Chương 1: Giới thiệu luận văn cao học Chương 2: Cơ sở lý luận về những yếu tố ảnh hưởng đến khả năng phá sản của các ngân hàng Chương 3: Đánh giá khả năng phá sản của các NHTM Việt Nam giai đoạn 2006- 2015 Chương 4: Dữ liệu và kết quả nghiên cứu Chương 5: Kết luận và khuyến nghị nhằm hạn chế rủi ro ảnh hưởng khả năng phá sản các NHTM Việt Nam.7 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài nghiên cứu Dựa trên cơ sở khoa học về các loại rủi ro ảnh hưởng đến khả năng phá sản của ngân hàng, đặc biệt là các loại rủi ro tài chính quan trọng xảy ra trong quá trình hoạt động kinh doanh. Nghiên cứu sẽ cho thấy chiều hướng tác động của các yếu tố trong rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản và rủi ro lãi suất ảnh hưởng đến khả năng phá sản của các NHTM Việt Nam. Tác giả đánh giá thực trạng tình hình hoạt động, thuận lợi và khó khăn cũng như phân tích nguyên nhân gặp phải rủi ro của từng nhóm ngân hàng, từng ngân hàng trong quá trình kinh doanh với số liệu cập nhật mới nhất giai đoạn 2006-2015. Bên cạnh đó tác giả cũng đưa ra một số giải pháp thực tế trong phạm vi hiểu biết phù hợp với tình hình hiện nay tại các NHTM Việt Nam.
Hoàn toàn có giá trị tham khảo cho các nhà điều hành, quản trị ngân hàng tìm ra giải pháp thích hợp nhằm phòng ngừa và hạn chế rủi ro để xảy ra bất ổn sao cho hiệu quả nhất. 123doc 5 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NHỮNG YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN KHẢ NĂNG PHÁ SẢN CỦA CÁC NGÂN HÀNG Giới thiệu chương 2 Một doanh nghiệp sản xuất kinh doanh hằng ngày thường xuyên phải đối mặt với nguy cơ phá sản, xuất phát từ những rủi ro tiềm ẩn, rủi ro bên trong và rủi ro bên ngoài. Lĩnh vực hoạt động kinh doanh của một NHTM cũng vậy, luôn có khả năng phá sản đến từ nhiều rủi ro khác nhau như: rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản, rủi ro lãi suất, rủi ro tỷ giá và các loại rủi ro khác (Shelagh Hefernan, 2005). Nội dung chính của chương là trình bày những cơ sở lý thuyết về rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản, rủi ro lãi suất và liệt kê một số chỉ tiêu đo lường các loại rủi ro này.
Bên cạnh đó làm sáng tỏ các khái niệm liên quan như phá sản ngân hàng, rủi ro trong kinh doanh của ngân hàng thương mại cũng như đưa vào bài một số nghiên cứu trước đây có liên quan đến các yếu tố tác động vào rủi ro phá sản của ngân hàng thương mại. Từ đó tác giả tìm ra những điểm mới khác biệt và được cập nhật trong nghiên cứu của mình phù hợp hơn với thực tiễn, trên nền tảng những lý thuyết và bài nghiên cứu có sẵn để làm rõ hơn những yếu tố tác động đến rủi ro để đánh giá khả năng phá sản của các NHTM tại Việt Nam.1 Cơ sở lý thuyết về khả năng phá sản ngân hàng 2.1 Khái niệm phá sản ngân hàng Khi xem xét về lĩnh vực ngân hàng, Logan (2001) và Shelagh Heffernan (2005) đưa ra khái niệm khá tương đồng về khả năng phá sản NHTM là “Khi ngân hàng mất khả năng thanh khoản, bị sáp nhập hoặc bị mua lại bởi một ngân hàng lớn khỏe mạnh, được sự kiểm soát của chính phủ hoặc ngân hàng đó phải nhận sự cứu trợ từ NHTW”. Có thể thấy theo định nghĩa này khi một ngân hàng đi đến bờ vực phá sản sẽ nhận được sự bảo vệ của hệ thống ngân hàng từ chính phủ bằng các biện pháp khác nhau. Tại những quốc gia như Nhật Bản, Châu Âu cho rằng nên giải cứu và sáp nhập các ngân hàng yếu kém vào các ngân hàng mạnh, riêng ở Mỹ trước năm 1991 xu hướng giải cứu các ngân hàng lớn là không có, sau này pháp luật yêu cầu 123doc 6 các nhà chức trách chấp nhập đưa ra một khoản chi nhỏ để giải quyết các ngân hàng bị phá sản.
Tham khảo thêm khái niệm về thất bại của NHTM theo Tổng công ty bảo hiểm tiền gửi liên bang Mỹ (FDIC) cho rằng phá sản ngân hàng là việc đóng cửa một ngân hàng, ngân hàng được sáp nhập hoặc mua lại do một cơ quan quản lý NHTW thực hiện khi không thể đáp ứng các nghĩa vụ của mình cho người gửi tiền và người khác. Hay phá sản ngân hàng xảy ra khi giá trị thực của ngân hàng giảm dưới mức quy định cụ thể của từng quốc gia. Có thể hiểu đơn giản là mỗi NHTM tại từng quốc gia được quy định một mức vốn điều lệ tối thiểu và ngân hàng được xem là phá sản khi không đảm bảo duy trì được nguồn vốn này theo quy định (Frank Betz et al, 2013). Ngân hàng thương mại hoạt động trong lĩnh vực tài chính tiền tệ, một lĩnh vực khá nhạy cảm tác động trực tiếp đến mọi hoạt động trong nền kinh tế khác, được chính phủ kiểm soát chặt chẽ nhằm ổn định hệ thống tiền tệ và hạn chế nguy cơ khủng hoảng xảy ra, vì khi xuất hiện nhiều rủi ro một ngân hàng mất khả năng thanh toán sẽ tạo tác động lan truyền nhanh chóng đến các NHTM khác.
Việt Nam cũng thể hiện rất rõ quan điểm xử lý hết sức thận trọng các ngân hàng hoạt động yếu kém khi chấp nhận việc sáp nhập và mua lại (M&A) qua quyết định 254/QĐ- TTg ban hành ngày 01 tháng 03 năm 2012 về việc phê duyệt đề án cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng giai đoạn 2011 – 2015 thay vì chấp nhận việc phá sản ngân hàng xảy ra. Có thể thấy khi một ngân hàng gặp phải rủi ro đến mức không thể tiếp tục hoạt động thì một là bị tiếp quản, thanh lý, bán đi tài sản để đảm bảo thanh toán nợ cho khách hàng; hai là bị sáp nhập vào ngân hàng mạnh để ngân hàng này đứng ra giải quyết khó khăn gặp phải; ba có thể sẽ được chính phủ can thiệp cho vay bảo lãnh bù đắp các khoản nợ xấu hoặc quốc hữu hóa ngân hàng. Trong nội dung nghiên cứu khoa học của mình, tác giả vẫn giữ quan điểm sử dụng cụm từ “khả năng phá sản” để nói về xác suất có thể xảy ra sự phá sản ngân hàng trong tương lai dù thời điểm hiện tại ở Việt Nam chưa xảy ra nhưng cũng không ai dám chắc điều đó mãi không xảy ra. Nghiên cứu chỉ nhằm mục đích để dự 123doc 7 báo các ngân hàng nào đang gặp nhiều rủi ro trong hoạt động kinh doanh dẫn đến bất ổn có khả năng không thể duy trì hoạt động giúp các nhà điều hành, quản trị ngân hàng xem xét chấn chỉnh tìm giải pháp phù hợp.
tìm ra giải pháp thích hợp nhằm phòng ngừa và hạn chế rủi ro để xảy ra bất ổn sao cho hiệu quả nhất.2 Dấu hiệu nhận biết ngân hàng có khả năng phá sản Tham khảo trang thông tin chính thức của học viên quản trị đầu tư (Investar, 2016), tác giả sẽ trình bày những dấu hiệu dễ dàng nhận biết nhất khi một NHTM có khả năng phá sản: - Thiếu hụt tiền mặt liên tục, ngân hàng mất khả năng chi trả: Một khi ngân hàng quản trị dòng tiền không tốt, không thể đảm bảo tỷ lệ tối thiểu giữa TTS có thể thanh toán ngay và TTS nợ phải thanh toán ngay đối với các nhu cầu thanh toán hiện tại của khách hàng thì ngân hàng rơi ngay vào tình trạng mất khả năng chi trả, tin tức này chắc chắn sẽ nhanh chóng lan rộng, mất niềm tin công chúng dẫn tới khả năng phá sản của ngân hàng tăng cao. - Lợi nhuận ngân hàng sụt giảm: Liên tục qua các năm lợi nhuận của NHTM sụt giảm lỗ lũy kế lớn hơn nhiều so với tổng số vốn điều lệ cần có và các quỹ. Hàng loạt hệ quả kéo theo như phải bán tài sản, không có khả năng tái đầu tư nên chuyển sang thuê, nhân viên mất tinh thần làm việc, lương thưởng sụt giảm khiến nhiều nhân viên chủ chốt ra đi. - Tỷ lệ nợ xấu tăng cao: Tỷ lệ nợ xấu càng cao cho thấy ngân hàng gặp phải rủi ro tín dụng càng lớn (Delis, 2011).
Khi ngân hàng gặp phải rủi ro tín dụng càng lớn thì nguy cơ khách hàng vay không trả được nợ cho ngân hàng càng cao, NHTM thậm chí có thể mất đi nguồn vốn cho vay của mình, khiến ngân hàng rơi vào tình trạng tài chính khó khăn. Hệ quả báo cáo tài chính xấu đi, truyền thông lúc này có thể trở nên tiêu cực và kéo theo việc nhà đầu tư thoái vốn. Đẩy ngân hàng vào những rắc rối liên tục, dễ làm cho những quyết định của nhà lãnh đạo ngân hàng trở nên sai lầm như giấu nợ, huy động không lành mạnh, kinh doanh thiếu trung thực. 123doc 8 - Về mặt tính toán có một chỉ số để đo độ an toàn vốn và phản ánh năng lực tài chính của các NHTM đó là Tỷ lện an toàn vốn tối thiểu (Capital Adequacy Ratio – CAR): Khi ngân hàng có dấu hiệu phá sản, hiển nhiên chỉ tiêu này không đạt theo quy định.
Chỉ tiêu CAR được dùng để xác định khả năng của ngân hàng trong việc thanh toán các khoản nợ có thời hạn và khả năng đối mặt với những rủi ro khác như rủi ro tín dụng, rủi ro hoạt động. Theo quy định của Basel I chỉ tiêu này phải đạt là 8% do ủy ban giám sát các ngân hàng Basel ban hành (NHNN, 2011).3 Nguyên nhân dẫn đến khả năng phá sản ngân hàng Theo Lê Khương Ninh (2015) cho rằng: "Nhiều cuộc khủng hoảng ngân hàng ở các nước đang phát triển có tính đặc thù, xuất hiện lặp lại tình trạng khốn đốn do thiếu hụt thanh khoản dai dẳng rồi phá sản. Ở một số nước khác, hiện tượng này lại giống như bệnh dịch bởi nó liên đới tới khủng hoảng kinh tế”. Dựa trên thực tiễn, tác giả cũng đã phân thành bốn loại nguyên nhân trên phương diện vĩ mô, vi mô, sự can thiệp của Chính phủ vào NHTM và sự thay đổi trong cơ chế chính sách.
Cụ thể: - Khía cạnh vĩ mô thể hiện qua khả năng chống đỡ yếu kém các cú sốc vĩ mô dẫn đến bị phá sản. Các ngân hàng không phản ứng kịp sự thay đổi đột ngột của chu kỳ kinh tế do sự biến động không thể kiểm soát được từ môi trường kinh tế vĩ mô trong và ngoài nước, ảnh hưởng từ các cú sốc tài chính, khủng hoảng kinh tế toàn cầu biến động bất ngờ trong tỷ lệ lạm phát hoặc lãi suất.