Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học của đề tài 1. Đặc điểm sinh học 1. Một số đặc điểm ngoại hình, kích thước các chiều đo của gia cầm * Ngoại hình Ngoại hình là một tính trạng chất lượng của gia cầm.
Đó là những đặc điểm bên ngoài của gia cầm có thể quan sát được như: màu lông, màu da, hình dáng, mào tích,…. Các đặc điểm về ngoại hình của gia cầm đặc trưng cho giống, thể hiện khuynh hướng sản xuất và giá trị kinh tế của vật nuôi. - Sự phát triển của lông và da: Màu sắc da, lông là mã hiệu của giống, một tín hiệu để nhận dạng giống. Thông thường màu sắc lông, da đồng nhất là giống thuần, còn loang thì không thuần, đã bị pha tạp, màu sắc do một số ít gen kiểm soát nên có thể sử dụng để phân tích di truyền dự đoán của đời sau trong chọn lọc Đặng Hữu Lanh và cs, (1999)[18].
Sắc tố da, lông của gà được xác định bằng hai sắc tố là Xanthophile và melanin. Xanthophile là sắc tố tinh thể màu vàng, chất này gà lấy từ thức ăn, nó chỉ nằm ở da, còn sắc vàng ở da, mỏ và chân đều đồng hợp thể theo gen mà alen trội của nó (W) hạn chế sự tích lũy cơ - Xanthophile trong máu và mỡ. Melanin có nguồn gốc protein ở da và gốc lông, xuất hiện không phụ thuộc vào lứa tuổi, những sắc tố này sẽ quyết định màu sắc lông. Nếu nhóm sắc tố có carotenoid thì bộ lông có màu vàng, xanh tươi hoặc đỏ.
Nếu không có sắc tố bộ lông sẽ có màu trắng. - Tốc độ mọc lông là sự biểu hiện khả năng mọc lông sớm hay muộn, có liên quan chặt chẽ tới tốc độ sinh trưởng của gia cầm. và 4 Bilchel H, (1978)[49] những gia cầm lớn nhanh thì có tốc độ mọc lông nhanh. A, (1978)[60], những alen quy định tốc độ mọc lông nhanh phù hợp với khả năng tăng trọng cao.
và cs, (1970)[54], cho biết gà mái mọc lông đều hơn gà trống trong cùng một dòng và ảnh hưởng của hormone có tác dụng ngược với gen liên kết giới tính quy định tốc độ mọc lông. - Màu lông: Sự thay đổi về màu sắc lông do các nguyên nhân: thứ nhất là do màu sắc, hình thức và sự phân bố các hạt màu trong tế bào, thứ hai là số lượng các lớp tế bào cấu trúc và khả năng thu nhận ánh sáng của các tế bào. Ở phần lớn các giống gà, gà trống và gà mái được phân biệt nhau qua bộ lông, đặc biệt là lông gáy, lông mã ở gà trống thì nhọn, cong và dài. Tính trạng màu sắc và kiểu lông là tính trạng bị giới hạn bởi giới tính.
Màu sắc lông của gia cầm thay đổi theo tuổi, tính biệt, mùa vụ và tình trạng dinh dưỡng. - Màu sắc da: da thường có các màu như trắng, trắng hồng, vàng, đen xám. Màu sắc da phụ thuộc vào lớp sắc tố có trong bào tương của tế bào. Ngoài ra, trong một vài trường hợp chất này cũng có ở lớp da trong, da ngoài.
Ở những con đồng hợp thể hay nửa đồng hợp thể do gen lặn liên kết với giới tính, chất melanin không lan rộng được do lớp da trong hạn chế. - Mào: Mào là đặc điểm sinh dục thứ cấp nên có thể phân biệt trống mái. Mào gà rất đa dạng về hình dạng, kích thước, màu sắc, có thể đặc trưng cho từng giống. Mào là dẫn xuất của da.
Theo Phan Cự Nhân, (1971)[31], khi có mặt gen Ab gà sẽ có dạng mào hoa hồng, khi có mặt gen aB gà sẽ có dạng mào nụ và khi có mặt gen ab thì gà sẽ có dạng mào cờ. Mào rất đa dạng về hình dáng, kích thước, màu sắc, có thể đặc trưng cho từng giống. Mào là đặc điểm sinh dục thứ cấp nên có thể phân biệt trống, mái. Theo tính trạng mào người ta phân biệt các loại: mào cờ (mào đơn), mào hoa hồng, mào nụ, mào hạt đậu.
5 - Đầu: Gà trống có ngoại hình đầu giống đầu gà mái sẽ có tính sinh dục kém, gà mái có ngoại hình đầu giống gà trống sẽ không cho năng suất cao, Nguyễn Chí Bảo, (1978)[2]. Do vậy, cấu tạo của xương đầu được coi như có độ tin cậy cao nhất trong việc đánh giá đầu gia cầm. Da mặt và các phần phụ của đầu cho phép rút ra kết luận về sự phát triển của mô liên kết và mô đỡ. - Mỏ: Màu sắc của mỏ thường tương đồng với màu sắc của da chân.
Mỏ gà phải ngắn, chắc. Những con mỏ dài và cong là những con không đạt tiêu chuẩn về phẩm giống. - Bàn chân: Chân gia cầm có 4 đến 5 ngón Trần Kiên và Trần Hồng Việt, (1998)[17]. Chân thường có vảy sừng bao kín, cơ tiêu giảm chỉ còn gân và da.
Chân gà thông thường có 4 ngón, 3 ngón quay về trước dài hơn, ngón còn lại ở phía sau và ngắn hơn, người ta còn gọi ngón này là ngón “thới”. Thới được đóng cao hơn 3 ngón trước. Gần đây, người ta còn phát hiện ra một số giống gà có từ 2-5 ngón thới như: gà Ác; gà tại vùng Xuân Sơn- Phú Thọ và gà trên đỉnh núi Mẫu Sơn. Những giống gà này người dân vùng này thường gọi là gà đa cựa.
Tuy nhiên, theo khoa học thì cựa được gắn gần thới, cựa giống như một lóng xương, ruột có máu, bọng chính giữa, đầu nhọn, bình thường cựa to gần bằng ngón tay út, chỉ về phía sau, hơi cong hoặc thẳng, có nhiều hình thù khác nhau. Cấu tạo của cựa được chia ra như sau: Lớp sừng bên ngoài, sau đó là đến lớp xương rồi đến lớp máu, sau cùng là tủy. Căn cứ vào lớp sừng phủ bên ngoài người ta có thể chia cựa thành 5 loại như sau: cựa sáp, cựa thép, cựa xương, cựa vôi và cựa da. Ngoài tự nhiên một số giống gà ở dưới và trên cựa có nổi lên 2 cựa phụ ngắn hơn, người ta còn gọi là cựa “lục đinh”.
Cựa có vai trò cạnh tranh sinh sản và đấu tranh sinh tồn của loài, vì thế khi phát hiện có gà đa cựa từ 3 cựa hay ngón thới trở lên được coi là phát hiện mới và hiếm thấy nên được coi là giống gà quý. Vì theo truyền thuyết “Voi 9 6 ngà, gà 9 cựa, ngựa 9 hồng mao” là những sản vật quý báu đã đi vào tiềm thức của người dân nước Việt từ thủa dựng nước của 18 đời Vua Hùng. * Hình dáng và kích thước chiều đo của cơ thể Tác giả Champer J.R, (1990)[51] cho biết độ lớn góc ngực, dài chân, dài đùi và đường kính ống chân có tương quan với khối lượng cơ thể. Theo tác giả Siegel P.B và Dunington, (1978)[60] cho biết tương quan giữa độ lớn góc ngực và khối lượng cơ thể từ 0,4 - 0,68, thường ở mức 0,42.
Tùy mục đích sử dụng, các giống gia cầm được chia làm 3 loại thể hình: hướng trứng, hướng thịt và kiêm dụng. Gà hướng thịt thường có hình dáng cân đối, ngực sâu, chân chắc, thiết diện hình vuông hay hình chữ nhật. Gà hướng trứng lại có kết cấu thanh gọn, thiết diện hình tam giác. Cơ sở nghiên cứu một số chỉ tiêu sinh lý - sinh hóa máu Các chỉ tiêu sinh lý, sinh hóa máu ở gia cầm nói chung khá ổn định, ít biến đổi và được di truyền như các tính trạng khác của con vật.
Việc nghiên cứu chỉ tiêu sinh lý, sinh hóa máu có ý nghĩa quan trọng trong việc phát hiện, dự đoán hoặc có những kết luận chắc chắn hơn về tính trạng sản xuất của gia súc, gia cầm. Số lượng hồng cầu dao động từ 2,49 – 2,82 triệu/ml. Số lượng hồng cầu từ 25,66 – 27,47 nghìn/ml theo kết quả nghiên cứu của Phạm Công Thiếu và cs, (2010)[39]. Theo Lê Thị Nga, (2005)[28] trên gà Kabir, Jiangcun và con lai của chúng ở thời điểm 20 tuần tuổi số hồng cầu 3,33 – 3,44 triệu/ml, số lượng bạch cầu 29,85 – 31,57 nghìn/ml.
Còn theo Hoàng Quốc Doanh, (2012)[8] trên gà Zolo nhập nội số lượng bạch cầu 26,07 – 26,30 nghìn/ml, số lượng hồng cầu 2,41 – 2,46 triệu/ml. - Một số chỉ tiêu sinh lý máu + Hồng cầu Nguồn gốc: ở bào thai hồng cầu được tạo ra ở cơ quan tạo huyết là gan, lá lách. Ở cơ thể bình thường hồng cầu sinh ra từ các tế bào tủy đỏ ở xương. 7 Trong quá trình phát triển, hồng cầu biệt hóa để trở thành dạng bình thường lưu thông trong máu.
Số lượng: Số lượng hồng cầu thay đổi theo giống, tuổi, giới tính, chế độ dinh dưỡng, trạng thái cơ thể và sinh lý, trạng thái khỏe mạnh hay bệnh tật, khí hậu…. Số lượng hồng cầu phản ánh chất lượng con giống. Số lượng hồng cầu càng nhiều thì sức sống của con vật càng tốt. Vì vậy, việc xác định số lượng hồng cầu của mỗi gia súc có ý nghĩa quan trọng.
Khi hồng cầu bị giảm đột ngột là biểu hiện một số bệnh như sốt rét ở người, bệnh lê dạng trùng, tiên mao trùng ở gia súc. Trong những bệnh này hồng cầu bị phá hủy hàng loạt. Tuổi thọ của hồng cầu nói chung ngắn: Hồng cầu loài nhai lại và lợn sống được 2 tháng, các loài động vật và người là 4 tháng. Khi còn ở bào thai hồng cầu do lá thai giữa, gan, lá lách và hạch lâm ba sinh ra.
Nhưng khi đẻ ra ngoài thì cơ quan duy nhất sản sinh ra hồng cầu là tủy đỏ của xương. Hồng cầu già chết sẽ được tế bào lưới võng mạc nội mô gan, lách, tủy xương tiến hành thực bào. Số lượng ổn định tương đối là do thường xuyên có các hồng cầu non sinh ra bù đắp vào lượng hồng cầu già chết đi. Vì thế khi bị mất máu đột xuất thì thấy hoạt động của tủy đỏ xương tăng mạnh.
Khi bị tác động của độc tố vi khuẩn, ký sinh trùng đường máu, hoặc nọc độc rắn… thì tính bền vững thẩm thấu của màng hồng cầu bị giảm hoặc mất, làm cho hồng cầu dễ bị vỡ ra. Vì thế trong lâm sàng thú y, việc xác định sức đề kháng thẩm thấu của hồng cầu vỡ có ý nghĩa quan trọng. Sức đề kháng này bao gồm sức đề kháng tối thiểu (lúc bắt đầu dung huyết) và sức đề kháng tối đa (lúc dung huyết hoàn toàn). Sức thẩm thấu hồng cầu của gà (Nồng độ dung dịch NaCl %): Sức đề kháng tối thiểu 0,40; sức đề kháng tối đa 0,32.
+ Hemoglobin Hemoglobin là một hợp chất protein phức tạp dễ tan trong nước, trong thành phần cấu tạo có một phân tử globin (chiếm 96%) kết hợp với 4 8 phân tử hem (chiếm 4%).