng lên toàn cầu. Nguyên nhân chính làm biến đổi khí hậu Trái Đất là do sự gia tăng các hoạt động tạo ra các chất thải khí nhà kính, các hoạt động khai thác quá mức các bé hap thụ và bể chứa khí nhà kính như sinh khối, rừng, các hệ sinh thái biển, ven bờ và đất liền khác.
Chính sự tan băng ở Greenland, Bắc cực và Nam cực đã làm cho mực nước biến tăng nhanh hơn trong thời kỳ 1993 - 2003. Ngoài ra, nhiệt độ trung bình cua đại dương toàn cầu tăng lên (ít nhất là tới độ sâu 3000 m) cũng góp phần vào sự tăng lên của mực nước biến (IPCC, 2007). Số liệu vệ tinh cho thấy, diện tích biển băng trung bình năm ở Bắc Cực đã thu hẹp 2,7%/thap kỷ. Riêng mùa hè giảm 7,4%/thap ky.
Diện tích cực đại của lớp phủ băng theo mùa ở Bac bán cầu đã giảm 7% kế từ năm 1990, riêng trong mùa xuân giảm tới 15%. Tại Hội nghị quốc tế về bién đối khí hậu họp tại Bruxen (Bì), các báo cáo khoa học cho biết, ở Bac cực, khối băng dày 2 dặm (khoảng trên 3 km) dang mỏng dan va đã mỏng đi 66 cm. Ở Nam Cực, băng cũng dang tan với tốc độ chậm hơn và những núi băng ở Tây Nam cực đồ sụp. Những lớp băng vĩnh cửu ở Greenland tan chảy.
Ở Alaska (Bắc Mỹ, trong những năm gan đây nhiệt độ đã tăng 1,5°C so với trung bình nhiều năm, làm tan băng và lớp băng vĩnh cửu đã giảm 40%, những lớp băng hàng năm dày khoảng 1,2 m đã giảm 4 lần, chi còn 0,3 m. Báo cáo cũng cho biết, các núi băng trên cao nguyên Thanh Hải (Trung Quốc) ở độ cao 5000 m mỗi năm giảm trung 7 bình 7% khối lượng và 50 - 60 m độ cao, uy hiếp nguồn nước của các sông lớn ở Trung Quốc. Trong 30 năm qua, trung bình mỗi năm, diện tích lớp băng trên cao nguyên Tây Tạng bị tan chảy khoảng 131 km2, chu vi vùng băng tuyết bên sườn cao nguyên mỗi năm giảm 100 - 150 m, có nơi tới 350 m. Diện tích các dam lầy trong khu vực này cũng giảm 10%.
Tất cả đang làm cạn kiệt hồ nước Thanh Hải, một hồ lớn nhất Trung Quốc, đe dọa hồ sẽ bị biến mất trong vòng 200 năm tới. Nếu nhiệt độ trái đất tiếp tục tăng, khối lượng băng tuyết ở khu vực cao nguyên sẽ giảm 1/3 vào năm 2050 và chỉ còn 1/2 vào năm 2090. Nguyên nhân dẫn tới BĐKH: Phần lớn các nhà khoa học đều khăng định rằng hoạt động của con người đã và đang làm BĐKH toàn cầu. Nguyên nhân chủ yếu của sự biến đổi đó là sự tăng nông độ khí nhà kính trong khí quyến dẫn đến tăng hiệu ứng nhà kính.
Đặc biệt quan trong là khí CO, được tạo thành do sử dụng năng lượng từ nhiên liệu hóa thạch (như dầu mỏ, than đá, khí tự nhién.), phá rừng và chuyển đổi sử dụng đất. Đề đánh giá vai trò của khí nhà kính đến BĐKH cần xét 4 đặc trưng sau: -Thay đổi nông độ khí nhà kính; -Đặc tính hấp thụ bức xạ của khí nhà kính; -Thời gian tôn tại (tuổi thọ) của khí nhà kính; - Tác động qua lại giữa các khí nhà kính. Khí quyền hiện nay có khoảng 750 tỷ tan cacbon. Đại dương chứa lượng cacbon gấp khoảng 50 lần, sinh quyền trái đất khoảng 3 lần và lục địa khoảng 5 lần nhiều hơn trong khí quyền.
Số liệu về sản xuất năng lượng cho thay nỗng độ CO, tăng hàng năm khoảng 4,4% cho tới khi có cuộc khủng hoảng năng lượng năm 1975. Sau đó, mức tăng giảm dần vào khoảng năm 1980 mặc dù có biến động hàng năm. Theo những đánh giá mới nhất, than và dầu hỏa góp phan thải CO, gần tương đương nhau (khoảng 40%), khí đốt khoảng 20%, tuy mức thải CO, cho mỗi đơn vị khối lượng của từng loại nhiên liệu có khác nhau. Nhu cau về năng lượng của nhân loại ngày càng nhiều, trong đó năng lượng hóa thạch chiếm phan lớn.
Mac dù năng lượng hạt nhân hoặc một số dạng năng lượng sạch khác có xu hướng tăng lên nhưng vân chỉ chiêm một phần nhỏ so với nhu câu năng 8 lượng nói chung. Sử dụng nhiều năng lượng hóa thạch là nguyên nhân làm tăng đáng kế nông độ khí CO, trong khí quyên, trong đó các nước phát triển đóng góp phan lớn. Tăng nông độ khí nhà kính dẫn đến tăng hiệu ứng nhà kính của khí quyền và kết quả là tăng nhiệt độ trung bình bề mặt trái đất. Trên phạm vi khu vực, sự phát ra những chất khí và những phần tử gay 6 nhiễm khác dẫn đến những tác động lớn, mặc dù một SỐ trong các khí đó có thé có tác động ngược lại.
Ví dụ, chất muội mé hóng (sooty aerosols) có khuynh hướng làm khí hậu khu vực âm lên, trong khi chất sunfat làm lạnh đi bởi phản xạ ánh sáng mặt trời nhiều hơn. Trong khi ta có cảm giác chịu tác động trực tiếp ở các vùng công nghiệp, các chất sol khí này còn có thể tác động gián tiếp lên nhiệt độ trung bình toàn cầu. Việc sử dụng nhiên liệu hóa thạch phát thải 70 - 90% lượng CO; vào khí quyền. Năng lượng hóa thạch được sử dụng trong giao thông vận tải, chế tạo các thiết bị điện: tủ lạnh, hệ thống điều hòa nóng lạnh và các ứng dụng khác.
Lượng CO; còn do hoạt động trong nông nghiệp và khai thác rừng (kế cả cháy rừng), khai hoang và công nghiệp. Tiêu thụ năng lượng do đốt các nhiên liệu hóa thạch đóng góp khoảng một nửa (46%) vào tiêm năng nóng lên toàn cau. Phá rừng nhiệt đới đóng góp khoảng 18% và hoạt động nông nghiệp tạo ra khoảng 9% tổng số các khí thải gây ra lượng bức xạ cưỡng bức làm nóng lên toàn câu. Sản phẩm hóa học (CFC, Halon.): 24% và các nguôn khác như chôn rác dưới dat, nhà máy xi mang.
Theo đánh giá lần thứ 4 của Ban liên Chính phủ về biến đổi khí hậu (IPCC, 2007) đã nhận định rằng sự nóng lên của hệ thống khí hậu trái đất hiện nay là chưa từng có, điều đó đã được minh chứng từ những quan trắc về sự tăng lên của nhiệt độ không khí và đại dương trung bình toàn cầu, sự tan chảy băng và tuyết trên phạm vi rộng lớn, sự dâng lên của mực nước biển trung bình toàn cầu. Nhiệt độ trung bình toàn cầu tăng khoảng 0,74°C trong thời kỳ 1906 - 2005, tốc độ tăng của nhiệt độ trong 50 năm gần đây gần gấp đôi so với 50 năm trước đây. Hai năm được công nhận có nhiệt độ trung bình toàn cầu cao nhất từ trước đến nay là 1998, 2005; 11/12 năm gần đây (1995 - 2006) năm trong số 12 năm nóng nhất trong chuôi sô liệu quan trac. Nhiệt độ trên luc địa tăng rõ rệt và nhanh hon han so với nhiệt 9 độ trên đại dương với thời kỳ tăng nhanh nhất là mùa đông (tháng XII, I, II) và mùa xuân (tháng III, IV, V).
Nhiệt độ cực trị cũng có chiều hướng biến đôi tương tự như nhiệt độ trung bình (OCCA, 2016). Thay đồi nhiệt độ toàn cau giai đoạn 1860 — 1999 (Nguồn: OCCA, 2016) Lượng mưa có chiều hướng tăng lên trong thời kỳ 1900 - 2005 ở phía Bắc vĩ độ 30°N, tuy nhiên lại có xu hướng giảm đáng kế từ năm 1970 ở vùng nhiệt đới. Lượng mưa ở khu vực từ 10°N đến 30°N tăng lên từ năm 1900 đến 1950 ở vùng nhiệt đới và giảm trong thời kỳ sau đó.