ĐẶT VẤN ĐỀ Nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính (NKHHCT) là một trong các bệnh phổ biến gây tử vong nhiều nhất cho trẻ em ở các nước đang phát triển. Tần suất mắc bệnh trung bình trong một năm cho mỗi trẻ ở vùng thành thị khoảng từ 5 đến 7 lần, ở vùng nông thôn từ 3 đến 5 lần [3],[11]. Theo ước tính của Tổ chức Y tế thế giới (TCYTTG) thì trong số 11,6 triệu trẻ em dưới 5 tu ổi t ử vong hàng năm ở các nước đang phát triển, có khoảng 19,0% là do NKHHCT [10]. Ch ương trình toàn c ầu v ề Phòng chống NKHHCT trẻ em của TCYTTG bắt đầu năm 1982, là một hoạt động thực sự quan trọng nhằm giảm tỷ lệ mắc và tử vong do NKHHCT trẻ em dưới 5 tuổi [3], [42].
Tại Việt Nam, số liệu thống kê trong cả nước cho thấy NKHHCT là lý do phổ biến nhất ở trẻ em đến khám, điều trị tại các cơ sở y tế và tử vong do viêm phổi (VP) chiếm vị trí hàng đầu trong các nguyên nhân tử vong ở trẻ em [2], [3], Theo kết qủa điều tra tại nhà và thống kê t ại m ột số bệnh viện thì tỷ suất tử vong do NKHHCT khoảng 2,8 - 3,0/1000, chi ếm 1/3 tổng số tử vong chung của trẻ em dưới 5 tuổi [3]. Tần suất mắc bệnh có khác nhau tuỳ theo vùng, theo mùa, nhưng trung bình mỗi trẻ mắc từ 3 đến 4 lần/năm [3]. Nước ta với khoảng 10 triệu trẻ em dưới 5 tuổi, thì mỗi năm có từ 30 đến 40 triệu lượt trẻ mắc và 28.000 trẻ tử vong do NKHHCT [3], Như vậy, NKHHCT ảnh hưởng rất lớn đến sức khoẻ và tính mạng của trẻ, đến ngày công lao động của bà mẹ. Thêm vào đó, những chi phí cho việc chữa trị thực sự là gánh nặng về kinh tế cho gia đình cũng như xã hội.
Chương trình Phòng chống NKHHCT ở Việt Nam đã được triển khai từ nãm 1984 và đến nay đã phủ kín được khắp toàn quốc. Qua nhiều số liệu điều tra về mắc bệnh và tử vong, Chương trình đã đưa ra kết luận về nguyên nhân chính gây tử vong do viêm phổi ở trẻ là: Không được đưa đến y tế kịp thời Đến kịp thời nhưng không được điều trị đúng đắn 2 Trên cơ sở đó Chương trình NKHHCT đã nhấn mạnh tầm quan trọng nội dung hoạt động: Giáo dục nâng cao kiến thức cho các bà mẹ (hoặc người trông nom chăm sóc trẻ) có hiểu biết để phát hiện bệnh sớm, đưa trẻ đến y tế kịp thời. Hoạt đọng này đã đề cập đến vai trò hết sức quan trọng của bà mẹ, người trực tiếp chăm sóc trẻ. Nếu bà mẹ có kiến thức phòng chống và nhận biết được các dấu hiệu sớm của VP, đưa trẻ đi khám, điều trị kịp thời sẽ góp phần rất lớn trong việc giảm mắc và tử vong do NKHHCT.
Nhiều cồng trình nghiên cứu trong và ngoài nước về vấn đề này cho thấy vẫn còn nhiều bà mẹ không nhận biết được dấu hiệu NKHHCT, đặc biệt là dấu hiệu VP, cũng như không biết chăm sóc đúng cho tr ẻ m ắc NKHHCT [6], [15], [17], [30], [35], nhiều bà mẹ tự ý sử dụng kháng sinh cho tr ẻ không có chỉ định của cán bộ y tế (CBYT) [40]. Tình trạng lạm dụng kháng sinh để chữa ho, sốt đơn thuần còn rất phổ biến [47]. Đống Đa là một quận đông dân thứ hai ở nội thành Hà Nội, với diện tích là 10km 2, dân số nãm 2001 là 331.435, gồm 21 phường. Chương trình NKHHCT ở đây đã được triển khai năm 1990, đến nay 100% trẻ dưới 5 tuổi được bảo vệ.
Theo báo cáo chưa đầy đú của Trung tâm Y tế (TTYT), năm 2001 có 1058 trẻ mắc NKHHCT đến khám và điều trị t ại 21 Tr ạm Y tế (TYT) phường trong quận, chiếm khoảng 5% tổng số trẻ dưới 5 tuổi, trung bình hàng tháng mỗi TYT chỉ có khoảng trên dưới 15-20 lượt trẻ NKHHCT đến khám. Với mạng lưới hành nghề Y Dược tư nhân phát triển như hiện nay (trên toàn quận có 462 cơ sở, trong đó có 217 cơ sở hành nghề Dược) các bà mẹ có thể có nhiều lựa chọn trong hệ thống dịch vụ y tế hoặc có thể mua thuốc tự điều trị cho con mình. Vậy kiến thức về bệnh NKHHCT của các bà mẹ như thê nào, các bà m ẹ chăm sóc, x ử trí khi con mình b ị NKHHCT ra sao? Cho đến nay chưa có nghiên cứu nào về vấn đề này trên địa bàn. Để đánh giá thực trạng và hiệu quả của hoạt động này, trong điều kiện thời gian và ngu ồn l ực có h ạn chúng tôi ti ến hành nghiên cứu đề tài: "Đánh giá kiến thức, thực hành của bà mẹ về nhiễm khuẩn hô hấp Cấp tính ở trẻ dưới 5 tuổi tại phường Láng Thượng, quận Đống Đa, Hà Nội”.
Với nghiên cứu này, chúng tôi hy vọng sẽ cung cấp cho TTYT một số kết quả đáng tin cậy, có cơ sở khoa học giúp cho việc can thiệp phòng chống NKHHCT ở trẻ em có hiệu quả hơn. 3 MỤC TIÊU NGHIÊN cứu 1. Mục tiêu chung Mô tả thực trạng và một số yếu tố ảnh hưởng đến kiến thức, thực hành của bà mẹ về phòng chống, chãm sóc và xử trí NKHHCT ở trẻ em dưới 5 tuổi tại phường Láng Th ượng, qu ận Đ ống Đa, Hà Nội, năm 2002. Trên cơ sở đó, đưa ra một số khuyến nghị thích hợp nhằm tăng cường kiến thức, thực hành của bà mẹ góp phần giảm tử vong do NKHHCT ở trẻ em dưới 5 tuổi.
Mục tiêu cụ thể 2. Mô tả kiến thức của bà mẹ có con dưới 5 tuổi về phòng chống, chăm sóc và xử trí NKHHCT. Mô tả thực hành của bà mẹ có con dưới 5 tuổi về phòng chống, chăm sóc và xử trí NKHHCT. Mô tả một số yếu tố ảnh hưởng đến kiến thức, thực hành của bà mẹ có con dưới 5 tuổi về phòng chống, chãm sóc và xử trí NKHHCT.
TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Khái niệm về NKHHCT NKHHCT là một nhóm bệnh rất đa dạng do vi khuẩn hoặc vi rút gây ra trên toàn bộ đường hô hấp bao gồm từ mũi, họng, thanh, khí, phế quản đến nhu mô phổi [3]. Khoảng 2/3 trường hợp NKHHCT ở trẻ em là nhiễm khuẩn đường hô hấp trên như ho, cảm lạnh, viêm họng, viêm amidal, viêm xoang, viêm tai giữa. Nhiễm khuẩn đường hô hấp trên thường nhẹ, ít gày tử vong.
Nhiễm khuẩn hô hấp dưới chiếm khoảng 1/3 số trường hợp NKHHCT, nhưng thường nặng, dễ gây tử vong, bao gồm viêm thanh quản, viêm thanh, khí, phế quản, viêm tiểu ph ế quản và viêm phổi. Đặc biệt viêm phổi cấp tính ở trẻ nhỏ là nguy hiểm nhất và chiếm hơn 90,0% tử vong các trường hợp do NKHHCT [2], [46], [47]. Tình hình mắc NKHHCT ở trẻ em dưới 5 tuổi tại cộng đồng 1. Tình hình mắc NKHHCT ở trẻ em trên thế giới Trong các bệnh nhiễm khuẩn ở trẻ em dưới 5 tuổi, NKHHCT là nguyên nhân hàng đầu, cao hơn bệnh tiêu chảy và các bệnh có khả năng ngăn ngừa bằng tiêm chủng [44], [31].
Theo TCYTTG, một trẻ dưới 5 tuổi trung bình trong 1 năm m ắc NKHHCT t ừ 4- 9 l ượt, bao gồm cả mắc NKHH trên và dưới [34]. Theo số liệu nghiên cúư của A. Pio và cộng sự cho thấy số lượt trẻ VP trên 1.000 trẻ sống tại các nước phát triển thấp hơn nhiều các nước đang phát triển [42], Theo nghiên cứu của Enarson (1998), số lượt mắc/trẻ/năm (lượt mắc) NKHHCT ở trẻ em của một số nước như sau [35]: 5 Quốc gia Sô lượt mắcltrẻlnăm Lứa tuổi Pakistan 7 Trẻ từ 0 đến 2 tuổi Ấn Độ 7 Trẻ dưới 5 tuổi Thái Lan 11 Trẻ dưới 5 tuổi Guatemala 7 Trẻ dưới 5 tuổi Bukina Faso 13 Trẻ dưới 5 tuổi (Nguồn: Theo Enarson, năm 1998) 1. Tình hình mắc NKHHCT ở trẻ em dưới 5 tuổi tại Việt Nam Cũng như các nước đang phát triển khác, số liệu từ các nghiên cứu điều tra ở nước ta cũng cho thấy NKHHCT là bệnh phổ biến nhất ở trẻ em dưới 5 tuổi.
Kết qu ả điều tra h ộ gia đình c ủa Chương trình NKHHCT về tỷ lệ mắc NKHHCT ở trẻ dưới 5 tuổi trong các năm 1999, 2000 là 22,8%, 24,4%, đứng đầu trong mọi nguyên nhân mắc bệnh ở trẻ [11], [14]. Bên cạnh các nghiên cứu về tỷ lệ mắc bệnh, cũng có nhiều nghiên cứu về lượt mắc NKHHCT ở trẻ dưới 5 tuổi [2], [23]. Một theo dõi dọc của Đỗ Hứa và cộng sự (1989) cho th ấy l ượt m ắc NKHHCT ở trẻ dưới 5 tuổi là 1,6 lượt/trẻ/năm [2]; Huỳnh Văn Nên (1998) là 7,8 ỉượt/trẻ/năm (trẻ dưới 1 tuổi) [23]; Hàn Trung Điền (2001) là 4,75 lượt/trẻ/năm (trẻ dưới 1 tuổi) [17], Nhìn chung, lượt mắc NKHHCT ở trẻ em Việt Nam cũng như các nước đang phát triển khác và các nước phát triển là tương tự giống nhau. Tuy nhiên, lượt mắc nhiễm khuẩn hô hấp dưới ở các nước đang phát triển cao hơn các nước phát triển: 0,7 lượt/trẻ/năm so với 0,4 lượt/trẻ/năm (ở trẻ từ 1-4 tuổi) [33].
Tình hình tử vong Cho tới nay NKHHCT vẫn là nguyên nhân gây t ử vong nhi ều nh ất cho tr ẻ em d ưới 5 tu ổi, trong đó hơn 90,0% là tại các nước đang phát triển [43], Bảng dưới đây trình bày số liệu về tử vong do NKHHCT tại một số nước trên thê' giới [43]: 6 Địa điểm nghiên cứu Tửvong do NKHHCT So với tử vong chun g 11000 trẻ! năm trẻ <5tuổi (%) Abotabad, Pakistan 14 35,0 Tekney, Banglades 18 30,0 Gadchinoti, An Độ 18 43,0 Kanmandu, Nepal 20 31,0 Tari, Papua New Guinea 13 36,0 Bagamoyo, Tanzania 14 30,0 (Nguồn: Theo Rasmussen z, Pio A, Enarson B, năm 2000) Theo TCYTTG (1998), mỗi năm trên toàn thế giới có khoảng hơn 3 triệu trẻ em dưới 5 tuổi chết do NKHHCT, chiếm khoảng 30,0% của mọi nguyên nhân tử vong ở trẻ em dưới 5 tuổi. Trong số đó 20,0% chết do VP; 5,0% chết do VP phối hợp với sởi; 5,0% do VP phối hợp với sốt rét và ho gà [43]. Hơn một nửa số trường hợp tủ' vong do VP ở trẻ dưới 5 tuổi trên thế giới tập trung chủ yếu ở 5 nước, đó là: Ấn Độ (29,0%), Nigeria (8,0%), Bangladesh (8,0%), Pakistan (5,0%) và Ethiopia (3,0%). Tử vong nhiều nhất thuộc khu vực các nước châu Phi, đặc biệt là các nước vùng Nam sa mạc Sahara, sau đó là châu Á (không kể Trung Quốc), tiếp đến là khu vực Mỹ La tinh và Trung Quốc.