Chương 1 TONG QUAN TAI LIEU 1.1 Sơ lược về cây đu đủ 1.1 Nguồn gốc và sự phân bố Theo Trần Thế Tục và Doan Thế Lư (2004), du đủ có tên khoa học là Papaya carica L. là một họ thực vật có hoa thuộc họ du đủ (Caricaceae). Du đủ có nguồn gốc ở vùng nhiệt đới Châu Mỹ. Một số tác giả cho rằng Mehico và Costa Rica là nơi ra đời của các dòng, giống đu đủ đang được trồng hiện nay.
Hiện nay, đu đủ được trồng ở các vùng nhiệt đới và Á nhiệt đới. Các nước trồng đu đủ nhiều có thể kể đến như An Độ, Trung Quốc, Thái Lan, Philippin, Myanmar, Malaysia (Châu A); Tazania, Uganda (Châu Phi); Brazil, Equado, Hoa Ky (Châu Mỹ); Uc, New Zealand (Chau Dai Duong). Tai Việt Nam, đu đủ chưa có số liệu thống kê cụ thể về diện tích, năng suất và sản lượng nhưng được trồng ở hầu hết các tỉnh từ Bắc vào Nam, chủ yếu ở các tỉnh đồng bằng, dọc theo các con sông, trên các loại đất phù sa, dốc tụ, phù sa cô và nhiều loại đất khác. Du đủ thường được trồng xen với các loại cây trồng khác.
Các vùng trồng đu đủ có thé ké đến là vùng Ha Tây, Hà Nam, Hưng Yên, Tuyên Quang, Vĩnh Phúc (miền Bắc); Đắk Lắk, Bình Thuận, Vũng Tàu, Lâm Đồng (miền Trung) và một số tỉnh ở khu vực Đồng bằng sông Cửu Long như Lái Thiêu, Tiền Giang (miền Nam) cây đu đủ cũng đã được trồng thành vườn dé thu hoạch quả hoặc lấy nhựa phục vụ cho nhiều mục dich khác nhau.2 Đặc điểm thực vật học Ré: Theo Trần Thế Tục và Doan Thế Lư (2004), rễ đu đủ nhỏ, giòn, dé bị tốn thương đo cơ giới hoặc tình trạng khô hạn, ngập úng của đất. Thông thường, rễ đủ đủ phân bó rất nông, chủ yếu tập trung trong tang đất từ 0 — 30 cm. Tuy nhiên, nếu đất trồng đủ dinh dưỡng, thoáng khí, thoát và tiêu nước tốt, rễ có thé sẽ phân bố ở tang đất sâu hơn từ 50 — 60 em. Rễ phân bố rộng tương đương với độ rộng của tán lá trên mặt đất và khá man cảm với nước trong đất cũng như thành phan cơ giới của đất.
Than: Thân du đủ moc thang, thuộc loại thân mềm, ban mộc, cao đến 12 m, đường kính gốc có khi đến 20 cm. Thân ít phân nhánh và nhánh vẫn có khả năng ra hoa kết quả nhưng tỷ lệ đậu quả thấp và kích thước quả nhỏ (Nguyễn Danh Vàn, 2007). Thân có cau tao đặc biệt với phan vỏ sau lớp biểu bì là mạng lưới dày đặc các bó sợi gỗ giúp cây chắc khỏe. Phan trong sau lớp biểu bì là các tế bao nhu mô xốp giòn làm nhiệm vụ dự trữ dinh dưỡng cho cây và sẽ dần thoái hóa khi về già làm cho cây bị rỗng ruột (Trần Thế Tục và Đoàn Thế Lư, 2004).
La: Lá đu đủ thuộc dang lá đơn, mọc thành chùm ở ngọn và xoắn theo hình tron ốc (Theo Nguyễn Danh Van, 2007). Phién lá rộng chia thành 7 — 11 thùy, cuống lá dai, gân lá nổi rõ ở mặt dưới lá. Lá rat man cảm với sương muối, gió lạnh cũng như điều kiện bat thuận như thiếu đinh dưỡng, hạn va ung (Trần Thế Tuc và Đoàn Thế Lư, 2004). Vì vậy cần chú ý bảo vệ bộ lá vì số lá trên thân đu đủ ty lệ thuận với số phát hoa mọc ra ở nách lá, khả năng đậu trái, độ lớn trái và năng suất thu hoạch.
Cây đu đủ bắt đầu ra hoa khi cây được 22 — 27 lá thật. Một cây trung bình đạt 13 — 17 lá xanh hoạt động thi tỷ lệ hoa đậu quả và quả phát triển bình thường, nếu đạt được 25 — 30 lá hoạt động thì năng suât sẽ cao và ôn định. Hoa: Hoa mọc ở nách lá, có 3 loại hoa là hoa đực, hoa cái và hoa lưỡng tính (Nguyễn Danh Vàn, 2007): Hoa đực nhỏ, có 5 cánh dính lai với nhau thành một hình ống, trên hoa chỉ có nhị đực còn nhụy cái đã bị thoái hóa thành một cái bau nhỏ, nuém nhỏ như sợi chỉ, do vậy hoa không có khả năng cho trái. Hoa cái lớn hơn hoa đực, cuồng hoa thô ngắn.
Mỗi cuống có từ một đến vai hoa. Hoa có 5 cánh màu trắng vàng, rời nhau, bầu noãn lớn, nuốm nhị cái lớn, không có nhị đực, vì thé thông thường hoa cái muốn tạo được trái phải nhờ phan ở nhị đực của một cây khác. Hoa lưỡng tính lớn hơn hoa đực và nhỏ hơn hoa cái. Hoa có 5 cánh, phần trên cánh hoa tách rời nhau, phần dưới dính chặt tạo thành ống giống hoa đực.
Mỗi hoa có từ 5 — 10 nhị đực, đồng thời có cả nhụy cái nên có khả năng tự thụ phan và hình thành trái. Tuy nhiên sự phân chia các loại hoa chỉ mang tính ước lệ vì ngay trong cùng một loại hoa cũng có nhiều hình dạng khác nhau. Quả: Quả đu đủ thuộc loại quả thịt có hình dạng thay đổi theo giống va ngay trong cùng một giống. Thông thường quả có đạng dài, ovan, lê, thuôn đài, thuôn hoặc tròn.
Khi chưa chín quả có màu xanh, chuyên dần sang xanh đậm, xanh sữa và khi chín có màu vàng, hoặc vàng da cam, vang sam. Thời gian quả sinh trưởng kéo dai 3 — 4 tháng tuỳ thuộc vào mùa vụ và giống (Trần Thế Tục và Đoàn Thế Lư, 2004). Ngoài ra, Nguyễn Danh Vàn (2007) ghi nhận, hình dạng quả đu đủ cũng phụ thuộc vào loại hoa đã thụ tinh. Quả dạng hình trứng hay hình cau là do hoa cái tạo thành, mỏng cơm, bong ruột, quả lớn và tròn.
Quả dạng hình thon dài do hoa lưỡng tính tạo thành, dày cơm, nhiều hạt, ngon ngọt và rất lớn. Hạt: Mỗi quả có thể có đến 1000 — 1400 hạt trong điều kiện thụ phấn, thụ tinh tốt. Hat đu đủ có mang mỏng bao quanh, khi gia có màu xám hoặc đen, bên ngoài có lớp vỏ lụa mỏng. Hạt có chứa dầu nên dé mất sức nảy mam.
Hạt nảy mam tốt ở nhiệt độ 35°C, dưới 23°C hay trên 44°C đều ức chế sự nảy mam của hạt (Trần Thế Tục và Doan Thế Lư, 2004) 1.3 Giá trị dinh dưỡng quả đu đủ Theo Trần Thế Tục và Đoàn Thế Lư (2004), quả đu đủ chín là một loại quả có hàm lượng dinh đưỡng cao dùng để ăn tươi hoặc làm nguyên liệu sản xuất. Trong thịt quả có chứa 85 — 88% nước, protein 0,6%, lipid 0,1%, đường 8,3%, chất xơ 0,6%, tro 0,4% và axit 0,14%. Qua du đủ được xác định có hàm lượng B-carotene và lycopene cao. Ngoài ra quả đu đủ chín khá giàu canxi, vitamin A, B, C và các thành phần khoáng chất (Ca, Fe, Mg, Lân, K, Na).
Quả du đủ xanh có chứa khoảng 60 — 70% các chất dinh dưỡng so với qua chin và được sử dụng làm thực phẩm cho người và làm thức ăn chăn nuôi. Ngoài ra, quả xanh còn là nguyên liệu làm mứt hoặc sây khô làm rau dự trữ cũng như chế biến cùng các sản phẩm khác.1 Thành phan và hàm lượng các chất dinh dưỡng trong 100g quả đu đủ xanh Thành phần dinh dưỡng Don vi tính Ham luong Nang luong calo 26 Nước g 92.1 Protein g 1,0 Lipid g 0,1 Tổng carbohydrat g 6,2 Xo g 0,9 Tro g 0,6 CanxI g 38 Photpho mg 20 Sắt mg 0,3 Natri mg 7,0 Kali mg 215 Beta — carotene ug 15 Thiamine mg 0,02 Riboflavin mg 0,03 Niacin mg 0,3 Ascorbic acid mg 40 (Nguôn: Duke, 1983) 1.2 Bệnh đốm vòng do Papaya ringspot virus (PRSV) gây hại trên đu đủ 1.1 Phân bố và thiệt hại Những nghiên cứu về bệnh virus đốm vòng đủ ghi nhận đầu tiên ở Mỹ vào năm 1949 (Jensen, 1949). Sau đó, virus lần lượt được phát hiện và công bố ở khắp các quốc gia trồng đu đủ trên thế giới, đặc biệt là ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới (Gonsalves, 1984). PRSV trở thành một trở ngại chính và gây thiệt hại lớn nhất cho nghề trồng đu đủ ở các vùng trồng đu đủ như Hawaii, Nam Mỹ, Đài Loan, Nhat Ban, Nigeria, Bazil, Việt Nam, Trung Quốc, Philippin, Malaysia, Uc (Bau va ctv, 2002).
Theo Golsalves (1998), bệnh đốm vòng đu đủ do tác nhân là Papaya ringspot virus (PRSV) được phát hiện lần đầu ở miền Nam Đài Loan vào năm 1975 và chỉ sau 2 năm virus lan ra khắp vùng duyên hải phía Đông và phá hủy phần lớn các vườn đu đủ thương mại. Dịch hại này đã khiến cho cây đu đủ ở Đài Loan từ một cây ăn quả lâu năm trở thành cây hàng năm do người dân phải chặt đi trồng lại cây mới sau mỗi vụ trồng. Sản lượng quả giảm nghiêm trọng khiến Đài Loan cũng đánh mat nhiều thị trường xuất khẩu quan trọng như Nhật Bản, Hồng Kông. Tại Brazil, PRSV gần như xóa số du đủ ở bang Sao Paulo khiến Brazil phải chuyển vùng sản xuất du đủ từ Rio de Janeiro và Sao Paulo đến các bang phía bắc như Espiriro Santo và Bahia.
Tuy nhiên, tình hình cũng không mấy khả quan khi PRSV vẫn tiếp tục gây hại và lan rộng. Các nghiên cứu ở Philippin năm 1984 cho thấy khoảng 200 ha đu đủ bị nhiễm PRSV với tỷ lệ 60 — 100%, thiệt hại kinh tế 300. Năm 1994, PRSV gây thiệt hại hơn 1 triệu USD ở khu vực Nam Tagalog (Philippin) và giảm 80% sản lượng. Năm 1945, PRSV được phát hiện lần đầu tiên tại Hawaii (Mỹ).
Sau đó PRSV đã trở thành nguyên nhân chính gây thiệt hại nặng nề cho nền sản xuất đu đủ ở Oahu (Mỹ) vào những năm 1950, (Golsalves, 1998). Đến năm 1992, PRSV được tìm thấy ở Puna (Mỹ) (Ferreira và ctv, 2002). Trong vòng 3 năm, gần như tất cả các cánh đồng ở Puna đều bị ảnh hưởng nghiêm trọng, nhiều cây đã bị chặt để ngăn chặn sự lây lan nhưng không thành công và PRSV đã lan ra khắp vùng Puna trong vai năm (Tripathi va ctv, 2008).2 Triệu chứng bệnh đốm vòng trên đu đủ Theo hai tác giả Vũ Triệu Mân (1999) và Duke (1983), bệnh gây ra do một loại virus được gọi là virus đốm vòng đu đủ (Papaya ringspot virus — PRSV) có thé gây hại ở nhiều bộ phận khác nhau của cây từ lá, trái đến thân và cuống lá. Khi cây bị nhiễm bệnh đốm vòng, cây sẽ biểu hiện các triệu chứng đặc trưng như lùn cây, sản lượng quả bị giảm, lá có hiện tượng kham và biến dang.
Ở lá, ban đầu bệnh thường tạo ra các đốm sáng màu vàng nhạt, lá hơi co và khảm nhẹ. Sau dần, vết đốm phát triển thành những đốm hình nhẫn, xuất hiện rất nhiều trên bề mặt lá. Ở mặt trên của các lá non, vùng mô lá ở giữa gân phụ và gân nhánh bị nhăn phông.