đặt vấn đề, trong cách tiếp cận đối tượng nghiên cứu mang tính hệ thống trên cơ sở những phương pháp liên ngành, so sánh, phân tích, tổng hợp, 19 khái quát hoá cao… Bằng cách làm trên, các công trình đã chỉ ra và lí giải một cách thuyết phục tầm quan trọng của việc đánh giá hoạt động học tập của học sinh và sinh viên. Ở phạm vi hẹp hơn, khi nghiên cứu về tầm quan trọng trong công tác đánh giá kết quả học tập của học sinh, các tác giả đã cung cấp một lượng tri thức phong phú và mới mẻ, cùng cách tiếp cận đa chiều. Tổng quan các công trình này đã giúp nghiên cứu sinh có thêm cơ sở để xây dựng những tiêu chí, nội dung cơ bản của việc quản lý đánh giá kết quả học tập HS trung cấp theo TCNL. Một số khái niệm liên quan 1.
Quản lí Ngày nay việc quản lý thực sự quan trọng và cần thiết, nó có vai trò quyết định đến sự thành công hay thất bại trong các lĩnh vực. Đã có nhiều nhà nghiên cứu đưa ra các quan niệm và có nhiều cách tiếp cận khác nhau về quản lý: Theo F. Theo Từ điển tiếng Việt thì “Quản lý là trông coi và gìn giữ; là tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định” [59]. Tác giả Phan Văn Kha cho rằng: “Quản lý là quá trình lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra công việc của các thành viên thuộc một hệ thống, đơn vị và việc sử dụng các nguồn lực phù hợp để đạt được mục đích đã định” [32, tr10].
Còn theo nghiên cứu của tác giả Mạc Văn Trang thì “Quản lý là một quá trình tác động có định hướng (có chủ đích) có tổ chức, có lựa chọn trong số các tác động có thể có dựa trên các thông tin về tình trạng của đối tượng và môi trường; nhằm giữ cho sự vận hành của đối tượng được ổn định và làm cho nó phát triển tới mục tiêu đã định”. Quản lý là quá trình hình thành công việc thông qua con người, là việc tổ chức khai thác nguồn lực con người để đạt được mục tiêu cao nhất của tổ chức, tác động đến cá nhân và nhóm người trong tổ chức để đạt được mục tiêu của tổ chức. 20 Tóm lại các định nghĩa trên đều thể hiện được bản chất của hoạt động quản lý, đó là một quá trình tác động, gây ảnh hưởng của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) nhằm đạt được mục tiêu chung. Quản lý vừa là một khoa học, vừa là một nghệ thuật tác động đến hệ thống hoạt động xã hội, nó cần phải hết sức sáng tạo, linh hoạt để chỉ đạo hoạt động của tổ chức đạt mục tiêu đề ra.
Đánh giá Theo tác giả Woodhouse, ĐG là sự lượng giá mà kết quả là điểm, có thể cho điểm bằng số (phần trăm hoặc một thang điểm ngắn hơn từ 1 đến 4), bằng chữ (từ A đến F) hay là sự miêu tả (xuất sắc, giỏi, đạt, không đạt). Điểm cũng có thể chỉ là “qua” (pass) hay “trượt” (fail). Câu hỏi ĐG “Kết quả của bạn như thế nào?”. Kết quả của ĐG là điểm.
Theo Trường ĐH Khoa học và Công nghệ Manchester (University of Manchester Institute of Science and Technology, UMIST) (2001), KT, ĐG là một quá trình độ KQHT của SV ở một số khía cạnh bao gồm kiến thức, nhận thức và kỹ năng. [54] Theo Walvoord và Anderson, ĐG là việc tập hợp, phân tích thông tin một cách hệ thống để hoàn thiện việc học tập của SV. [54] Theo tổ chức đảm bảo chất lượng GDĐH của Anh (QAA), ĐG là việc thiết lập một quá trình đo KQHT của SV về các mặt kiến thức đạt được, sự phát triển hiểu biết, và những kỹ năng đạt được. Nó có một số mục đích.
ĐG cung cấp phương pháp, phương tiện để xếp hạng SV đỗ hay trượt. ĐG giúp đưa ra quyết định về việc SV đã sẵn sàng học tiếp không, họ có xứng đáng nhận học bổng hay phần thưởng không hoặc chứng minh năng lực hành nghề của người học. Nó còn cung cấp cho SV sự phản hồi về việc học của họ và giúp họ nâng cao thành tích của mình. Nó cũng giúp ĐG hữu hiệu việc dạy của giáo viên.
Dary Erwin (1991), ĐG được định nghĩa là cơ sở để xem xét việc học tập và tiến bộ của SV. Cụ thể hơn, ĐG là quá trình xác định, lựa chọn, thiết 21 kế, thu thập, phân tích, giải thích và sử dụng thông tin để nâng cao kết quả học tập của SV. [54] Hiện nay, theo nhiều nhà nghiên cứu ở Việt Nam thì kiểm tra là một bộ phận hợp thành của quá trình dạy học; là quá trình xác định mục đích, nội dung, lựa chọn phương pháp, tập hợp số liệu, bằng chứng để xác định mức độ đạt được mục tiêu học tập của người học trong quá trình học tập, rèn luyện và phát triển. KT bao gồm việc xác định nội dung, công cụ KT và sử dụng kết quả KT.
Cũng có khi người ta viết liền nhau “KT, ĐG”, hoặc chỉ nói ĐG thì cũng bao hàm cả KT. [37] ĐG là quá trình có hệ thống bao gồm việc thu thập chứng cứ, phân tích, giải thích thông tin và đưa ra những đánh giá về bản chất và phạm vi của KQHT hay thành tích đạt được của người học so với các tiêu chí và tiêu chuẩn thực hiện đã đề ra, tức là xác định mức độ người học đạt được các mục tiêu học tập. Đánh giá được thực hiện thông qua nhiều phương pháp khác nhau như: ĐG nhiều chiều; ĐG theo hồ sơ; ĐG qua quan sát; ĐG theo hồ sơ; ĐG thông qua KT, trong đó ĐG thông qua KT là phương pháp chủ yếu. Như vậy, qua KT ta thấy được việc ĐG như thế nào, KT là hình thức không thể thiếu khi ĐG, trong một số trường hợp, đây là hình thức duy nhất.
Do mối liên hệ không thể tách rời giữa KT và ĐG nên trong luận án này, để chỉ hoạt động KT, ĐG tác giả có thể dùng từ KT, ĐG nói chung hoặc dùng từ KT hay ĐG nói riêng tuỳ từng ngữ cảnh cụ thể nhưng với ý nghĩa như nhau. Đánh giá là hoạt động thường xuyên trong giáo dục và đào tạo. Thông qua việc đánh giá kết quả học tập giúp cho giáo viên và học sinh thay đổi theo hướng tích cực và người quản lý có thể điều chỉnh quá trình đào tạo tốt hơn. Kết quả học tập Có một số quan niệm về kết quả học tập.
Theo James Madison University, 2003; James O. Nichols, 2002 thì “Kết quả học tập là bằng chứng sự thành công của học sinh/sinh viên về kiến thức, kĩ năng, năng lực, thái độ đã được đặt ra trong mục tiêu giáo dục”. Một quan niệm khác là “Kết quả học tập là kết quả của một môn học, một chuyên ngành hay của cả một khóa đào tạo” hay “Kết quả học 22 tập của sinh viên bao gồm các kiến thức, kĩ năng và thái độ mà họ có được. Các kiến thức, kĩ năng này được tích lũy từ các môn học khác nhau trong suốt quá trình học được qui định cụ thể trong chương trình đào tạo.
Trường Cabrillo quan niệm về kết quả học tập của sinh viên “là kiến thức, kỹ năng và thái độ học sinh/sinh viên đạt được và phát triển trong suốt khóa học.” Tác giả Hoàng Đức Nhuận và Lê Đức Phúc trong “Cơ sở lý luận của việc đánh giá chất lượng học tập của HS phổ thông” đã đưa ra cách hiểu về KQHT như sau: “KQHT là một khái niệm thường được hiểu theo hai quan niệm khác nhau trong thực tế cũng như trong khoa học”. [38] - Đó là mức độ thành tích mà một chủ thể học tập đã đạt, được xem xét trong mối quan hệ với công sức, thời gian đã bỏ ra, với mục tiêu xác định. Theo quan niệm này, KQHT là mức thực hiện tiêu chí. - Đó còn là mức độ thành tích đã đạt của một người học so với các bạn học khác.
Theo quan niện này, KQHT là mức thực hiện chuẩn (norm). Theo Nguyễn Đức Chính thì: “KQHT là mức độ đạt được kiến thức, kĩ năng hay nhận thức của người học trong một lĩnh vực nào đó (môn học). [17] Những quan niệm này tuy cách nói khác nhau nhưng tất cả đều cho rằng kết quả học tập là gồm các kiến thức (kiến thức lý thuyết, kiến thức thực tế), kỹ năng (kỹ năng nhận thức, kỹ năng thực hành nghề nghiệp, kỹ năng xử lý tình huống, kỹ năng giải quyết vấn đề; kỹ năng giao tiếp, kỹ năng làm việc nhóm, khả năng ngoại ngữ, tin học,…) và thái độ (phẩm chất đạo đức, ý thức và tác phong nghề nghiệp, thái độ phục vụ, trách nhiệm công dân; thiên hướng phát triển nghề nghiệp) mà người học đạt được trong quá trình học tập và rèn luyện tại trường. Nội dung phải đảm bảo quy định về khối lượng kiến thức tối thiểu, yêu cầu về năng lực mà người học đạt được sau khi tốt nghiệp đối với trình độ trung cấp theo từng ngành, nghề đào tạo.
Năng lực Theo từ điển Tiếng Việt, năng lực là khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó. [59] 23 Theo tâm lý học, năng lực là tổng hợp những thuộc tính độc đáo của cá nhân phù hợp với những yêu cầu đặc trưng của một hoạt động nhất định, nhằm đảm bảo việc hoàn thành có kết quả tốt trong lĩnh vực hoạt động ấy. [48] Từ đó ta thấy năng lực là những thuộc tính tâm lý riêng của cá nhân, nhờ những thuộc tính này mà con người hoàn thành tốt một hoạt động nào đó, chỉ phải bỏ ra ít sức lao động mà đạt hiệu quả cao. Năng lực của sinh viên/học sinh sẽ là đích cuối cùng của dạy học, giáo dục.
Bởi vậy, những yêu cầu về phát triển năng lực, đánh giá năng lực sinh viên cần được đặt đúng chỗ trong mục đích dạy học. Năng lực của mỗi người một phần dựa vào cơ sở tư chất. Nhưng điều chủ yếu là năng lực hình thành, phát triển và thể hiện trong hoạt động tích cực của con người dưới tác động của rèn luyện, dạy học và giáo dục. Việc hình thành và phát triển các phẩm chất nhân cách là phương tiện có hiệu quả nhất để phát triển năng lực.
[48] Theo quan điểm của Tâm lý học Mác xít, năng lực của con người luôn gắn liền hoạt động của chính họ. Nội dung và tính chất của hoạt động được qui định bởi nội dung và tính chất đối tượng của nó. Tùy vào nội dung và tính chất của đối tượng mà hoạt động đòi hỏi ở chủ thể những yêu cầu xác định.