CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Giải phẫu, sinh lý mũi xoang và sinh lý bệnh VMX mạn tính 1.1 Giải phẫu mũi Thành trên mũi gồm mảnh sàng ở phía trong và phần ngang xương trán ở phía ngoài, tạo thành trần các xoang sàng. Thành ngoài là vách mũi xoang, có khối bên xương sàng gồm nhiều nhóm xoang sàng. Mặt ngoài khối sàng là một phần của thành hốc mắt, đây là vùng rất nhạy cảm trong PTNSMX vì dễ bị tổn thương [3],[11],[35]. Cuốn mũi dưới được phủ bởi niêm mạc dầy chứa đám rối tĩnh mạch.
Cuốn mũi giữa là một phần của xương sàng, có niêm mạc đường hô hấp bao phủ. Mảnh nền cuốn giữa nằm cách gai mũi trước 5 - 6 cm [7],[14],[28] là vách phân chia các xoang sàng trước, sau và là một mốc giải phẫu quan trọng trong PTNSMX. Thành ngoài hố mũi (Nguồn: Nguyễn Hữu Khôi, Phẫu thuật nội soi mũi xoang kèm Altas minh họa (2005), trang 4 [8]). 5 Cuốn mũi trên là mảnh xương nhỏ của khối bên xương sàng.
Khe mũi trên là khe hẹp có xoang sàng sau và xoang bướm đổ vào. Cuốn mũi trên cùng khi có khi không, 75% trường hợp có lỗ đổ của xoang sàng sau. Thành trong là vách ngăn mũi là một vách chia đôi hai hốc mũi gồm có cốt cứng bằng xương sụn, còn hai bên được bao phủ bởi niêm mạc mũi, chiều dài từ 7 – 8 cm, chiều cao từ 4 – 4,5 cm. Khung xương sụn gồm: phía trên là mảnh đứng xương sàng, phía dưới và sau xương có dạng lưỡi cày đỉnh quay ra trước gọi là xương lá mía, sụn VNM ở phía dưới và phía trước có đuôi kéo dài ra sau nằm giữa mảnh đứng xương sàng và xương lá mía.
Cuối cùng là cành trong của sụn cánh mũi chồm qua khỏi đường giữa phía đối bên tạo nên xương dưới VNM. Khung xương sụn này có bờ trên gắn liền với mảnh đứng xương sàng, bờ sau VNM về phía trên dính vào thân xương bướm, ở dưới tự do để tạo nên bờ trong của cửa mũi sau. Phần mũi xương trán Mảnh đứng xương sàng Xương mũi Xoang bướm Hố yên Sụn tứ giác Rễ mũi của xương hàm trên và xương vòm miệng Mào răng Xương lá mía cửa Hình 1.2 Giải phẫu vùng vách ngăn mũi (Nguồn: Huỳnh Khắc Cường, Cập nhật chẩn đoán và điều trị bệnh lý mũi xoang (2006), trang 98 [2]) .2 Các cấu trúc liên quan 1.1 Khe mũi dưới Lỗ lệ nằm ở phía trước-trên, ¼ trên-sau là mỏm hàm của xương cuốn dưới tiếp nối với xương khẩu cái, đây chính là vùng mỏng nhất của vách mũi xoang để chọc vào xoang hàm.2 Khe mũi giữa - Mỏm móc Mỏm móc là xương nhỏ hình liềm, đi từ chỗ bám phía trước trên vào vách mũi xoang, đến chỗ bám phía sau dưới vào xương cuốn mũi dưới. Mỏm móc có thể dị hình như đảo chiều, quá phát, concha bullosa gây cản trở lưu thông xoang, có thể làm tắc phức hợp lỗ thông mũi xoang gây VMXMT [5].
- Đê mũi (Agger nasi) Nó giống như một cái mào ngay trước trên chân bám cuốn giữa thuộc xương lệ, có thể có từ 1-3 tế bào đê mũi, có thể phát triển ra khỏi hố lệ làm hẹp ngách trán. - Bóng sàng Bóng sàng là những tế bào khí có kích thước lớn nhất của phức hợp sàng trước. Bóng sàng được coi là điểm đột phá đầu tiên trong PTNSMX mở xoang sàng. - Phễu sàng Phễu sàng có vai trò quan trọng về mặt sinh lý bệnh, đây là ngách mà xoang hàm, xoang trán, sàng trước dẫn lưu vào.
Nếu phễu sàng bị bít lấp một phần hoặc hoàn toàn thì xoang hàm sẽ thông khí kém và dịch tiết sẽ đọng lại trong xoang. - Ngách trán Ngách trán là phần trên và trước nhất của phức hợp dẫn đến xoang trán và không đồng nghĩa với ống mũi trán. Khi mảnh nền của bóng sàng đạt gần. 7 tới nền sọ nó sẽ phân cách các ngách trán qua ngách trên bóng sàng, nếu chỗ bám của bóng sàng lên nhiều ra phía trước hoặc bóng sàng thông khí tốt, ngách trán sẽ bị hẹp ở thành sau và tạo ống trên mặt phẳng dọc mà gọi một cách thiếu chính xác là ống mũi trán [2].
- Phức hợp lỗ thông mũi xoang Phức hợp lỗ thông xoang là một vùng quan trọng mấu chốt trong bệnh sinh của viêm mũi xoang và biểu hiện đường dẫn lưu và thông khí chung cuối cùng của xoang trán, xoang hàm và các tế bào sàng trước.3 Phức hợp lỗ thông xoang (Nguồn: Nguyễn Hữu Khôi, Phẫu thuật nội soi mũi xoang kèm Altas minh họa (2005), trang 24 [8]) 1.3 Mạch máu và thần kinh của mũi 1.1 Động mạch Mũi được cấp máu bởi các nhánh của cả hệ cảnh trong (động mạch mắt) và hệ cảnh ngoài (động mạch hàm trong). Động mạch sàng trước (nhánh động mạch mắt): đi trong một ống xương sát nền sọ, nằm giữa các tế bào sàng trước và bóng sàng, nằm cách cửa mũi trước # 7cm. Động mạch sàng sau (nhánh động mạch mắt) và động mạch bướm-khẩu cái (nhánh động mạch hàm trong), ít bị tổn thương trong phẫu thuật [15],[35] .2 Tĩnh mạch Đổ vào tĩnh mạch hàm trong, tĩnh mạch mắt và tĩnh mạch mặt.3 Thần kinh Thần kinh giác quan là dây khứu giác. Thần kinh cảm giác là các nhánh của thần kinh mắt và bướm-khẩu cái.1 Xoang hàm Xoang hàm chiếm chỗ trong thân xương hàm trên và ở người trưởng thành nó là một xoang cạnh mũi lớn nhất.
Nhìn chung nó có thể như cái tháp mà đáy tạo nên thành ngoài hốc mũi và đỉnh của nó hướng ra ngoài về phía mỏm gò má. Trần của xoang hàm là một xương mỏng, dây thần kinh dưới ổ mắt đi ngang qua trung tâm của xương này có thể bị hở ra khoảng 14% trong dân số và có thể bị tổn thương trong quá trình thao tác phẫu thuật ở vùng này [2]. Lỗ thông tự nhiên xoang hàm ở phần trên của thành trong, bờ sau của lỗ thông tiếp tục với mảnh ổ mắt xương sàng của xương sàng cho phép bờ này của lỗ thông là một giới hạn ngoài đáng tin cậy trong phẫu thuật mũi xoang. Khoảng 15% - 40% trường hợp có lỗ thông xoang hàm phụ, biểu hiện như một cái lỗ trong lớp niêm mạc bao phủ một chỗ nẻ ra của xương (hay fontanelles) [2],[17].2 Xoang trán Xoang trán phát triển từ các tế bào sàng trước trên trong vùng ngách trán, chiều cao từ 5 - 6 cm, chiều rộng từ 17 - 49 mm, luôn luôn có một vách ngăn trong xoang trán.
Thành trước là thành vững chắc nhất. Thành sau ngăn cách xoang trán với hố não trước. Sàn của xoang cũng là trần của ổ mắt. Lỗ thông xoang ở vị trí sau của sàn xoang dẫn lưu vào trong khe giữa qua ngách trán.
Phểu trán là vùng hẹp hơn trong xoang dẫn đến lỗ thông xoang [2].3 Xoang sàng trước Nằm trong mê đạo sàng của xương sàng, khoảng giữa ổ mắt và phần trên ổ mũi. Nhóm các tế bào sàng trước được phân chia với các tế bào sàng sau bởi phần đứng của mảnh nền cuốn giữa. Mảnh nền là phần mở rộng sang bên của cuốn giữa. Nhóm tế bào sàng trước dẫn lưu vào khe mũi giữa.5 Sơ lược sinh lý mũi xoang 1.1 Chức năng hô hấp Không khí hít vào trong mũi tạo một góc 60o so với sàn mũi và chia làm nhiều luồng qua các khe mũi (dưới mỗi cuốn mũi).
Theo Masing, luồng không khí xoáy là đến các lỗ thông xoang. Thể tích không khí qua mũi mỗi lần hít vào là 382 ± 50m/s ở người lớn [2].2 Chức năng lọc bụi Chất nhày tiết ra từ mũi bắt giữ vật là đưa xuống họng nuốt xuống dạ dày. Trong một số môi trường rất nhiều bụi thì việc hô hấp qua đường mũi đóng một vai trò quan trọng trong bảo vệ đường thở.3 Chức năng điều hòa nhiệt độ không khí hít vào Ở nhiệt độ môi trường là 23o C và độ ẩm tương đối là 40% trong điều kiện bình thường, luồng không khí sẽ được làm ấm lên 30o C và độ ẩm tương đối là 98%. Khi hít không khí có nhiệt độ - 4o C đến 0o C đến họng nhiệt độ vẫn là 31o C và ẩm độ là 98%.4 Khứu giác Vùng niêm mạc khứu giác có màu vàng do phospholipid.
Thần kinh khứu giác sẽ được truyền đến hệ viền, tổ chức lưới góp phần giúp cuống não nhận biết mùi, thông tin mùi này được chuyển đến hồi hải mã, thalamus và vùng hạ đồi cuối cùng ở thùy trán.6 Sinh lý bệnh viêm mũi xoang mạn tính [2] Viêm mũi-xoang cấp có thể bắt nguồn và trở nên mạn tính bởi các yếu tố tại chỗ hoặc toàn thân là bít tắc lỗ thông xoang và gây nhiễm trùng. Những yếu tố này gồm cấu trúc giải phẫu hoặc các yếu tố viêm dẫn đến hẹp lỗ thông xoang, rối loạn vận chuyển hệ nhầy-lông chuyển, suy yếu miễn dịch. Các dạng cấu trúc giải phẩu có thể làm hẹp lỗ thông xoang bao gồm tế bào Haller (tế bào sàng dưới ổ mắt), tế bào Agger nasi (chỗ phồng phía trước trên nhất của đầu bám cuốn mũi giữa), cuốn mũi giữa cong ngược, bóng sàng chạm giữa, biến dạng của mõm móc, bóng khí cuốn mũi giữa. Bít tắc lỗ thông xoang Thường bị tắc nhất là những lỗ thông dẫn lưu vào đơn vị lỗ thông xoang.
Do vậy xoang sàng trước, xoang hàm là những xoang hay bị bệnh nhất trong cả hai thể cấp và mạn. Viêm xoang trán hậu quả từ tắc ống mũi trán. Trong viêm mũi xoang mạn, niêm mạc dầy thường tồn tại dai dẳng dù điều trị bằng kháng sinh. Điều này càng thêm vào làm cản trở thanh thải bình thường hệ nhầy-lông chuyển và đưa đến tắc các lỗ thông xoang [31].
Chậm phục hồi chức năng nhầy lông chuyển Trong VMXM, ứ đọng niêm dịch, giảm áp lực O2, các sản phẩm vi sinh, quá trình viêm mạn làm giảm chức năng hệ nhầy lông chuyển. Nhiều yếu tố khác góp phần làm chậm hoạt động thanh thải: thay đổi tỷ trọng riêng độ nhầy nhớt, mất lông chuyển và những hư hại siêu cấu trúc của biểu mô. BN bị VMXMT có tăng sinh niêm mạc thì phục hồi chậm hơn và không hoàn toàn. Do vậy, một lý do khiến bệnh tái phát sau điều trị nội, ngoại khoa có thể là suy giảm dai dẳng hoạt động thanh thải hệ nhầy lông chuyển.
Niêm dịch “dẫn lưu vòng” và viêm xương Dẫn lưu vòng của niêm dịch xoang hàm được mô tả trong số BN có lỗ thông xoang phụ. Dịch tiết thoát khỏi xoang qua lỗ thông chính đi vào khe giữa. 11 Một số dịch này sau đó lại đi trở vào xoang hàm qua lỗ thông phụ thường khu trú ở dưới đơn vị lỗ thông khe trên vách mũi xoang.