MỞ ĐẦU Ngày nay, kinh tế tuần hoàn (KTTH) là một cách thức chuyển đổi phù hợp trong bối cảnh toàn thế giới nỗ lực thực hiện các mục tiêu của phát triển bền vững (PTBV) và ứng phó với biến đổi khí hậu (BĐKH). Việc áp dụng, chuyển đổi mô hình sản xuất theo hướng KTTH sẽ giúp giảm khai thác tài nguyên và đồng thời giảm phát thải, trong đó có giảm phát thải các khí nhà kính (KNK). Trong đó, nền sản xuất nông nghiệp đang chuyển hướng sang con đường sản xuất nông nghiệp hữu cơ, một số mô hình tái sử dụng nguồn phụ phẩm nông nghiệp nhằm tận thu nguồn lợi từ quá trình đào thải đã được hình thành và thu được kết quả bước đầu, đó là ứng dụng KTTH vào nông nghiệp không chất thải. Phân bón là yếu tố then chốt góp phần tăng năng suất cũng như chất lượng cây trồng.
Theo số liệu thống kê của Hiệp hội Phân bón, năm 2022, Việt Nam đã nhập khẩu khoảng 3,35 triệu tấn phân bón, chủ yếu là phân bón vô cơ. Việc lạm dụng phân bón vô cơ không chỉ tiềm ẩn nguy cơ suy thoái đất, suy giảm hệ sinh thái, giảm chất lượng môi trường mà còn làm ảnh hưởng đến sức khỏe con người và động vật. Hoạt động sản xuất nông nghiệp tại huyện Ba Vì là một điển hình cho nền nông nghiệp của thành phố Hà Nội. Bên cạnh các nông sản chính cung cấp cho thị trường, Ba Vì cũng tạo ra hàng trăm nghìn tấn phụ phẩm nông nghiệp mỗi năm và đang bị bỏ phí.
Nếu nguồn chất thải này không được xử lý hiệu quả trước khi xả ra sẽ gây ô nhiễm môi trường (ONMT), ảnh hưởng tới cảnh quan sinh thái và đặc biệt đến sức khỏe con người. Do đó, định hướng chuyển dịch kinh tế tuyến tính (KTTT) sang KTTH là giải pháp giải quyết hiệu quả các vấn đề liên quan đến kinh tế và bảo vệ môi trường. Ngoài ra, để KTTH thực sự đi vào thực tiễn và có hiệu quả, cần đánh giá được hiện trạng, năng lực và tính sẵn sàng của các hộ sản xuất, kinh doanh trong việc chuyển đổi mô hình KTHH, xem xét lại toàn diện những vấn đề đã và đang là rào cản gây khó khăn cho hộ sản xuất, doanh nghiệp và người dân, từ đó đề xuất các giải pháp phù hợp và kịp thời trong tương lai. Đề tài “Đánh giá mô hình sản xuất phân hữu cơ theo định hướng KTTH tại hợp tác tác xã BAVIFA, huyện Ba Vì, thành 1 phố Hà Nội” trình bày nghiên cứu về KTTH được áp dụng trong sản xuất phân hữu cơ tại hợp tác xã BAVIFA, huyện Ba Vì.
Đồng thời cũng qua nghiên cứu, định nghĩa “kinh tế tuần hoàn trong nông nghiệp” và cơ sở xây dựng “bộ các tiêu chí trong kinh tế tuần hoàn” cũng được làm rõ. Tổng quan về Kinh tế tuần hoàn 1. Định nghĩa Kinh tế tuần hoàn Theo quá trình phát triển, hiện nay đã và đang tồn tại ba mô hình kinh tế chính là mô hình kinh tế tuyến tính (KTTT), mô hình kinh tế tái chế (KTTC) và mô hình KTTH (Hình 1. Tài nguyên thiên nhiên Tài nguyên thiên nhiên Tài nguyên thiên nhiên Khai thác Khai thác Khai thác Sản xuất, chế biến Sản xuất, chế biến Sản xuất, chế biến Tái chế Tái chế Thu hồi Sử dụng, tiêu dùng Sử dụng, tiêu dùng Sử dụng, tiêu dùng Thải bỏ Thải bỏ Sửa chữa Tái sử dụng Mô hình kinh tế Mô hình kinh tế Mô hình kinh tế tuyến tính tái chế tuần hoàn Hình 1.
Các mô hình kinh tế tại Việt Nam [1] Mô hình KTTT là mô hình kinh tế truyền thống mà trong đó, các hoạt động kinh tế thường bắt đầu từ công đoạn khai thác nguyên liệu thô, sản xuất, chế biến thành các sản phẩm, sử dụng và cuối cùng là thải bỏ. KTTT là sự biến đổi tài nguyên thành các chất thải. Đây là mô hình gây suy giảm, cạn kiện tài nguyên thiên nhiên và gây ô nhiễm môi trường. Mô hình KTTC khắc phục được một phần hạn chế của mô hình KTTT thông qua hoạt động tái chế một phần giá trị của chất thải.
Một phần chất thải được nhìn nhận như một nguồn tài nguyên thứ cấp để khai thác thay thế cho nguồn tài nguyên thiên nhiên [1]. 3 Mô hình KTTH đến nay, đã có nhiều tài liệu đưa ra các khái niệm khác nhau do cách tiếp cận từ các góc độ nghiên cứu và ứng dụng có tính đặc thù riêng, một số định nghĩa được nêu ra: - Khái niệm KTTH được sử dụng chính thức đầu tiên bởi Pearce và Turner (1990) [2]. Được dùng để chỉ mô hình kinh tế mới dựa trên nguyên lý cơ bản “mọi thứ đều là đầu vào đối với thứ khác”, hoàn toàn không giống với cách nhìn của nền KTTT truyền thống. KTTH có thể được hiểu là mô hình kinh tế trong đó các hoạt động thiết kế, sản xuất và dịch vụ đặt ra mục tiêu kéo dài tuổi thọ của vật chất và loại bỏ tác động tiêu cực đến môi trường.
Sự tuần hoàn thể hiện trong tái sử dụng, thông qua chia sẻ, sửa chữa, tân trang, tái chế và tái sản xuất… tạo lập các vòng lặp khép kín, nhằm giảm tối thiểu nguyên liệu đầu vào, lượng phế thải, khí thải và giảm mức độ ô nhiễm. - Preston (2012) đưa ra định nghĩa “Nền KTTH là một cách tiếp cận có thể chuyển đổi chức năng của các nguồn lực trong nền kinh tế. Chất thải từ nhà máy sẽ trở thành nguyên liệu đầu vào có giá trị cho một quá trình khác - các sản phẩm có thể được sửa chữa, tái sử dụng hoặc nâng cấp thay vì vứt bỏ” [3]. - Quỹ Ellen MacArthur (2013): Định nghĩa KTTH là một hệ thống có tính tái tạo và khôi phục thông qua các kế hoạch và thiết kế chủ động.
Nó thay thế khái niệm “kết thúc vòng đời” của vật liệu bằng khái niệm khôi phục, chuyển dịch theo hướng sử dụng năng lượng tái tạo, không dùng các hóa chất độc hại gây tổn hại tới việc tái sử dụng và hướng tới giảm thiểu chất thải thông qua việc thiết kế vật liệu, sản phẩm, hệ thống kỹ thuật và cả các mô hình kinh doanh trong phạm vi của nó [4]. - Căn cứ Điều 142, Luật Bảo vệ môi trường 2020 có quy định riêng về KTTH, theo đó KTTH ở Việt Nam được xác định là “là mô hình kinh tế trong đó các hoạt động thiết kế, sản xuất, tiêu dùng và dịch vụ nhằm giảm khai thác nguyên liệu, vật 4 liệu, kéo dài vòng đời sản phẩm, hạn chế chất thải phát sinh và giảm thiểu tác động xấu đến môi trường”. Nguyên tắc của Kinh tế tuần hoàn Các nghiên cứu khác nhau trên thế giới và đưa ra 3 nguyên tắc cơ bản của KTTH, đó là: (1) Sử dụng ít tài nguyên sơ cấp hơn; (2) Duy trì giá trị cao nhất của nguyên liệu và sản phẩm; (3) Thay đổi mô hình sử dụng sản phẩm [6]. (1) - Sử dụng ít tài nguyên sơ cấp hơn.
Để bảo đảm nguyên tắc này cần thực hiện các quy trình: tái chế, sử dụng tài nguyên hiệu quả hơn, tận dụng các nguồn năng lượng có thể tái tạo. Là việc tái đưa các nguyên liệu còn sót lại vào quy trình sản xuất để chúng có thể được sản xuất lại thành các sản phẩm mới. Đây là cách truyền thống nhất để thực hiện các nguyên tắc KTTH bằng cách nắm bắt giá trị của các sản phẩm và nguyên liệu hiện có và giảm việc sử dụng nguyên liệu chính. Giảm việc khai thác các nguồn tài nguyên sơ cấp thông qua tái chế có thể mang lại nhiều lợi ích về môi trường và cũng giúp giảm phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính liên quan đến việc sử dụng tài nguyên vật liệu.2) - Sử dụng tài nguyên hiệu quả hơn.
Là sản xuất sạch hơn, tập trung vào việc đạt được hiệu quả nguyên vật liệu và năng lượng trong các quá trình sản, sử dụng cẩn thận tài nguyên, thay thế các tài nguyên không tái tạo hoặc có tuổi thọ ngắn. Để sản xuất sạch hơn cần phải cải tiến quy trình sản xuất và bảo quản nguyên liệu thô, giảm tiêu thụ năng lượng, giảm phát thải chất ô nhiễm và độc hại ra ngoài môi trường.3) - Tận dụng các nguồn năng lượng có thể tái tạo được. Việc sử dụng ngày càng nhiều các nguồn năng lượng tái tạo là yêu cầu cốt lõi để chuyển đổi sang KTTH. (2) - Duy trì giá trị cao nhất của nguyên liệu và sản phẩm.
Nguyên tắc này có thể được bảo đảm bằng các quy trình: tái sản xuất, tận dụng và tái sử dụng các sản phẩm, phụ trợ và gia hạn tuổi thọ sản phẩm.1) - Tái sản xuất, tận dụng và tái sử dụng các sản phẩm và linh kiện. Là 5 việc các sản phẩm sau khi đã qua sử dụng sẽ được phục hồi và chế tạo thành các sản phẩm mới. Trong quá trình tận dụng và tái sản xuất, các bộ phận cốt lõi của sản phẩm được khôi phục để duy trì giá trị. Tái sản xuất là quy trình chuyên sâu hơn nhằm khôi phục sản phẩm về tình trạng như mới.
Tận dụng là việc khôi phục ít chuyên sâu hơn cho sản phẩm. Tái sử dụng sản phẩm là tái sử dụng trực tiếp hoặc bán lại toàn bộ hoặc một phần của sản phẩm.2) - Kéo dài tuổi thọ sản phẩm. Là chú trọng nhiều hơn vào giai đoạn thiết kế vòng đời sản phẩm. Điều này sẽ dẫn đến phải tiêu chuẩn hóa các thành phần về kích thước hoặc vật liệu.
Ví dụ, trong lĩnh vực xây dựng việc kéo dài tuổi thọ sản phẩm được thực hiện bằng cách thiết kế các thành phần môđun được sử dụng trong xây dựng. Các thành phần tiêu chuẩn hóa này có thể được tái sử dụng hoặc thay thế và sử dụng trong cơ sở hạ tầng hoặc trong lĩnh vực công nghiệp khác. (3) - Thay đổi trong phân phối và sử dụng sản phẩm. Nguyên tắc này được bảo đảm bằng các mô hình: sản phẩm như dịch vụ, chia sẻ sử dụng, thay đổi mô hình tiêu dùng.1)- Sản phẩm như dịch vụ.
Là cách thức cung cấp sản phẩm cho người tiêu dùng thuê để sử dụng chứ không phải là bán các sản phẩm hữu hình cho họ.2) - Chia sẻ sử dụng. Là tìm cách giảm việc sử dụng sản phẩm đến mức không thể tái chế, tái sử dụng. Các mô hình chia sẻ sử dụng góp phần tạo ra vốn xã hội đích thực và ý thức cộng đồng. Mô hình này cũng có thể có hình thức chia sẻ công nghệ và cơ sở hạ tầng.3) - Thay đổi mô hình tiêu dùng: Những tiến bộ về công nghệ thông tin có thể dẫn đến thay đổi mô hình tiêu dùng.