Đặt vấn đề Dê là con vật được nuôi rộng rãi trên khắp thế giới với mục đích lấy thịt, sữa, lông và da. Thịt dê được sử dụng ở nhiều nước trên thế giới như ở Châu Á, Châu Phi, Ấn Độ vì thịt dê ít mỡ và giá thịt dê thường cao hơn các loại thịt khác. Ngành chăn nuôi dê phát triển đã mang lại lợi nhuận đáng kể cho người chăn nuôi. Theo tổng cục thống kê chăn nuôi Việt Nam (2017) [23 ], tính đến tháng 12/2017 tổng đàn dê cừu cả nước năm 2001 là 572.448 con, năm 2005 số dê là 1.189 con, đến năm 2017 đã lên tới 2.
Song song với việc gia tăng về số lượng thì chất lượng đàn dê cũng được nâng lên nhờ công tác lai tạo giống. Theo số liệu thống kê của sở Nông nghiệp & Phát triển nông thôn tỉnh Thái Nguyên, tổng đàn dê ở huyện Định Hóa có 21. Tuy nhiên, trong đó chủ yếu là dê lai, đàn dê địa phương (dê Nản) hiện còn rất ít (ước tính chỉ có khoảng 2. Chúng thường leo trèo kiếm ăn tận sườn núi Nản, bám cả vào vách đá, hẻm núi, đồi thấp, nơi đang có nhiều cây thuốc và cả các loại cây xanh dưới chân núi, nên dê núi Nản không chỉ cho thực phẩm ngon, mà sức sống cao, sức chống bệnh tốt.
Hiện nay, hầu như tất cả các đàn dê của các xã Kim Phượng, Phượng Tiến, Trung Hội. đều chăn thả ở núi Nản, chuồng trại làm ở chân núi cho nên đây được coi là vùng chăn nuôi dê đặc sản của huyện Định Hoá. Qua quá trình theo dõi, nghiên cứu về đặc điểm ngoại hình giống dê địa phương Định Hóa thì kết quả thu được của chúng tôi cũng có đồng quan điểm với tác giả Trần Trang Nhung và cs (2005) [11], như là dê có màu lông không đồng nhất, khá đa dạng, tập trung ở một số màu chính như: đen, vàng, tro, h 2 cánh gián. Dọc lưng từ đầu đến khấu đuôi có một dải lông đen, bốn chân có đốm đen.
Đầu nhỏ, trán rộng và thô, mũi thẳng, mắt sáng, tai nhỏ hướng về phía trước, chân chắc khỏe, vận động linh hoạt. Tầm vóc nhỏ, mắn đẻ, nhưng số con đẻ ra/lứa lại thấp; tỷ lệ nuôi sống đến cai sữa không cao bằng những giống dê khác. Nhưng Định Hóa lại có dãy núi Nản là núi đá nơi có nhiều cây cối tốt tươi do chất đất, khí hậu, độ ẩm thích hợp nuôi dê và còn có nhiều loại cây thuốc nam quý, cây cỏ xanh tốt có thể chăn nuôi dê, trồng ngô, dựng lán… Vì thế dê ở đây sức sống cao, sức chống bệnh tốt, sinh sản và sinh trưởng nhanh, chất lượng thịt thơm ngon, săn chắc hơn so với thịt dê lai và các giống dê khác. Để hiểu rõ hơn về giống dê này chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá khả năng sinh trưởng của dê địa phương nuôi tại huyện Định Hóa tỉnh Thái Nguyên”.
Mục đích đề tài - Đánh giá được khả năng sinh trưởng của dê địa phương Định Hóa: + Sinh trưởng tích lũy + Sinh trưởng tương đối + Sinh trưởng tuyệt đối - Kích thước một số chiều đo chính và chỉ số cấu tạo thể hình. Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa trong khoa học Đánh giá được khả năng sinh trưởng của dê địa phương Định Hóa thông qua khả năng sinh trưởng tích lũy, sinh trưởng tương đối, sinh trưởng tuyệt đối, kích thước một số chiều đo chính và các chỉ số cấu tạo hình thể. Ý nghĩa trong thực tiễn Các kết quả thu được sẽ là cơ sở quan trọng cho việc đề xuất các chính sách, các giải pháp hữu hiệu nhằm thúc đẩy nghề chăn nuôi dê và bảo tồn giống dê địa phương Định Hóa.
h 3 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Điều kiện cơ sở nơi thực tập 2. Điều kiện tự nhiên 2.Vị trí địa lí Huyện Định Hóa là một huyện miền núi phía Tây Bắc tỉnh Thái Nguyên, được biết đến với di tích quốc gia đặc biệt An toàn khu Định Hóa. Diện tích tự nhiên: 52.075,4 ha, dân số 90.
Theo cuộc Tổng điều tra dân số và nhà ở 1/4/2009, trong 10 năm (1999-2009), dân số huyện Định Hóa giảm 3.200 người do tỷ lệ xuất cư cao. Đây cũng là nơi căn cứ địa cách mạng của Đảng và Chính phủ. Huyện Định Hóa có 24 đơn vị hành chính cấp xã/phường gồm 1 thị trấn và 23 xã. Huyện Định Hoá nằm giáp ranh 6 huyện của 3 tỉnh phía Bắc giáp huyện Chợ Đồn và Chợ Mới (tỉnh Bắc Kạn).
Phía Nam giáp huyện Đại Từ và Phú Lương, phía Tây giáp huyện Sơn Dương và Yên Sơn (Tuyên Quang). Định Hoá nằm giữa trung tâm 6 tỉnh Việt Bắc, nước non liên hoàn, hiểm trở. Những năm trước, trong 500 km2 đất tự nhiên thì rừng chiếm gần 90%, chỉ còn 10% đất canh tác, hiện nay diện tích rừng đã giảm nhiều. Địa hình Định Hoá nổi lên 2 vùng khá rõ.
Các xã phía Bắc huyện (Linh Thông, Quy Kỳ, Lam Vĩ…) có địa hình núi cao, độ dốc lớn theo hướng Tây Bắc xuống Đông Nam… chủ yếu là rừng già, hệ thống khe suối nhỏ chằng chịt, đồng ruộng ít. Vùng phía Nam huyện Định Hoá gần thị trấn Chợ Chu, xã Bảo Cuờng, xã Trung Hội… là vùng núi thấp, độ cao từ 50m đến 200m, có dãy núi Nản - núi đá tiếp giáp vùng Chợ Chu - Bảo Cường - Phượng Tiến dài trên 20km, chạy song song với đuờng tỉnh lộ 254, có rừng xen kẽ đồng ruộng rộng hàng trăm ha, đất đai phì nhiêu, vùng là đồng bằng, vựa lúa của Định h 4 Hoá, tụ điểm dân cư đông đúc. từ lợi thế của điều kiện khí hậu trong lành, núi rừng, đồi thấp trùng điệp, xen đồng ruộng phì nhiêu với hệ thống suối nhỏ cấp nuớc, thuận tiện nên chăn nuôi Định Hoá phát triển. Núi Nản là điểm cuối của vòng cung sông Gâm chạy dài từ ven thị trấn Chợ Chu và các xã Phượng Tiến, Trung Hội đã sản sinh ra loài động vật quý là dê Nản, vốn là loài dê có tổ tiên là Sơn dương (dê núi) sinh sống ở vùng núi Nản (dân địa phương gọi là Nản đa), núi đá dài trên 20km trùng điệp, cao từ 50m đến trên 200m qua 3 xã, thị trấn.
Điều kiện khí hậu Khí hậu mang tính chất nhiệt đới gió mùa, chia làm 2 mùa rõ rệt: Mùa mưa và mùa khô, nhiệt độ trung bình trong năm khoảng 21℃, độ ẩm tương đối cao trung bình khoảng 80,67%. Số giờ nắng trung bình trong năm là 1.360 giờ, lượng mưa trung bình từ 2. Khí hậu Định Hoá rất thuận tiện cho việc chăn nuôi gia súc như trâu, bò, ngựa, đặc biệt là dê. Điều kiện kinh tế - xã hội 2.
Giao thông Định Hóa cách thành phố Thái Nguyên 50km về phía Tây Bắc. Các xã gần trục đường chính nên rất thuận tiện cho việc đi lại, vận chuyển con giống, thức ăn, vật tư thú y cũng như các sản phẩm chăn nuôi. Thủy lợi Sông suối ở Định Hóa có nhiều nhưng không có giá trị giao thông đường thủysong phân bố đều nên đóng vai trò quan trọng trong việc tiệc tưới tiêu phục vụ sản xuất nông nghiệp. Kênh, mương, cống thoát tại địa phương được đầu tư xây dựng đảm bảo công tác cấp thoát nước phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt, sản xuất, chăn nuôi.
Thực trạng phát triển của ngành chăn nuôi Chăn nuôi khá phát triển, hầu như các hộ gia đình nông dân nào cũng nuôi lợn, trâu, bò, ngựa, dê phục vụ cho nhu cầu địa phương và xuất bán về h 5 xuôi, nhất là Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh. Việc áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào chăn nuôi đã làm chuyển biến tập quán chăn nuôi của địa phương, chuyển sang hướng chăn nuôi công nghiệp có hiệu quả kinh tế cao. Theo hướng chuyển dịch cơ cấu nông lâm nghiệp, tỷ trọng chăn nuôi đang có xu hướng tăng dần, đưa chăn nuôi trở thành một ngành sản xuất chính trong nông lâm nghiệp. Chính sách ưu tiên Hội Nông dân tỉnh đã triển khai Dự án “Phát triển chăn nuôi dê” ở xã.
12 hộ được lựa chọn tham gia Dự án đã được vay 20-30 triệu đồng/hộ, với lãi suất 0,8%/tháng trong vòng 2 năm từ nguồn vốn của Quỹ hỗ trợ nông dân Trung ương để đầu tư phát triển chăn nuôi dê. Trước khi thực hiện dự án, Hội nông dân huyện Định Hóa đã phối hợp với Phòng Nông nghiệp và tổ chức lớp tập huấn kỹ thuật chăn nuôi, phòng bệnh cho đàn dê cho các gia đình. Cơ sở khoa học của đề tài 2. Nguồn gốc và vị trí của dê trong hệ thống phân loại động vật Các nhà khoa học đã xác định rằng, dê nhà đã xuất hiện cách đây 6 -7 nghìn năm trước công nguyên.
Kết quả này cũng phù hợp với kết quả xác định niên đại các mảnh xương dê nhà được t́m thấy di chỉ đồ đá mới của Jeri, nhìn chung khó xác định được thật chính xác thời điểm con người thuần hóa dê rừng. Nhưng với dẫn liệu đặc biệt tìm thấy gần đây người ta cho rằng: nơi thuần hóa đầu tiên là ở Châu Á (Devendra và Nozawa, 1976 [22]) vào thiên niên kỷ thứ 7- 9 trước công nguyên, tại vùng núi Tây Á. Thực tế ngày nay người ta còn thấy nhiều loài dê nguyên thủy với số lượng lớn ở thung lũng đầu nguồn sông Ấn và những dãy núi nằm ở phía Đông sông này. Giống như các vật nuôi khác sau khi được thuần hóa, ban đầu dê nuôi để lấy thịt, sau đó nuôi để lấy sữa cũng được con người tiến hành sớm hơn cả bò sữa vì vắt sữa dê đơn giản hơn với sữa bò.
h 6 Về nguồn gốc: Người ta cho rằng dê nhà ngày nay (Capra hircus) có nhiều nguồn gốc khác nhau. Tổ tiên trực tiếp dê nhà gồm 2 nhóm dê rừng chính. + Dê rừng Bezoar (Capra aegagrus): được tìm thấy ở tận các nước tiểu Á, là tổ tiên của phần lớn dê nhà đang được nuôi ở Châu Á và Châu Âu. Nó được coi là nhóm tổ tiên thứ nhất của dê nhà.
Dê thuộc nhóm này có sừng thẳng nhưng xoắn vặn. + Dê rừng Markhor (Capra Faloneri): nhóm này có sừng cong vặn về phía sau và được coi là nhóm tổ tiên thứ 2 của dê nhà, còn thấy ở vùng núi Hymalaya và được nuôi nhiều ở hai bên sườn phía Đông và phía Tây của dãy núi này. Nhóm Markhor phân bố ở Afghanistan và vùng Kashimir - Karakorum. Hiện nay, người ta cho rằng khu vực nuôi dê lâu đời nhất là nước Trung Đông, sau đó đến Ấn Độ và Ai Cập, tiếp đến là nước Châu Âu, Châu Á và Châu Phi.
Khu vực nuôi dê mới nhất là Đông Nam Á.