Chương 1. Tổng quan tài liệu - Chương 2. Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu - Chương 3. Kết quả nghiên cứu và thảo luận 3 - Kết luận và kiến nghị - Tài liệu tham khảo 5.
Những đóng góp mới của đề tài Kết hợp với nghiên cứu trước đây về hệ gen lục lạp của một số loài thuộc chi Nhân sâm, đề tài đã đưa ra được 4 vùng mã vạch phân tử mới có khả năng định loại và hỗ trợ phân loại hình thái hiệu quả đối với nhóm loài này. Điều này không những giải quyết được một số hạn chế của các mã vạch phân tử đã được sử dụng trước đây mà còn cung cấp công cụ hữu hiệu cho giám định thương mại và bảo tồn nguồn gen quý. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Giới thiệu về chi Nhân sâm Chi Nhân sâm có tên khoa học là Panax L., thuộc họ Ngũ gia bì (Araliaceae), bộ Hoa tán (Apiales), lớp Hai lá mầm (Magnoliopsida).
Chi này bao gồm 14 loài, phân bố chủ yếu ở Đông Á, vùng Himalaya, Đông Dương và Bắc Mỹ [19], [23]. Đây là chi gồm nhiều loài cây thuốc có giá trị dược lý và kinh tế cao, điển hình là một số loài được tìm thấy ở nước ta như sâm Ngọc Linh (Panax vietnamensis Ha et Grushv. bipinnatifidus), Tam thất hoang (P. stipuleanatus), sâm Lai Châu (Panax vietnamensis var.
Đặc điểm thực vật Các loài thuộc chi Nhân sâm đa phần là các cây thân thảo sống nhiều năm, có thể trên 50 năm, cao từ 30 – 50 cm, có thân rễ mập; thân không gai, có vẩy ở gốc. Cây mang ở ngọn một vòng 3 – 5 lá. Cuống lá dài, lá kép chân chim, mép lá có răng cưa, lá kèm nhỏ. Cụm hoa đơn độc ở đỉnh cành, hoa màu trắng nhạt hợp thành tán đơn.
Đài có 5 răng ngắn. Tràng 5 rời, xếp lợp. Nhị 5, chỉ nhị dài bằng hoặc dài hơn cánh tràng, chỉ nhị xếp xen kẽ với cánh tràng. Bầu 2 lá noãn; vòi nhụy 2, rời hay hợp ở gốc.
Quả hạch, màu đỏ, hình cầu hoặc đôi khi hơi dẹt. Hạt thường dẹt một bên, số lượng hạt bằng số lá noãn; phôi nhũ đồng nhất [5]. Rễ củ của các loài thuộc chi Nhân sâm thường phân thành nhiều nhánh giống như hình người nên có tên gọi là nhân sâm. Các loài này đa phần mọc hoang dại và một số được trồng ở đông bắc Trung Quốc, Triều Tiên, Nga [40].
Thành phần hóa học Hợp chất thứ cấp quan trọng nhất của các loài thuộc chi Nhân sâm là ginsenoside. Đã có trên 150 loại ginsenoside tự nhiên được tìm thấy từ các bộ phận khác nhau của hơn 14 loài thuộc chi Nhân sâm. Về mặt bản chất, 5 ginsenoside là các hợp chất saponin triterpenoid tetracyclic nhóm dammarane. Nhóm hợp chất này gồm bốn loại aglycone: protopanaxadiol, protopanaxatriol, ocotillol và oleanolic.
Các saponin loại protopanaxadiol và protopanaxatriol được tìm thấy trong các loài P. Một số loài khác như P. zingiberensis chứa nhiều saponin loại oleanolic. Tuy nhiên, saponin loại ocotillol được tìm thấy rất ít trong các loài thuộc chi Nhân sâm [23].
Con đường sinh tổng hợp protopanaxadiol, protopanaxatriol và oleanolic đã được tập trung nghiên cứu trong những năm gần đây [30]. Mặc dù được biết đến có giá trị dược lý quan trọng, tuy nhiên các nghiên cứu về con đường sinh tổng hợp của saponin loại ocotillol vẫn còn hạn chế [20]. vietnamensis, phân bố ở miền Trung Việt Nam, là loài duy nhất đã được chứng minh là tích lũy hàm lượng saponin loại ocotillol cao, chiếm tới 5,3% trong thân rễ khô [23]. Giá trị y học và kinh tế của chi Nhân sâm Từ hàng nghìn năm nay, các loài nhân sâm luôn là một trong những loài dược liệu quý được sử dụng trong y học cổ truyền ở các nước phương Đông.
Trong y học cổ truyền, nhân sâm thường được dùng làm thuốc bổ giúp tư âm, kiện tỳ, dưỡng huyết, bổ khí, làm đen tóc, làm chắc răng, gia tăng tuổi thọ. Ngoài ra, nhân sâm còn có tác dụng giải độc và điều trị các chứng bệnh như bệnh tim, hô hấp, bệnh gan, tiết niệu, đau bụng, thấp khớp, tai, mũi, họng [3]. Trong y học hiện đại, nhân sâm thể hiện các tác dụng tăng lực, hồi phục sức khỏe, thể hiện tác dụng đối với hệ thần kinh trung ương, cải thiện trí nhớ, chống stress, giải lo âu và chống trầm cảm, chống oxy hóa và chống lão hóa, bảo vệ gan, điều hòa miễn dịch, chống ung thư, hạ glucose huyết, giảm đau, giải độc [14]. Những tác dụng dược lý của các loài thuộc chi Nhân sâm đã thúc đẩy việc khai thác và đưa vào thương mại những sản phẩm từ sâm trong những thập kỷ gần đây.
Năm 1993, Hội đồng Thực vật Mỹ (American Botanical 6 Council) đã thống kê có khoảng trên 500 sản phẩm nhân sâm thương mại lưu hành ở thị trường Bắc Mỹ. Châu Á cũng nhập khẩu sâm Mỹ với số lượng lớn. Năm 1997, Mỹ xuất khẩu hợp pháp sang châu Á 527.547 kg sâm trồng và 22.929 kg sâm tự nhiên. Đến năm 1998, Mỹ đã xuất khẩu gần 2 triệu kg sâm các loại.
Lượng sâm Mỹ sản xuất tổng cộng của Canada cũng lên đến 4. Giá của rễ sâm Mỹ ở thị trường tại thời điểm đó là 20 – 45 USD/kg [6]. Trong vài năm trở lại đây, giá trị kinh tế của nhân sâm trong thị trường thương mại dược liệu toàn cầu được ước tính vượt quá 2,1 tỷ USD [37]. Đặc điểm một số loài thuộc chi Nhân sâm ở Việt Nam Đến nay, có 14 loài thuộc chi Nhân sâm đã được phát hiện và công nhận [23].
Ở Việt Nam, chi Nhân sâm gồm các loài mọc tự nhiên có giá trị dược lý cao như sâm Vũ diệp (P. bipinnatifidus), Tam thất hoang (P. stipuleanatus), sâm Lai Châu (Panax vietnamensis var. fuscidiscus), sâm Ngọc Linh (Panax vietnamensis Ha et Grushv.
Do vùng phân bố hạn chế và việc khai thác quá mức, các loài này dần trở nên khan hiếm trong tự nhiên. Vì vậy, sâm Ngọc Linh, sâm Vũ diệp và Tam thất hoang đã được đưa vào Danh lục đỏ của IUCN (2003) và danh sách các loài hạn chế khai thác và sử dụng vì mục đích thương mại (Nghị định 32/2006/NĐ-CP ngày 31 tháng 3 năm 2006 về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp quý hiếm) [1]. Sâm Ngọc Linh Sâm Ngọc Linh có tên khoa học là Panax vietnamensis Ha et. Grushv, ngoài ra còn có các tên gọi khác như sâm Việt Nam, sâm Khu Năm (K5), sâm Trúc, củ Ngải rọm con hay cây thuốc Giấu.
Sâm Ngọc Linh được phát hiện vào năm 1973, tuy nhiên cho đến năm 1985 loài này mới được công bố là hoàn toàn mới với khoa học. Đặc điểm hình thái và sinh thái thực vật Sâm Ngọc Linh là loài có dạng thân khí sinh thẳng đứng, màu lục hoặc hơi tím, có đường kính thân 4 – 8 mm. Thân rễ có đường kính 1 – 2 cm, mang nhiều rễ nhánh. Các thân mang lá và tương ứng với mỗi thân mang lá là một đốt dài khoảng 0,5 – 0,7 cm, sâm chỉ có một lá duy nhất không rụng suốt từ năm thứ 1 đến năm thứ 3 và Hình 1.
Sâm Ngọc Linh chỉ từ năm thứ 4 trở đi mới có thêm 2 đến 3 lá [1]. Trên đỉnh của thân sâm Ngọc Linh mang lá kép hình chân vịt mọc vòng với 3 – 5 nhánh lá. Cuống lá kép dài 6 – 12 mm, mang 5 lá chét. Lá chét phiến hình bầu dục, mép khía răng cưa, chóp nhọn, lá có lông ở cả hai mặt.
Cây 4 – 5 năm tuổi có hoa hình tán đơn, cuống tán hoa dài 10 – 20 cm có thể kèm 1 – 4 tán phụ hay một hoa riêng lẻ ở phía dưới tán chính. Mỗi tán có 60 – 100 hoa, hoa màu vàng nhạt, lá đài 5, cánh hoa 5, nhị 5, bầu hai ô với 1 vòi nhụy. Quả mọc tập trung ở trung tâm của tán lá. Quả mọng, hình cầu, đường kính từ 0,5 – 0,6 cm, khi chín màu đỏ và thường có 1 chấm đen ở đỉnh.
Hạt thường 1 hoặc 2; hạt nhỏ gần tròn hoặc gần giống hình thận, vỏ hạt không nhẵn [2], [4]. Mùa hoa của sâm Ngọc Linh thường vào tháng 4 – 5, đến khoảng tháng 6 – 9 thì ra quả. Cây thường lụi hằng năm vào mùa đông, đến đầu mùa xuân năm sau từ thân rễ sẽ mọc lên chồi thân mới. Cây đặc biệt ưa ẩm và ưa mát.
Trong tự nhiên, sâm Ngọc Linh thường sinh trưởng ở độ cao khoảng 1.100 m so với mực nước biển. Sâm thường mọc dày thành đám dưới tán rừng dọc theo các suối ẩm trên đất nhiều mùn [1]. Sâm Ngọc Linh được tìm thấy chủ yếu tại miền Trung Trung Bộ Việt Nam, mọc tập trung ở các huyện miền núi Ngọc Linh thuộc huyện Đăk Tô và huyện Tu Mơ Rông tỉnh Kon Tum, huyện Nam Trà My, tỉnh Quảng Nam. 8 Theo những kết quả điều tra mới nhất, ngoài Ngọc Linh, sâm còn phân bố tại núi Ngọc Lum Heo thuộc xã Phước Lộc, huyện Phước Sơn và còn có thể có ở đỉnh Ngọc Am tỉnh Quảng Nam [1], [2].
Thành phần hóa học và tác dụng dược lý Trước khi có sự phát hiện từ phía các nhà khoa học, sâm Ngọc Linh đã được các đồng bào dân tộc thiểu số Trung Trung bộ Việt Nam, đặc biệt là dân tộc Xê Đăng, sử dụng như một loại củ rừng, mà họ gọi là củ Ngải rọm con hay cây thuốc Giấu, chữa nhiều loại bệnh theo các phương thuốc cổ truyền [3]. Theo nghiên cứu của Nguyễn Bá Hoạt (2007), về mặt hoá học, thân rễ và rễ củ sâm Ngọc Linh đã tìm được 52 saponin triterpen, trong đó 26 saponin thường thấy ở sâm Triều Tiên, sâm Mỹ, sâm Nhật. Saponin tritepen là thành phần hóa học quan trọng nhất của sâm, tạo nên các tác dụng chủ yếu của sâm. Trong lá và cọng của sâm Ngọc Linh đã phân tách được 19 saponin pammaran, trong đó có 8 saponin có cấu trúc mới [9].
Ngoài ra, sâm Ngọc Linh còn có 7 hợp chất polyacetylen có tính kháng khuẩn và kháng ung thư, 17 acid béo đặc biệt là acid béo không no như: oleic (13,26%), linoleic (40,04%) và linolenic (2,61%), 18 acid amin trong đó có đủ 8 acid amin cần thiết cho cơ thể và các acid amin chống lão hóa tế bào có tỷ lệ rất cao và còn có 20 nguyên tố đa vi lượng [6]. Trong số các loài sâm mọc tự nhiên ở Việt Nam, sâm Ngọc Linh được biết đến là loài có tác dụng dược lý cao nhất.