Đặt vấn đề Cá rô phi là tên gọi chung của khoảng 80 loài cá thuộc họ Cichlidae, có nguồn gốc Châu Phi. Mặc dù cá có nguồn gốc từ châu Phi, nhưng chúng lại được nuôi tập trung chủ yếu ở 2 khu vực chính đó là các nước châu Á và Nam Mỹ, trong đó sản lượng cá rô phi ở các nước châu Á chiếm đến 80% sản lượng cá rô phi trên toàn thế giới. Hiện có khoảng trên 100 nước trên thế giới nuôi cá rô phi với các loài khác nhau nhưng chủ yếu tập trung vào loài cá rô phi vằn. Cá rô phi được coi là đối tượng nuôi thuỷ sản có tiềm năng to lớn cho tiêu thụ nội địa và cho xuất khẩu nên đang được đầu tư nghiên cứu phát triển mạnh trong thế kỷ 21 (Fitzsimmons, 2000)[16].
Nước ta có điều kiện tự nhiên thuận lợi cho nuôi trồng thuỷ sản: Diện tích mặt nước tiềm năng phong phú, tuy nhiên vẫn chưa được khai thác một cách có hiệu quả. Những năm gần đây sản lượng nuôi thuỷ sản của cả nước không ngừng tăng cao và đa dạng về sản phẩm. Hiện nay diện tích nuôi và sản lượng cá rô phi ở nước ta cũng đang phát triển mạnh. Tuy nhiên, miền Bắc Việt Nam lại gặp khó khăn khi nuôi cá rô phi đó là mùa đông lạnh: mùa vụ nuôi ngắn, kích thước thương phẩm nhỏ do tâm lý sợ cá bị chết rét do đó đã thu hoạch từ sớm.
Để đẩy nhanh và đưa cá rô phi thành đối tượng nuôi chủ lực ở miền Bắc, trong tương lai cần phải khắc phục được những nhược điểm của hình thức canh tác hiện nay. Việc xem xét khả năng chịu lạnh của cá rô phi được xem như là một trong những khía cạnh khoa học để dần nâng cao khả năng chịu lạnh của cá rô phi. Trong những năm vừa qua có nhiều công trình nghiên cứu thành công nhằm phát huy những đặc tính ưu việt đáp ứng nhu cầu của người nuôi như công trình nghiên cứu cho ra công nghệ sản xuất giống cá rô phi toàn đực thông qua n 2 sử dụng hormon, lai xa, tạo con siêu đực. Chọn giống là một trong những biện pháp nhằm tăng khả năng thích ứng của động vật với điều kiện môi trường mới.
Cá rô phi đơn tính dòng Đường Nghiệp thuộc đời con lai F1 nguồn gốc Philipin có tỷ lệ đực rất cao có thể đạt 100%, chúng có kích thước, trọng lượng cơ thể lớn, mình ngắn, đầu nhỏ, lưng cao, mắt lồi và sếch, mõm gẫy, mồm vểnh ngược lên, thịt dày không có xương răm, mùi vị cá thơm ngon thuộc loại cá sạch, có giá trị kinh tế cao. So với cá rô phi thông thường, cá rô Đường Nghiệp có khả năng lớn nhanh tốc độ siêu tốc tối đa nặng từ 3,5 đến 4kg/ con. Loại cá rô này có khả năng chịu đựng nhiệt và lượng oxi trong nước thấp hơn thông thường. Có thể nuôi trong môi trường nước ngọt, nước lợ, nước mặn, tốc độ sinh trưởng nhanh ít bệnh tật chịu rét cao.
Khi cá từ 2 đến 3 kg/ con vẫn phát triển lớn bình thường. Dùng thức ăn công nghiệp có hệ số từ 1 đến 1,2kg thức ăn / 1kg cá. Hiện nay cá rô phi Đường Nghiệp Philipin là đối tượng nuôi chính trên thế giới và được chọn là đối tượng số 1 cho nghề nuôi cá rô phi sạch xuất khẩu. Cá rô phi đơn tính dòng Đường Nghiệp hiện nay được bà con nông dân áp dụng nuôi thành công.
Nó đạt năng suất cao và mang lại giá trị kinh tế giúp bà con cải thiện cuộc sống. Hiện nay cá rô Đường Nghiệp Philipin là đối tượng nuôi chính trên thế giới và được chọn là đối tượng số 1 cho nghề nuôi cá rô phi sạch xuất khẩu tại nước ta. Trước sự gia tăng diện tích nuôi cá rô Đường Nghiệp như hiện nay, vấn đề cần thiết cần được giải quyết hiện nay là làm sao tăng được năng suất ương để đáp ứng đủ nhu cầu cho người nông dân về số lượng và chất lượng con giống, giảm giá thành sản phẩm nhằm hoàn thiện quy trình sản xuất giống để nghề nuôi cá rô Đường Nghiệp được ổn định. Một trong hương nghiên cứu cho mục tiêu này là trình độ và kỹ thuật ương phải đảm bảo.
Xuất phát từ tình hình thực tế trên tôi thực hiện đề tài Đánh giá khả năng sản xuất của cá rô phi đơn tính Đƣờng Nghiệp ƣơng từ giai đoạn cá hƣơng lên cá giống .Mục đích nghiên cứu Thấy được hiệu quả kinh tế của ương cá rô phi đơn tính Đường Nghiệp từ hương lên giống. Thấy được năng suất giống của cá rô phi đơn tính Đường Nghiệp. Xác định tỷ lệ sống và sự phát triển của cá giai đoạn từ cá hương lên cá giống. Mục tiêu nghiên cứu Bổ sung thêm các thông tin về kỹ thuật ương cá rô phi đơn tính Đường Nghiệp.
Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình ương giai đoạn từ cá hương lên cá giống. Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa của khoa học Hoàn thiện quy trình kỹ thuật ương cá hương lên cá giống. Thấy được các yếu tố gây ảnh hưởng chính lên tỷ lệ sống và sự phát triển của cá ở giai đoạn từ cá hương lên cá giống.
Thấy được khả năng chịu đựng và thích nghi với môi trường mới của cá. Ý nghĩa thực tiễn Xác định được năng suất và giá trị kinh tế của cá rô phi đơn tính Đường Nghiệp. Kết quả của đề tài có thể áp dụng trong công tác sản xuất giống cá nước ngọt ở quy mô trang trại và nông hộ. n 4 Phần 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2.
Cở sở khoa học và pháp lý của đề tài 2. Phân loại Dựa vào đặc điểm sinh sản, người ta chia cá rô phi thành 3 giống: Tilapia (cá đẻ cần giá thể) Sarotherodon (Cá bố hay cá mẹ ấp trứng trong miệng) Cá rô và Oreochromis (Cá mẹ ấp trứng trong miệng) Cá rô phi hiện đang nuôi phổ biến ở Việt Nam thuộc: Bộ cá vược Perciformes Bộ phụ Percoidae Họ Cichlidae Giống Oreochromis Loài Cá rô phi vằn O.1: Cá rô phi Đường Nghiệp Theo thống kê có khoảng 80 loài cá rô phi được phân loại thuộc 3 giống chính, đó là: Tilapia, Sarotherodon, Oreochromis, nhưng theo đánh giá chỉ có n 5 khoảng 10 loài có giá trị kinh tế trong nuôi trồng thuỷ sản (NTTS) (Magintosh và Little, 1995)[20]. Giống Tilapia: Đẻ trứng bám vào giá thể (tổ đẻ) bằng cỏ rác. Sau khi đẻ, cá đực và cá cái cùng tham gia bảo vệ tổ.
Giống này phân bố chủ yếu ở Tây Phi và Trung Phi. Giống Sarotherodon: Đào tổ đẻ trứng, chỉ có cá đực ấp trứng trong miệng. Giống này phân bố chủ yếu ở Bắc Phi. Giống Oreochromis: Cá đực đào tổ đẻ, chỉ có cá cái ấp trứng trong miệng đến khi cá nở thành cá bột.
Giống này phân bố rải rác ở miền Đông, Trung Phi. Hiện nay có 3 loài chính được phổ biến tại Việt Nam là : Cá rô phi cỏ Oreochromis mossambicus, được nhập vào Việt Nam năm 1953 từ Thái Lan. Cá rô phi vằn (Rô phi Đài Loan O.niloticus) được nhập vào Việt Nam năm 1974 từ Đài Loan. Cá rô phi đỏ (red Tilapia), có màu hồng được nhập vào Việt Nam năm 1985 từ Malaysia.1: Một số loài cá rô phi có giá trị kinh tế cao trong NTTS Giống Loài Tilapia T.
Đặc điểm hình thái Cá rô có thân hình màu hơi tím, vảy sáng bóng, có 9-12 sọc đậm song song nhau từ lưng xuống bụng. Vi đuôi có màu sọc đen sậm song song từ phía trên xuống phía dưới và phân bố khắp vi đuôi. Vi lưng có những sóc trắng n 6 chạy song song trên nền xám đen. Viền vi lưng và vi đuôi có màu hồng nhạt.
Có kích thước, trọng lượng co thể lớn, mình ngắn, đầu nhỏ, lưng cao, mắt lồi và sếch, mõm gẫy, mồm vểnh ngược lên, thịt dày không có xương răm, mùi vị cá thơm ngon thuộc loại cá sạch, có giá trị kinh tế cao. Môi trường sống Nhiệt độ: Nhiệt độ cần thiết cho sự phát triển của cá rô phi từ 20-32oC, thích hợp nhất là 25-320C. Khả năng chịu đựng với biến đổi nhiệt độ cũng rất cao từ 8- 420C, cá chết rét ở 5,50C và bắt đầu chết nóng ở 42oC. Nhiệt độ càng thấp thì cá càng giảm ăn, ức chế sự tăng trưởng và tăng rủi ro nhiễm bệnh.
Theo Bardach và cs (1972)[12], nhiệt độ cũng ảnh hưởng đến sự phát triển của trứng và cá con sau khi nở. Nhiệt độ thấp hay cao vượt quá giới hạn cho phép đều ảnh hưởng đến sự phát triển của tuyến sinh dục, sức sống của cá con. Nhiệt độ tối thiểu để cá rô phi sinh sản là 20oC. Biên độ nhiệt độ thích hợp cho sự phát triển của phôi cá rô phi là 25-30oC và cho cá con là 28-30oC.
Cá rô phi là loài cá có nguồn gốc nhiệt đới nên khả năng thích nghi với nhiệt độ cao tốt hơn với nhiệt độ thấp. Biên độ nhiệt của cá rô phi rất rộng 11 – 42oC (Bardach và cs, 1972)[12]. Nhiệt độ cho cá rô phi sinh trưởng và phát triển là 28 – 30oC (Lê Quang Long, 1964)[ 7]. Ở nhiệt độ thấp hơn 15,5oC cá rô phi ngừng hoạt động và hoàn toàn ngừng ăn.
Quá trình sinh sản của cá rô phi chỉ xảy ra khi nhiệt độ nước trên 22oC, nhiệt độ thích hợp cho cá rô phi sinh sản là 26 – 29oC. Ở nhiệt độ nước dưới 20oC tuyến sinh dục ngừng phát triển (Chervinski, 1982)[15]. Độ mặn: Cá rô phi là loài rộng muối, có khả năng sống được trong môi trường nước sông, suối, đập tràn, hồ ao nước ngọt, nước lợ và nước mặn có độ muối từ 0-40‰. n 7 Trong môi trường nước lợ (độ mặn 10-25‰) cá tăng trưởng nhanh, mình dày, thịt thơm ngon.
pH: Môi trường có độ pH từ 6,5-8,5 thích hợp cho cá rô phi, nhưng cá có thể chịu đựng trong môi trường nước có độ pH thấp bằng 4. Cá rô phi có khả năng sống được ở biên độ pH từ 4 – 11 (Chervinski, 1982)[15], nhưng pH thấp hoặc cao quá giới hạn thích hợp đều không có lợi cho quá trình sinh trưởng và phát triển của cá rô phi. Giá trị pH = 4 – 6,5 ảnh hưởng xấu đến sinh trưởng của cá rô phi, khi giá trị pH bằng 6,5 khả năng sinh sản của cá giảm đi rõ rệt (Bongco, 1991)[14]. Oxy hoà tan: Cá rô phi có thể sống được trong ao, đìa có màu nước đậm, mật độ tảo dày, có hàm lượng chất hữu cơ cao, thiếu oxy.
Yêu cầu hàm lượng oxy hoà tan trong nước của cá rô phi ở mức thấp hơn 5-10 lần so với tôm sú.