MỞ ĐẦU Chấn thương cột sống cổ (CSC) là một chấn thương thường gặp ở những nước đang phát triển. Đây là loại tổn thương nặng của bệnh lý chấn thương ảnh hưởng nghiêm trọng đến độ vững của CSC. Chấn thương CSC có tổn thương tủy sẽ gây nên hậu quả nặng nề cho bệnh nhân và là gánh nặng cho xã hội. Tại Bắc Mỹ, gãy trật CSC chiếm 80% trong các trường hợp chấn thương CSC.000 người bị chấn thương CSC[10], [26].
Hiện nay, phẫu thuật cột sống có nhiều tiến bộ nhờ vào sự tiến bộ của công nghệ, kỹ thuật và hiểu biết về giải phẫu học, cơ sinh học cột sống. Càng ngày càng có nhiều công trình nghiên cứu có giá trị đã được công bố. Tuy nhiên, việc phẫu thuật theo phương pháp nào là tốt nhất để điều trị chấn thương CSC thấp cũng còn nhiều ý kiến khác nhau[18]. Đối với chấn thương CSC, điều trị phẫu thuật dù lối trước hay lối sau thì mục tiêu cũng là: giải ép, nắn chỉnh và kết hợp xương.
Lối vào trước có những ưu điểm là lấy được đĩa đệm thoát vị, ít nhiễm trùng nhưng cũng có khuyết điểm như không lấy được khối máu tụ và dây chằng vàng phía sau[28], chịu lực căng phía sau yếu khi có tổn thương các dây chằng phía sau [80]. Lối vào sau có nhiều ưu điểm như đường mổ đơn giản vì không có cơ quan nào quan trọng, lấy được khối máu tụ và dây chằng vàng chèn ép phía sau[28], chịu lực căng phía sau tốt[13]. Tuy nhiên, cũng có những khuyết điểm là không lấy được đĩa đệm phía trước trong trường hợp có thoát vị đĩa đệm, tổn thương khối cơ cổ sau. Do đó việc chẩn đoán đúng thương tổn, đề ra phương pháp điều trị đúng đắn là vấn đề cần được quan tâm nghiên cứu.
2 Tại Việt Nam, chấn thương CSC được cả hai chuyên khoa Ngoại Thần Kinh và Chấn Thương Chỉnh Hình quan tâm nghiên cứu điều trị và đạt được nhiều kết quả khả quan. Vào thập niên 70, Hoàng Tiến Bảo và cộng sự đã sử dụng lối vào phía trước để điều gãy trật CSC C3-C7. Tiếp theo, Võ Văn Thành và Vũ Tam Tỉnh đã phẫu thuật lối trước cho các bệnh nhân bị gãy trật CSC thấp bằng lối vào trước. Lần lượt các tác giả như Hà Kim Trung, Vũ Hùng Liên, Trương Thiết Dũng… cũng đã sử dụng lối vào trước để điều trị chấn thương CSC thấp[6].
Một số tác giả còn nghi ngờ khả năng nắn chỉnh trật mỏm khớp và nguy cơ tổn thương thần kinh thứ phát sau phẫu thuật bằng đường mổ lối trước. Chính vì vậy chúng tôi nghiên cứu đề tài: “Đánh giá kết quả phẫu thuật gãy trật cột sống cố thấp do chấn thƣơng bằng phƣơng pháp nắn trật và làm cứng lối trƣớc” để trả lời các câu hỏi sau: 1. Khả năng nắn chỉnh thành công trên bệnh nhân gãy trật cột sống cổ thấp do chấn thương. Khả năng phục hồi chức năng thần kinh trên bệnh nhân gãy trật cột sống cổ thấp đã được nắn chỉnh và làm cứng lối trước.
Các yếu tố ảnh hưởng đến sự phục hồi thần kinh trên bệnh nhân gãy trật cột sống cổ thấp được nắn chỉnh và làm cứng lối trước. 3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1. Đánh giá kết quả nắn chỉnh bằng hình ảnh học trên bệnh nhân gãy trật cột sống cổ thấp được phẫu thuật làm cứng lối trước. Đánh giá kết quả lâm sàng sau phẫu thuật trên bệnh nhân gãy trật cột sống cổ thấp được nắn chỉnh và làm cứng lối trước.
Khảo sát sự liên quan giữa các đặc điểm lâm sàng và hình ảnh học với sự hồi phục thần kinh. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Giải phẫu cột sống cổ Cột sống là cột xương dài từ mặt dưới xương chẩm đến hết xương cụt. Cột sống bao bọc và bảo vệ tủy sống được chia làm bốn đoạn: cổ, ngực, thắt lưng và cùng.
Đoạn cổ có 7 đốt, trong đó lại chia làm 2 đoạn: CSC cao từ C1- C2 và CSC thấp từ C3-C7. CSC thấp được tính từ đốt sống cổ 3 (C3) đến đốt sống cổ 7 (C7). Phía trước là thân đốt và đĩa đệm, chịu đựng hầu hết các lực nén ép dọc trục. Phía sau gồm bản sống, mỏm khớp, mỏm gai, các cơ và dây chằng hạn chế sự vận động quá mức của cột sống, chủ yếu chống lực căng.
Giải phẫu CSC thấp bao gồm: đốt sống cổ, hệ thống dây chằng – đĩa đệm, các khớp, cơ cạnh sống, các thành phần thần kinh mạch máu. Cột sống cổ từ C2-C7 nhìn nghiêng “Nguồn: Netter F. Xƣơng, khớp, đĩa đệm 1. Cấu trúc xƣơng Đặc điểm thân đốt sống cổ thấp Đốt sống cổ có dạng hình ovan, với đường kính ngang lớn hơn đường kính trước sau.
Độ lớn của thân đốt sống gia tăng từ trên xuống dưới, sự tăng dần độ lớn có liên quan đến khả năng chịu lực của thân đốt. Bờ trên của thân sống có dạng lồi hoặc hơi phẳng ở mặt phẳng đứng dọc và hình lõm chén ở mặt phẳng đứng ngang, cấu tạo này hình thành nên một cấu trúc gọi là mỏm móc ở 2 bên của mặt trên ngoài cùa thân đốt sống cổ, mỏm móc này hướng lên và khớp với một rãnh nhỏ ở bờ dưới ngoài của đốt sống trên, tạo thành một khớp bất động, không có bao hoạt dịch, được đặt tên là khớp Luschka. Mỏm gai Là thành phần sau cùng của xương sống, nó hướng ra sau và xuống dưới. Từ C3 đến C6, mỏm gai thường chẻ đôi ở đỉnh.
Mỏm gai là nơi bám của dây chằng trên gai, liên gai, chúng có tác dụng chống gập quá mức rất hữu hiệu nhờ tay đòn dài. Mỏm ngang Tại nơi giao nhau giữa chân cung và bản sống, củ trước của mỏm ngang đi ra ngoài và nối với củ sau thông qua một phiến mỏng ngang đề tạo thành lỗ ngang, là nơi để động mạch đốt sống chui vào. Động mạch đốt sống thường chui vào lỗ ngang của đốt sống C6, tuy nhiên trong một số trường hợp nó cũng có thể chui vào lỗ ngang của C3, C4, C5, C7. Theo Bruneau và cộng sự[22], động mạch đốt sống chui vào lỗ ngang của đốt sống C6 là 93%, ở C3, C4, C5 và C7 lần lượt là: 0,2%, 1%, 5% và 0,8%.
6 Bản sống Bản sống là nơi vững chắc để cơ và các dây chằng bám vào, các lực tác động thông qua bản sống, mỏm gai sẽ làm chuyển động cột sống. Chân cung Chân cung của đốt sống cổ thấp đi ra sau và ra ngoài so với thân sống và hợp với bản sống để tạo thành cung đốt sống. Trong các đốt sống cổ thì C7 có chiều cao và độ dày của chân cung lớn nhất. Khối bên Cấu trúc này là nơi gặp nhau giữa chân cung và bản sống của đốt sống cổ thấp.
Khối bên gồm 2 mỏm khớp trên và dưới để khớp với các đốt sống trên và dưới kế cận, với diện khớp trên hướng ra sau, xuống dưới trong khi các diện khớp dưới hướng ra trước và lên trên. Các diện khớp này khớp với nhau theo mặt phẳng đứng ngang. Lỗ liên hợp Lỗ liên hợp ở CSC thấp được giới hạn phía trước bởi mỏm móc, phần sau bên của đĩa đệm và một phần dưới của thân đốt sống. Giới hạn phía sau bởi mỏm khớp và diện khớp trên của đốt sống phía dưới.
Giới hạn phía trên và dưới là chân cung của 2 đốt sống liền kề. Kích thước của lỗ liên hợp được quy định bởi 2 khuyết sống trên và dưới của 2 chân cung tương ứng. Ống sống Ống sống CSC thấp có dạng hình tam giác, với đường kính ngang lớn hơn đường kính trước sau. Đường kính ống sống cổ giảm dần từ C3 đến C7: 18 mm xuống 15 mm ở C7.
Khớp Khớp của CSC thấp thuộc loại khớp lồi, có bao hoạt dịch, bao khớp lỏng lẻo nhưng chắc chắn, mỏm khớp nằm trong mặt phẳng trán, hướng từ. 7 trên xuống từ trước ra sau và đối diện với trục xoay. Bình thường, mỏm khớp CSC thấp không chịu lực nén ép dọc trục trừ khi ngửa cổ. Cấu tạo khớp gian đốt sống A: Mỏm khớp nằm trong mặt phẳng trán.
B: Mỏm khớp chịu lực khi CSC ngửa. “Nguồn: Panjabi và cộng sự, 1991”[65] 1. Đĩa đệm Đĩa đệm nằm giữa hai đốt sống, đây là một cấu trúc vô mạch bao gồm 1 nhân nhầy ở trung tâm của đĩa đệm, vòng sợi và tấm tận dạng sụn kế cận với bề mặt của những thân đốt sống. Nhiệm vụ của nhân nhầy là hấp thu và triệt tiêu những lực tác động lên cột sống, vòng xơ và tấm tận giúp đảm bảo cho cấu trúc của đĩa đệm.
Mặt trên của đĩa đệm lõm hình chén, mặt dưới tương đối lồi. Đĩa đệm thường dày ở phía trước hơn phía sau, và do đó tạo ra độ ưỡn sinh lý của CSC. Đĩa đệm CSC có khả năng chuyển động khá linh hoạt trong mặt phẳng đứng dọc, tuy nhiên trong mặt phẳng ngang, sự chuyển động này bị giới hạn bởi sự hiện diện của mỏm móc, sự hiện diện của mỏm móc cũng hạn chế sự thoát vị của đĩa đệm ở vị trí này. Tấm tận, một thành phần của đĩa đệm gian đốt sống là một tấm sụn hyaline hóa nằm ở vị trí phía dưới lớp sụn xương và có vai trò như một cấu.
8 trúc ngăn cản và hấp thụ bớt những lực tác động trực tiếp giữa đĩa đệm và thân sống. Ngoài ra tấm tận còn là nơi để các sợi của lớp trong vòng xơ cắm vào và là nơi cho phép thẩm thấu những chất dinh dưỡng để nuôi đĩa đệm 1. Hệ thống dây chằng Các dây chằng (DC) giữ vững cột sống bao gồm: DC gian gai, DC trên gai, DC vàng, DC bao khớp, DC dọc sau và DC dọc trước. DC dọc sau, DC gian gai, DC trên gai, DC vàng tạo nên phức hợp DC ở phía sau cột sống.
Dây chằng dọc trước (DCDT): là một dải sợi chắc chắn, bám từ màng chẩm đội trước đến tận xương cùng. Dây chằng dọc sau (DCDS): nằm trong ống sống, đi ở mặt sau của thân sống và đĩa gian đốt sống. DCDS sẽ rộng ra tại vị trí của đĩa gian đốt sống để tăng cường sự vững chắc cho khu vực phía sau trong của CSC cùng với những sợi ngoài của vòng xơ đĩa đệm ở phía sau, tuy nhiên có một nơi khá yếu là vị trí tiếp giáp giữa dây chằng dọc sau và mỏm móc, đây là vị trí thường xảy ra thoát vị đĩa đệm ra sau. Dây chằng vàng: là một dải sợi chắc kéo dài từ mặt trước của bản sống phía trên đến bờ trên của bản sống dưới, và chạy phía ngoài của mỏm khớp tạo nên giới hạn của lỗ gian đốt sống.