Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học của đề tài Tỉnh Thái Nguyên có diện tích 3.562,82 km² phía Bắc tiếp giáp với tỉnh Bắc Kạn, phía Tây giáp với các tỉnh Vĩnh Phúc, Tuyên Quang, phía Đông giáp với các tỉnh Lạng Sơn, Bắc Giang và phía Nam tiếp giáp với thủ đô Hà Nội. Thái Nguyên là cửa ngõ giao lưu kinh tế - xã hội giữa vùng trung du miền núi với vùng đồng bằng Bắc Bộ. Thái Nguyên nằm trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc thủ đô Hà Nội, một trung tâm kinh tế đang lên ở miền Bắc.
Đa phần người dân chú trọng đến phát triển kinh tế nông nghiệp. Cùng với các gia súc, gia cầm khác, các giống gà địa phương đã được nhân dân các dân tộc nuôi dưỡng từ lâu đời với phương thức chăn thả, tập quán dân địa phương là sử dụng thịt và trứng gà rộng rãi vai trò là một nguồn thực phẩm giàu đạm và đặc biệt gà và thịt gà còn được sử dụng trong các nghi thức đình đám, tín ngưỡng từ ngàn xưa. Giống gà Cáy Củm được đồng bào dân tộc thiểu số ở Hà Giang, Cao Bằng… nuôi ở những vùng núi cao, với phương thức chăn thả quảng canh. Đây là giống gà có tầm vóc tương đối từ 1,8 - 2,5 kg, gà không có phao câu, không có tuyến nhờn, tốc độ sinh trưởng khá, màu lông đa dạng: Mơ, tía, vàng nâu, xám, đen, vàng đỏ, trắng tuyền, trắng có sọc đen.
Sức sống và khả năng kháng bệnh: Trong cơ thể gia cầm có hệ thống miễn dịch hoàn hảo gồm tuỷ xương, tuyến ức, hạch lâm ba, lách. khi kháng nguyên vào cơ thể, cơ thể sẽ thông qua hệ thống đáp ứng miễn dịch sinh ra những cơ chế tiêu diệt kháng nguyên, khi cơ thể gia cầm khoẻ mạnh thi khả năng đáp ứng miễn dịch cao, khả năng kháng bệnh tốt đây chính là yếu tố quan trọng giúp cho người chăn nuôi đạt hiệu quả cao. Phân loại nguồn gốc gia cầm 1. Phân loại Theo Nguyễn Văn Thiện, Nguyễn Khánh Quắc (1995) [24] gà thuộc: Giới (Kingdom): Animal; Ngành (Class): Aves; 4 Lớp (Order): Gallijonmes; Họ (Family): Phasianidae; Chủng (Genus): Gallus; Loài (Species): Gallus gallus.
Nguồn gốc Gà nhà hiện nay có nguồn gốc từ gà rừng Gallus, gà được nuôi ở Ấn Độ khoảng 2000 năm trước công nguyên. Theo Nguyễn Mạnh Hùng và cộng sự (1994)[10] ở Việt Nam gà được nuôi cách đây 3000 năm. Đặng Hữu Lanh và cs (1999) [12], gà rừng có thể chia thành 3 loại hình như sau: - Loại hình Bankiva (gà nguyên thủy): Lông nhiều, dán vào mình, ức nở, mào và dái tai phát triển, mỏ hơi cong dài và nhọn. - Loại hình Mã Lai (gà Chọi): Ít lông, cấu trúc lông cứng, mào và dái tai nhỏ, đầu nhỏ, mắt lõm vào hốc mắt, mỏ ngắn, khỏe.
- Loại hình Cochin: Nhiều lông, bồng, nhiều lông tơ, mào và dái tai vừa, tai nhỏ màu đỏ, mỏ tương đối ngắn. Có nhiều giả thiết cho rằng gà nhà được thuần hóa đầu tiên từ Ấn Độ cách đây hơn 5000 năm, ở Trung Quốc hơn 3000 năm. Sau đó xuất hiện ở Mesopotamin. Ở Tây Âu, gà nhà xuất hiện cách đây gần 2500 năm.
Có thể nói nước ta là một trong những trung tâm thuần hóa gà đầu tiên của vùng Đông Nam Á. Gà nhà ở nước ta bắt nguồn từ gà rừng Gallus banquiva. Như vậy, thông qua các di chỉ khảo cổ với các niên đại khác nhau cho phép khẳng định Gallus banquiva là tổ tiên các giống gà nhà hiện nay. Có nhiều tài liệu chứng minh rằng gà được thuần hóa đầu tiên ở Đông Nam Á và từ đây phân bố đi khắp thế giới.
Trải qua thời gian thuần hóa và không ngừng chọn lọc đã hình thành các giống gà địa phương thích nghi tốt với điều kiện riêng biệt ở các nước khác nhau, đồng thời hình thành nên các giống gà theo hướng sản xuất khác nhau. Khả năng sinh trưởng 1. Khái niệm về sinh trưởng Sinh trưởng là quá trình tích luỹ, sự tăng chiều cao, chiều dài, bề ngang, khối lượng của các bộ phận và toàn bộ cơ thể con vật trên cơ sở tính chất di truyền của 5 đời trước. Sinh trưởng chính là sự tích luỹ dần dần các chất, chủ yếu là protein, nên tốc độ và khối lượng tích luỹ các chất, tốc độ và sự tổng hợp protein chính cũng là tốc độ hoạt động của các gen điều khiển sự sinh trưởng của cơ thể (Trần Đình Miên, Nguyễn Kim Đường (1992)[20]).
Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng * Ảnh hưởng của dòng, giống đến quá trình sinh trưởng Ở gà hướng thịt broiler giai đoạn 60 - 70 ngày tuổi, con trống nặng hơn con mái 180 - 250 g (Trần Thanh Vân, 2002) [42]). Nguyễn Mạnh Hùng và cộng sự (1994)[10] cho biết sự khác nhau về khối lượng giữa các giống gia cầm rất lớn, giống gà kiêm dụng nặng hơn gà hướng trứng khoảng 500 - 700 g (13 - 30 %). Trần Long (1994)[13] nghiên cứu tốc độ sinh trưởng trên 3 dòng thuần (dòng V1, V3, V5) của giống gà Hybro HV85 cho thấy tốc độ sinh trưởng 3 dòng hoàn toàn khác nhau ở 42 ngày tuổi. Nguyễn Thu Quyên (2008) [21] cho biết: ở 12 tuần tuổi khối lượng của gà thí nghiệm vẫn tuân theo quy luật chung, cao nhất ở gà Lương Phượng (2277,28 g), tiếp theo là 2 nhóm gà lai F1 (♂ H Mông x ♀ Lương Phượng) (1545,75 g), F1 (♂Mông x ♀Ai Cập) (1356,88 g) và gà Mông là 1260,18 g, thấp nhất ở gà Ai Cập (1171,51g).
Theo Nguyễn Thị Khanh và cs (2001) [11] gà Tam Hoàng 882 ở 12 tuần tuổi khối lượng cơ thể đạt 1557,83 g/con. * Ảnh hưởng của tính biệt đến sinh trưởng Tính biệt là một trong những yếu tố có ảnh hưởng lớn đến khối lượng cơ thể của gà: Gà trống nặng cân hơn gà mái từ 24 - 32% (Chambers. Tính biệt là một trong những yếu tố có ảnh hưởng lớn đến khối lượng cơ thể của gà: Gà trống nặng hơn gà mái từ 24 - 32 %. Những sai khác này cũng được biểu hiện ở cường độ sinh trưởng, được quy định không phải do hoocmon sinh học mà do các gen liên kết với giới tính.
Tuy nhiên, sự sai khác về mặt sinh trưởng còn thể hiện rõ hơn đối với các dòng phát triển nhanh so với các dòng phát triển chậm (Chambers J. R,1990 [47] ) 6 * Ảnh hưởng của thức ăn đến khả năng sinh trưởng Thức ăn là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp, lâu dài đến toàn bộ các giai đoạn sinh trưởng phát dục và năng suất của gia súc, gia cầm. Đặc biệt đối với gia cầm mới nở, giá trị dinh dưỡng của thức ăn ở giai đoạn đầu có tác dụng quyết định đến khả năng sinh trưởng và khối lượng cơ thể của chúng sau này. Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Mai (1994) [17] đã kết luận: việc sử dụng mức năng lượng và protein thích hợp trong khẩu phần sẽ làm tăng hiệu quả sử dụng thức ăn của gà Broiler.
Cũng theo Nguyễn Thị Mai (2001)[18]: hiệu quả sử dụng thức ăn có liên quan chặt chẽ tới tốc độ sinh trưởng của gà. Trong cùng một chế độ dinh dưỡng, cùng một giống, tại một thời điểm, những lô gà có tốc độ sinh trưởng cao hơn thì hiệu quả sử dụng thức ăn cũng tốt hơn. Kết quả nghiên cứu của các tác giả Bùi Đức Lũng, Lê Hồng Mận (1995) [14]; Bùi Quang Tiến và cs (1995)[30] đều đã khẳng định ảnh hưởng rất lớn của thức ăn và dinh dưỡng đến khả năng sinh trưởng của gia cầm. Hàm lượng các axit amin là rất quan trọng, đặc biệt nếu thiếu Methionin trong khẩu phần sẽ có hại cho sinh trưởng và hệ số chuyển hóa thức ăn.
Trong trường hợp sinh trưởng tối đa, việc bổ sung axit amin sẽ cải thiện hệ số chuyển hóa thức ăn. * Ảnh hưởng của nhiệt độ đối với gà con do giai đoạn còn nhỏ (30 ngày tuổi đầu) cơ quan điều khiển nhiệt chưa hoàn chỉnh cho nên yêu cầu về nhiệt độ tương đối cao. Lê Hồng Mận (2007) [19], cho biết nhiệt độ tối ưu chuồng nuôi với gà con sau 3 tuần tuổi là 18 - 20°C. Tài liệu của Readdy (1999)[54] đã chỉ rõ ở thời kỳ sau ấp nở, nhiệt độ môi trường có ảnh hưởng rõ rệt đến sinh trưởng và hệ số chuyển hóa thức ăn của gà thịt.
Khi nhiệt độ tăng lên năng lượng của khẩu phần duy trì giảm xuống. Sau khi ấp nở nếu tăng nhiệt độ từ 70C đến 210C sẽ làm giảm hệ số chuyển hóa thức ăn 0,87% cho mỗi 0C tăng lên. Nếu nhiệt độ tiếp tục tăng thì hệ số chuyển hóa thức ăn tiếp tục được cải thiện cho đến khi đạt đến điểm stress nhiệt làm giảm tốc độ sinh trưởng. * Ảnh hưởng của ẩm độ không khí: Ẩm độ không khí quá cao có ảnh hưởng không tốt đến tốc độ sinh trưởng của gia cầm, do chuồng trại luôn ẩm ướt, lượng khí độc sinh ra nhiều và là môi trường 7 thuận lợi để vi khuẩn gây bệnh phát triển.
Trong mọi điều kiện của thời tiết nếu ẩm độ không khí cao đều bất lợi cho gia súc, gia cầm; bởi vì nhiệt độ thấp mà ẩm độ cao làm tăng khả năng dẫn nhiệt, gà con dễ mất nhiệt gây cảm lạnh và ngược lại nhiệt độ cao, ẩm độ cũng cao sẽ làm cho cơ thể gia cầm thải nhiệt khó khăn dẫn đến cảm nóng. * Ảnh hưởng của yếu tố ánh sáng Gia cầm rất nhạy cảm với ánh sáng, đặc biệt là giai đoạn gà con và giai đoạn gà đẻ cho nên chế độ chiếu sáng là vấn đề cần quan tâm. Thời gian và cường độ chiếu sáng phù hợp sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho gà ăn, uống, vận động ảnh hưởng tốt tới khả năng sinh trưởng. Giang Hồng Tuyến (2013) [40] cho biết, mùa vụ khác nhau đã ảnh hưởng đến khả năng tăng khối lượng của gà, vào các mùa khác nhau gà lai Chọi có khả năng tăng khối lượng khác khác nhau.
* Ảnh hưởng của kỹ thuật nuôi dưỡng, chăm sóc Theo Trần Thanh Vân và cs (2015) [43] cho biết: Khi gà dưới 3 tuần tuổi mật độ nuôi nhốt (nuôi úm) 20 - 30 con/m2 nền chuồng, giảm dần đến mật độ 7 - 10 con/m2 nền chuồng là phù hợp. Theo Van Horne (1991) [58]: Khi chăn nuôi gà ở mật độ cao thì hàm lượng NH3, CO2 và H2S được sinh ra trong chất độn chuồng cao. Cơ sở khoa học về khả năng cho thịt của gia cầm - Năng suất thịt: Năng suất thịt (hay tỷ lệ thân thịt) là tỷ lệ % của khối lượng thân thịt so với khối lượng sống của gia cầm. Năng suất của các thành phần thân thịt là tỷ lệ % của chúng so với thân thịt.
Năng suất của cơ là tỷ lệ % của cơ so với thân thịt.