Đặt vấn đề Rừng được mệnh danh là “lá phổi xanh” của Trái Đất, rừng có vai trò quan trọng trong việc duy trì cân bằng sinh thái và sự đa dạng sinh học trên hành tinh chúng ta. Rừng là tài nguyên quý giá, là một bộ phận quan trọng của môi trường sống, luôn gắn liền với đời sống của đồng bào các dân tộc miền núi. Rừng không chỉ có giá trị về kinh tế mà còn có ý nghĩa rất lớn trong nghiên cứu khoa học, bảo tồn nguồn gen, bảo tồn đa dạng sinh học, điều hoà khí hậu, phòng hộ đầu nguồn, hạn chế thiên tai, ngăn chặn sự hoang mạc hoá, chống sói mòn, sạt lở đất, ngăn ngừa lũ lụt, đảm bảo an ninh quốc phòng, đồng thời rừng cũng tạo cảnh quan phục vụ cho du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng. Rừng và đất rừng chiếm khoảng 2/3 diện tích đất đai cả nước, là tư liệu và đối tượng lao động chủ yếu trên 24 triệu đồng bào thuộc 54 dân tộc sinh sống, đồng thời cũng là nhân tố quyết định hàng đầu góp phần bảo vệ môi trường sinh thái.
Hiện nay, tài nguyên rừng đang suy giảm ở mức báo động. Nguyên nhân làm suy giảm tài nguyên rừng có nhiều song chủ yếu là do sự can thiệp vô ý thức của con người như: chặt phá rừng bừa bãi, đốt nương làm rẫy, săn bắn chim thú rừng và những sai lầm khác về mặt lâm sinh. Ngoài ra do sức ép của sự gia tăng dân số, nhu cầu vật chất và xã hội không ngừng tăng lên. Bên cạnh đó công tác quản lý, bảo vệ rừng còn nhiều bất cập, nạn cháy rừng hàng năm thường xảy ra, sâu bệnh hại phát triển gây ra những trận dịch lớn, ăn hại hàng nghìn hecta rừng trồng.
Bởi vậy, việc bảo vệ rừng và nguồn tài nguyên rừng luôn trở thành một nội dung, một yêu cầu không thể trì hoãn đối với tất cả các quốc gia trên thế 2 giới trong cuộc chiến nhằm bảo vệ môi trường sống đang bị hủy hoại ở mức báo động. Việt Nam là một nước nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa. Do vị trí địa lý nên Việt Nam được coi là một trong những trung tâm ĐDSH của Đông Nam Á. Từ kết quả nghiên cứu khoa học trên lãnh thổ Việt Nam, các nhà khoa học nhận định Việt Nam là một trong mười nước ở châu Á và một trong mười sáu nước trên thế giới có tính ĐDSH cao.
Hiên nay trong nhiều vùng rừng tự nhiên của nước ta đã mất rừng do sử dụng phương thức khai thác – tái sinh không đáp ứng được lợi ích lâu dài của nền kinh tế và bảo vệ môi trường. Các phương thức khai thác - tái sinh không hợp lý đã và đang làm cho rừng tự nhiên suy giảm cả về số lượng lẫn chất lượng. Ở Việt Nam, năm 1943 diên tích rừng còn khoảng 14,3 triệu ha, tỷ lệ che phủ khoảng 43%. Đến năm 1999, theo số liệu thống kê chỉ còn 10,9 triệu ha rừng, trong đó 9,4 triệu ha rừng tự nhiên và 1,5 triệu ha rừng trồng và độ che phủ tương ứng khoảng 33,2%.
Do vậy, việc tái sinh tự nhiên là một trong những biện pháp và nhiệm vụ quan trọng. Khu Bảo tồn loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc được thành lập theo Quyết định số 342/QĐ-UB ngày 17/3/2004 của UBND tỉnh Bắc Kạn với diện tích 1.788 ha, nằm trên địa bàn các xã Đồng Lạc, Xuân Lạc và Bản Thi. Trong khu vực có khoảng 373 loài động vật, trong đó có 20 loài quý hiếm, hệ thực vật khá phong phú gồm 515 loài thực vật bậc cao, trong đó có 30 loài quý hiếm được ghi trong sách đỏ Việt Nam. Có những loài tưởng như đã tuyệt chủng trong vòng 25 năm qua như: Vạc hoa lại được phát hiện xuất hiện tại khu bảo tồn này.
Hiện nay nguồn tài nguyên rừng của chúng ta đang bị suy giảm nghiêm trọng, kéo theo đa dạng sinh học cũng bị giảm trong đó có cả cây có giá trị chưa kịp nghiên cứu cũng đã mất dần, việc nghiên cứu phát hiện và bảo tồn tiến đến sử dụng bền vững bền vững tài nguyên cây rừng là một vấn đề rất cần 3 thiết trong giai đoạn hiện nay. Đối với khu bảo tồn loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc cũng đang phải đối mặt với sự suy giảm tài nguyên nghiêm trọng, đòi hỏi phải củng cố thêm công tác bảo vệ và phát triển khu bảo tồn này một cách lâu dài và bền vững hơn xuất phát từ lý do trên tôi tiến hành nghiên cứu đề tàì "Đánh giá phân loại kiểu thảm thực vật rừng tại Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc, Huyện Chợ Đồn, Tỉnh Bắc Kạn” 1. Mục tiêu và yêu cầu của của đề tài - Nghiên cứu phân loại, mô tả cấu trúc, xác định chỉ số đa dạng thực vật thân gỗ và đa dạng tầng cây tái sinh của các kiểu thảm thực vật rừng tại khu bảo tồn loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc - Đề xuất một số giải pháp bảo tồn và phát triển các kiểu thảm thực vật rừng tại khu vực nghiên cứu. Ý nghĩa nghiên cứu của đề tài 1.
Ý nghĩa trong khoa học Đề tài nhằm bổ sung những thông tin về đa dạng thảm thực vật rừng và những yếu tố ảnh hưởng đến đa dang thảm thực vật rừng tại khu bảo tồn loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc làm cơ sở cho quản lý và bảo tồn thảm thực vật rừng nói chung và bảo tồn thảm thực vật rừng ở các khu bảo tồn nói riêng. Ý nghĩa trong thực tiễn Qua việc thực hiện đề tài sẽ giúp sinh viên làm quen với việc nghiên cứu khoa học, cũng cố kiến thức đã học, vận dụng lý thuyết vào thực tế, biết cách thu thập, phân tích và xử lý thông tin cũng như kỹ năng tiếp cận và làm việc với cộng đồng thôn bản và người dân. Các kết quả nghiên cứu và đề xuất của đề tài có thể áp dụng vào việc quản lý và bảo tồn thảm thực vật rừng tại khu bảo tồn loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc và các điạ bàn có điều kiện tương tự. 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN VỀ TÀI LIỆU 2.Cơ sở khoa học của đề tài Thuật ngữ "đa dạng sinh học" (Biodiversity hay biological diversity) lần đầu tiên được Norse and McManus (1980) giới thiệu, bao gồm hai khái niệm có liên quan với nhau là đa dạng di truyền (tính đa dạng về mặt di truyền trong một loài) và đa dạng sinh thái (số lượng các loài trong một quần xã sinh vật).
“Đa dạng sinh học là sự phong phú của mọi cơ thể sống có từ tất cả các nguồn trong hệ sinh thái trên cạn, ở biển và các hệ sinh thái dưới nước khác, và mọi tổ hợp sinh thái mà chúng tạo nên, ĐDSH bao gồm sự đa dạng trong loài (đa dạng di truyền), giữa các loài và các hệ sinh thái” – Công ước đa dạng sinh học, 1992. Vì thế giới sự sống chủ yếu được xem xét ở khía cạnh các loài, nên thuật ngữ ĐDSH thường được dùng như một từ đồng nghĩa của "đa dạng loài", hay "sự phong phú về loài", thuật ngữ dùng để chỉ số lượng loài trong một vùng hoặc một nơi cư trú. Là một HST đặc thù bởi tính đa dạng về loài, rừng gắn liền với việc bảo tồn nguồn gen hay đa dạng các loài, đặc biệt là trong bối cảnh biến đổi hệ thống sinh thái - môi trường do tác động của con người diễn ra với tốc độ ngày càng nhanh và phức tạp. Những biến đổi này được gây ra: - Trực tiếp bởi việc thúc đẩy hoặc loại bỏ một số loài động, thực vật nhất định của các ngành sản xuất (nông, lâm nghiệp, săn bắn).
- Gián tiếp thông qua sự thay đổi khí hậu, ô nhiểm môi trường, sức ép dân số, độc canh và khai thác trắng, … làm thu hẹp cảnh quan tự nhiên, môi trường sống của các loài. Rừng nguyên sinh có những đặc điểm khác biệt cơ bản về thành phần, cấu trúc và chức năng so với các giai đoạn diễn thế trước đó và thể hiện tiềm 5 năng nguồn gen được chọn lọc và thích ứng cao. Tuy nhiên, diện tích rừng nguyên sinh ngày càng bị thu hẹp. Do vậy các nghiên cứu về những lâm phần rừng nguyên sinh còn lại trên thế giới cần phải làm rõ các tính chất đặc biệt của chúng.
Rừng nguyên sinh cùng với các loài và chu trình vật chất của nó là một bộ phận cơ bản của ĐDSH đang bị đe doạ trên phạm vi thế giới. Vì vậy, việc bảo tồn hay phục hồi các khu rừng, đặc biệt rừng nguyên sinh là mục tiêu chính của các chương trình bảo vệ. Mối quan hệ giữa các loài trong tự nhiên là vấn đề rất phức tạp, trong rừng tự nhiên, đặc biệt là trong rừng tự nhiên hỗn loài, sự đa dạng về loài làm phong phú thêm về cơ cấu mạng lưới thức ăn. Một số tác giả sau khi nghiên cứu đã đi đến kết luận rằng, sự phong phú của loài đã làm tăng tính ổn định về mặt sinh thái cho quần xã sinh vật sinh trưởng, phát triển và lúc đó lượng sinh khối trên một đơn vị diện tích là tối đa.
Trước đây, khi nghiên cứu sự phong phú về loài, các nhà khoa học chỉ mới dừng lại ở mức độ định tính, mô tả. Các nghiên cứu mới đây nhất đã sử dụng một số chỉ số nhằm đánh giá mức độ đa dạng các loài thực vật thông qua Chỉ số Simpson, Hàm số liên kết Shannon - Weaver (H'), chỉ số hợp lý. Tình hình trong và ngoài nước 2. Tình hình nghiên cứu trên thế giới 2.
Các nghiên cứu liên quan đến ĐDSH Trước nguy cơ mất ĐDSH một cách nhanh chóng trên phạm vi toàn thế giới nhiều công trình nghiên cứu khoa học liên quan đã ra đời. Công ước RAMSAR, Iran (1971), Công ước (CITES, 1972), Công ước Paris (1972), Công ước bảo vệ các loài ĐVHD di cư, Born (1979). Các chuyên gia sinh thái học đã khẳng định rừng là một sinh thái hoàn chỉnh nhất. Thực vật rừng có sự biến động cả về chất và lượng khi yếu tố ngoại cảnh thay đổi.
Rừng cây và con người liên hệ mật thiết với nhau. Chính 6 vì lẽ đó, cây rừng được con người quan sát, xem xét, nghiên cứu từ thủa xa xưa. Một trong những khía cạnh con người nghiên cứu để phục hồi lại rừng là tái sinh rừng. Nghiên cứu tái sinh rừng tự nhiên đã trải qua hàng trăm năm, những vẫn đề này được đề cập từ năm 1930 trở lại đây.
Khi nghiên cứu tái sinh rừng tự nhiên nhiệt đới, Van steenis.J (1956)[59] đã nêu hai đặc điểm tái sinh phổ biến: Tái sinh phân tán liên tục của loài cây chịu bóng và kiểu tái sinh vệt của loài cây ưa sáng.