Tổng quan nghiên cứu

Theo báo cáo tổng quan của ngành chăn nuôi gia cầm toàn cầu, mức tiêu thụ thịt gà bình quân đã tăng trưởng liên tục từ 10,2 kg/người/năm lên khoảng 13,8 kg/người/năm và được dự báo sẽ vượt mốc 17,2 kg/người/năm trong thời gian tới. Tại Việt Nam, nhu cầu thị trường đối với các dòng gà thịt lông màu thả vườn có chất lượng thịt thơm ngon, săn chắc, da vàng và ít mỡ ngày càng chiếm ưu thế so với các giống gà công nghiệp chuyên thịt. Tuy nhiên, các giống gà bản địa thuần chủng như gà Ri hay giống gà đặc sản Cáy Củm (gà cúp đuôi vùng núi phía Bắc) thường có tầm vóc nhỏ, tốc độ tăng trọng chậm, làm hạn chế hiệu quả kinh tế của người chăn nuôi nông hộ. Nhằm giải quyết bài toán dung hòa giữa năng suất sinh trưởng nhanh và phẩm chất thịt đặc sản, đề tài luận văn thạc sĩ tập trung đánh giá khả năng sinh trưởng, năng suất thịt và đặc tính sinh sản của tổ hợp lai ba máu CCRP (kết hợp giữa gà trống Cáy Củm với gà mái lai F1 Ri x Lương Phượng).

Nghiên cứu được triển khai tại phường Lương Sơn, thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên trong khoảng thời gian từ tháng 9 năm 2017 đến tháng 9 năm 2018. Mục tiêu trọng tâm là xác lập cơ sở khoa học và thực tiễn về đặc điểm ngoại hình, khả năng tăng trọng, hiệu quả sử dụng thức ăn và chất lượng thịt xẻ của đàn gà thương phẩm 300 con từ 1 đến 16 tuần tuổi theo hai phương thức nuôi nhốt và bán chăn thả, đồng thời theo dõi sức sản xuất trứng của đàn sinh sản 171 cá thể từ 20 đến 38 tuần tuổi. Kết quả nghiên cứu chứng minh tổ hợp lai đạt khối lượng xuất chuồng từ 1850,5 đến 1978,8 gam ở 16 tuần tuổi, duy trì tỷ lệ thân thịt cao xấp xỉ 79,5%, mở ra giải pháp công nghệ giống mới giúp tối ưu hóa giá trị kinh tế cho ngành chăn nuôi gia cầm địa phương.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên nền tảng lý thuyết lai kinh tế trong chăn nuôi và quy luật ưu thế lai di truyền học của Mendel và Darwin. Phép lai kinh tế luân chuyển ba giống (con lai 3 máu CCRP) khai thác tối đa hiệu ứng dị hợp tử nhằm tích hợp các tính trạng vượt trội: tầm vóc lớn, lớn nhanh của gà Lương Phượng; chất lượng thịt thơm ngon, săn chắc của gà Ri; cùng với sức đề kháng dẻo dai, khả năng kiếm mồi linh hoạt và đặc tính thịt nạc không ngấy của giống gà cúp đuôi bản địa Cáy Củm (Hà Giang, Cao Bằng).

Bên cạnh đó, đề tài vận dụng lý thuyết sinh lý học sinh trưởng và trao đổi chất ở gia cầm. Sự sinh trưởng về khối lượng và kích thước các chiều đo cơ thể là quá trình tích lũy protein và khoáng chất chịu chi phối bởi hệ số di truyền dao động từ 0,40 đến 0,60 đối với tính trạng khối lượng sống. Chế độ dinh dưỡng được thiết kế theo tiêu chuẩn năng lượng trao đổi ME từ 2700 đến 2900 kcal/kg thức ăn và hàm lượng protein thô cân đối từ 16% đến 20%, đảm bảo tỷ lệ các axit amin thiết yếu như Lysine (0,9 - 1,2%) và Methionine (0,4 - 0,6%). Nghiên cứu sử dụng hệ thống các chỉ tiêu cốt lõi bao gồm: sinh trưởng tích lũy (khối lượng tuyệt đối qua các tuần), sinh trưởng tuyệt đối (gam tăng trọng/con/ngày), sinh trưởng tương đối (tỷ lệ tăng trưởng theo giai đoạn), hệ số chuyển hóa thức ăn FCR và chỉ số sản xuất tổng hợp PN (Production Number).

Phương pháp nghiên cứu

Thí nghiệm trên đàn gà thịt thương phẩm được bố trí theo sơ đồ hoàn toàn ngẫu nhiên với cỡ mẫu 300 gà con một ngày tuổi, phân chia thành 2 lô thí nghiệm và 3 lần lặp lại (50 con mỗi đơn vị thí nghiệm, tỷ lệ tính biệt 1 trống : 1 mái). Lô 1 được nuôi theo phương thức nuôi nhốt chuồng hở có đệm lót trấu; Lô 2 được nuôi theo phương thức bán chăn thả có sân chơi quây lưới. Giai đoạn gà con từ 1 đến 4 tuần tuổi được nuôi úm chung quy trình. Thí nghiệm trên đàn sinh sản khảo sát 171 cá thể (21 gà trống và 150 gà mái) phân bổ thành 3 đơn vị lặp lại theo tỷ lệ ghép phối 1 trống : 7 mái trong giai đoạn 20 đến 38 tuần tuổi.

Khối lượng cơ thể được cân định kỳ hàng tuần vào buổi sáng trước khi cho ăn bằng cân kỹ thuật và cân điện tử Digital Scale TS 200 độ chính xác 0,1 gam. Đánh giá chất lượng thịt thực hiện qua phương pháp mổ khảo sát tại 16 tuần tuổi trên 24 cá thể đại diện (12 gà trống và 12 gà mái). Chỉ tiêu độ pH cơ thịt được đo bằng máy Testo 230 và các thành phần sinh hóa (protein, lipit, khoáng tổng số) được phân tích theo Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN tại Viện Khoa học sự sống thuộc Đại học Thái Nguyên. Phương pháp thống kê sinh vật học trên phần mềm Minitab 17 và Microsoft Excel được lựa chọn nhằm tính toán chính xác giá trị trung bình, sai số trung bình, hệ số biến dị Cv% và kiểm định phân tích phương sai ANOVA ở ngưỡng tin cậy xác suất P dưới 0,05.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khối lượng tích lũy của gà CCRP ở giai đoạn 1 ngày tuổi đạt trung bình 35,17 gam, tương đương với các giống gà bản địa chất lượng cao như Đông Tảo. Khối lượng tăng trưởng mạnh từ tuần tuổi thứ 5 và đạt đỉnh điểm bứt phá từ tuần 10 đến tuần 14. Kết thúc 16 tuần tuổi, khối lượng cơ thể bình quân ở lô nuôi nhốt đạt 1978,80 gam, cao hơn 6,93% so với lô bán chăn thả đạt 1850,50 gam (sự chênh lệch có ý nghĩa thống kê với P < 0,05). Khối lượng này cao hơn rõ rệt so với gà Ri thuần (1145,6 gam) và gà H'Mông thuần (1170,2 gam) ở cùng thời điểm phát triển.

Tỷ lệ nuôi sống tích lũy toàn kỳ từ 1 đến 16 tuần tuổi đạt mức rất cao, lần lượt là 94,00% ở lô nuôi nhốt và 93,30% ở lô bán chăn thả. Sự hao hụt nhẹ chỉ tập trung ở giai đoạn 1 đến 3 tuần tuổi đầu do cơ chế điều nhiệt của gà con chưa hoàn thiện, sau đó tỷ lệ sống duy trì ổn định xấp xỉ 99% - 100% mỗi tuần.

Kết quả mổ khảo sát ở 16 tuần tuổi ghi nhận tỷ lệ thân thịt ấn tượng đạt 79,50% (lô 1) và 79,80% (lô 2) ở gà trống; đạt 79,32% (lô 1) và 79,55% (lô 2) ở gà mái. Tỷ lệ thịt đùi đạt từ 20,00% đến 20,70%, tỷ lệ thịt ngực đạt từ 15,50% đến 16,01%. Đáng chú ý, tỷ lệ mỡ bụng ở cả hai lô đều duy trì ở mức cực kỳ thấp, chỉ chiếm 1,10% - 1,20% ở con trống và 1,60% - 2,20% ở con mái. Về đặc điểm ngoại hình, đàn con lai thể hiện tỷ lệ phân ly đồng đều: 50% cá thể không có phao câu, không có lông đuôi với chùm lông mã che kín hậu môn mang đặc trưng của gà bố Cáy Củm; 50% cá thể có cuống đuôi nhưng hoàn toàn không phát triển tuyến nhờn.

Thảo luận kết quả

Tốc độ sinh trưởng tuyệt đối của đàn gà tăng liên tục và đạt đỉnh cao nhất ở tuần thứ 12 đến tuần 13, dao động từ 26,60 đến 28,20 gam/con/ngày, sau đó suy giảm dần đến tuần 16 chỉ còn 12,90 - 13,80 gam/con/ngày. Khi biểu diễn bằng đồ thị hình sin và đường cong tích lũy chữ S, dữ liệu thể hiện rõ điểm uốn sinh lý tăng trọng tối ưu rơi vào khoảng giữa tuần thứ 11 và 14.

Về hiệu quả sử dụng thức ăn, hệ số FCR trung bình giai đoạn 1 đến 16 tuần tuổi là 3,35 kg thức ăn/kg tăng trọng ở lô nuôi nhốt và 3,73 ở lô bán chăn thả. Gà bán chăn thả tiêu hao năng lượng nhiều hơn do tập tính vận động bới tìm mồi trên sân bãi, dẫn đến FCR cao hơn lô nuôi nhốt khoảng 11,34%. Tại tuần 16, FCR tăng vọt lên mức 7,08 (lô 1) và 7,74 (lô 2). Tương ứng, chỉ số sản xuất PN đạt cực đại ở tuần 12 (52,29 ở lô 1 và 44,80 ở lô 2), sau đó tụt dốc nhanh chóng xuống còn 20,00 - 23,50 ở tuần 16. Bảng tổng hợp so sánh các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật chứng minh thời điểm giết thịt thương phẩm mang lại hiệu quả kinh tế cao nhất và chất lượng thịt thơm ngọt, săn chắc nhất là tại mốc 14 đến 15 tuần tuổi.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm phát triển và nhân rộng mô hình chăn nuôi tổ hợp lai CCRP đạt hiệu quả tối ưu, các giải pháp cụ thể được đề xuất như sau:

Áp dụng quy trình kỹ thuật nuôi bán chăn thả: Chuyển đổi phương thức nuôi nhốt hoàn toàn sang mô hình bán chăn thả có sân chơi với mật độ 1,5 đến 2,0 mét vuông một con nhằm tăng cường độ săn chắc cho thớ thịt, giảm thiểu tỷ lệ mỡ bụng dưới mức 1,6%. Đồng thời, thực hiện nghiêm ngặt quy trình tiêm phòng vắc xin Lasota, Gumboro, Marek và Newcastle trong suốt 45 ngày đầu đời. Thời gian thực hiện: áp dụng thường xuyên trong các chu kỳ nuôi. Chủ thể thực hiện: người chăn nuôi và các chủ trang trại gia cầm.

Tối ưu hóa thời điểm xuất bán thương phẩm: Tiến hành thu hoạch gà thịt xuất chuồng tại thời điểm 14 đến 15 tuần tuổi, khi khối lượng cơ thể đạt từ 1,65 đến 1,80 kg/con. Giải pháp này giúp kiểm soát hệ số chuyển hóa thức ăn FCR ở mức lý tưởng dưới 4,5 kg thức ăn/kg tăng trọng, ngăn ngừa lãng phí cám và duy trì chỉ số sản xuất PN ở mức cao trên 30 điểm. Thời gian thực hiện: ngay khi kết thúc kỳ nuôi 100 ngày. Chủ thể thực hiện: các hộ gia trại và hợp tác xã nông nghiệp.

Tuyển chọn và duy trì đàn giống bố mẹ thuần chủng: Xây dựng cơ sở bảo tồn và nhân thuần nguồn gen gà Cáy Củm vùng cao, kết hợp tuyển chọn đàn mái nền F1 Ri x Lương Phượng đạt chuẩn thể trọng 1,8 - 2,0 kg khi vào đẻ. Đảm bảo tỷ lệ ghép phối 1 trống : 7 mái để duy trì tỷ lệ trứng có phôi đạt trên 90% và tỷ lệ ấp nở loại 1 trên 85%. Thời gian thực hiện: lộ trình 1 đến 2 năm. Chủ thể thực hiện: Trung tâm Nghiên cứu Giống gia cầm và Trạm Khuyến nông các tỉnh miền núi phía Bắc.

Xây dựng chuỗi giá trị và thương hiệu gà đặc sản: Đăng ký chứng nhận sản phẩm an toàn sinh học và nhãn hiệu tập thể gà cúp đuôi CCRP, kết nối trực tiếp với hệ thống siêu thị, nhà hàng đặc sản nhằm nâng cao biên lợi nhuận từ 15% đến 20% so với gà thịt thông thường. Thời gian thực hiện: giai đoạn 2024 - 2026. Chủ thể thực hiện: Hợp tác xã liên kết cùng Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung luận văn mang lại giá trị học thuật và ứng dụng thực tiễn cho các nhóm đối tượng:

Sinh viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh ngành Chăn nuôi - Thú y: Luận văn là tài liệu tham khảo chuẩn mực về phương pháp thiết kế thí nghiệm lai kinh tế 3 máu, kỹ thuật theo dõi các chỉ tiêu sinh trưởng tích lũy, quy trình mổ khảo sát thân thịt và xử lý số liệu thống kê sinh vật học bằng Minitab.

Chủ trang trại, gia trại và doanh nghiệp chăn nuôi gia cầm: Cung cấp đầy đủ định mức kỹ thuật thực tế về tiêu tốn thức ăn qua từng tuần tuổi, khẩu phần dinh dưỡng protein từ 16% đến 20%, lịch dùng vắc xin phòng bệnh và kỹ thuật quản lý đàn gà bán chăn thả giúp giảm tỷ lệ hao hụt dưới 7%.

Chuyên gia di truyền và nhà tạo giống vật nuôi: Tài liệu cung cấp dữ liệu thực nghiệm giá trị về sự di truyền các tính trạng ngoại hình không phao câu và chất lượng thịt xẻ của giống gà Cáy Củm khi kết hợp với gà mẹ Lương Phượng và gà Ri.

Cán bộ khuyến nông và nhà hoạch định chính sách nông nghiệp địa phương: Cung cấp căn cứ khoa học để xây dựng các đề án hỗ trợ sinh kế nông hộ, phát triển kinh tế nông thôn miền núi gắn liền với bảo tồn nguồn gen vật nuôi bản địa quý hiếm.

Câu hỏi thường gặp

Tổ hợp lai gà CCRP có điểm gì vượt trội so với các giống gà Ri bản địa thuần chủng?

Gà lai CCRP khắc phục hoàn toàn nhược điểm tầm vóc nhỏ của gà Ri thuần. Tại 16 tuần tuổi, gà CCRP đạt trọng lượng 1850,5 đến 1978,8 gam/con, cao hơn gà Ri từ 600 đến 800 gam/con. Đồng thời, tổ hợp lai này vẫn giữ nguyên chất lượng thịt thơm ngon, săn chắc của gà bản địa và đạt tỷ lệ nuôi sống cao trên 93,3%.

Đặc điểm không có phao câu của gà Cáy Củm di truyền sang đàn con lai như thế nào?

Kết quả nghiên cứu thực tế ghi nhận 50% cá thể con lai thương phẩm CCRP không có phao câu và không có lông đuôi, lông mã mọc dài phủ kín lỗ huyệt. Khoảng 50% cá thể còn lại có cuống đuôi nhưng mấu thịt không có tuyến nhờn, giúp thớ thịt thơm ngon tự nhiên và không có mùi hôi hắc khi chế biến.

Tại sao nghiên cứu khuyến nghị nên xuất chuồng gà CCRP ở 14 đến 15 tuần tuổi?

Từ tuần thứ 14 trở đi, tốc độ tăng trọng của gà giảm mạnh từ mức 28,0 gam/con/ngày xuống chỉ còn 12,9 gam/con/ngày ở tuần 16. Hệ số tiêu tốn thức ăn FCR ở tuần 16 tăng vọt lên 7,08 - 7,74, khiến chỉ số sản xuất PN tụt dốc còn 20,0 - 23,5. Xuất bán ở 14-15 tuần tuổi sẽ đảm bảo hiệu quả kinh tế cao nhất.

Phương thức nuôi bán chăn thả mang lại những ưu điểm gì đối với chất lượng thịt gà CCRP?

Phương thức bán chăn thả giúp gà tăng cường vận động trên bãi thả tự nhiên, giúp cơ bắp săn chắc và giảm tỷ lệ mỡ bụng xuống mức rất thấp (1,20% ở con trống và 1,60% ở con mái). Dù hệ số FCR trung bình đạt 3,73 cao hơn nuôi nhốt, sản phẩm thịt bán chăn thả có giá trị thương phẩm và độ ưa chuộng cao hơn.

Chất lượng thân thịt của tổ hợp gà lai CCRP được đánh giá như thế nào qua mổ khảo sát?

Qua mổ khảo sát tại 16 tuần tuổi, gà CCRP đạt tỷ lệ thân thịt xẻ ấn tượng xấp xỉ 79,5% ở cả hai phương thức nuôi. Tỷ lệ thịt đùi chiếm trên 20,0% và tỷ lệ thịt ngực đạt trên 15,5%, đem lại nguồn thu hồi thịt nạc chất lượng cao, đáp ứng hoàn hảo thị hiếu tiêu dùng hiện đại.

Kết luận

  • Tổ hợp lai ba máu CCRP (Trống Cáy Củm x Mái F1 Ri - Lương Phượng) khẳng định khả năng thích nghi và sinh trưởng vượt trội tại Thái Nguyên với tỷ lệ nuôi sống đạt từ 93,30% đến 94,00%.
  • Khối lượng xuất chuồng lúc 16 tuần tuổi đạt 1850,5 - 1978,8 gam/con, tỷ lệ thân thịt cao đạt xấp xỉ 79,5% cùng tỷ lệ mỡ bụng thấp lý tưởng dưới 2,2%.
  • Nghiên cứu đã xác lập cơ sở khoa học chính xác về chu kỳ xuất chuồng thương phẩm tối ưu ở 14 đến 15 tuần tuổi nhằm đạt hiệu quả kinh tế và chỉ số sản xuất PN cao nhất.
  • Đóng góp quan trọng vào công tác bảo tồn, khai thác nguồn gen quý của giống gà Cáy Củm, tạo ra dòng gà thương phẩm thịt săn chắc, da vàng và mang hương vị đặc sản độc đáo.
  • Định hướng giai đoạn tiếp theo cần mở rộng mô hình bán chăn thả quy mô trang trại tại các tỉnh vùng trung du miền núi phía Bắc và hoàn thiện tiêu chuẩn giống thương phẩm.

Quý độc giả, nhà khoa học và các cơ sở chăn nuôi quan tâm có thể tra cứu toàn văn công trình nghiên cứu tại Trung tâm Học liệu Đại học Thái Nguyên để ứng dụng và chuyển giao tiến bộ kỹ thuật chăn nuôi ngay hôm nay.