ĐẶT VẤN ĐỀ Nước ối là chất dịch lỏng sinh học, rất giàu dinh dưỡng bao bọc xung quanh thai nhi khi thai nằm trong tử cung của người mẹ. Nước ối giữ vai trò quan trọng đối với sự sống và phát triển của thai nhi trong tử cung do có chứa các yếu tố kháng khuẩn, các yếu tố tăng trưởng và nó giúp phổi của thai nhi phát triển [3]. Lượng nước ối khác nhau tùy thuộc mỗi bà mẹ và mỗi giai đoạn của thai kỳ. Trong một số trường hợp, lượng nước ối giảm so với thể tích ối thông thường theo tuổi thai thì gọi là thiểu ối [62].
Thiểu ối được định nghĩa là tình trạng nước ối ít hơn thể tích ối thông thường theo tuổi thai và màng ối còn nguyên vẹn. Thiểu ối được chẩn đoán xác định bằng siêu âm thai và nước ối khi kết quả siêu âm cho chỉ số ối <50mm. Thiểu ối cũng là bệnh thường gặp ở thai phụ với tỉ lệ từ 0,4 - 3,9% Thiểu ối cũng do nhiều nguyên nhân gây ra như bất thường thai nhi, suy giảm chức năng bánh rau, thai chậm phát triển. Thiểu ối gây nhiều ảnh hưởng cho thai, đặc biệt trong tình trạng thiểu ối xuất hiện sớm và kéo dài.
Những biến chứng thường gặp của thiểu ối là thiểu sản phổi, các biến chứng thần kinh, dị tật thai nhi và nhiễm trùng huyết sơ sinh, thậm chí tử vong thai [4], [5]. Có nhiều phương pháp đã được sử dụng để điều trị thiểu ối (tùy theo nguyên nhân và giai đoạn thai kỳ) như truyền dịch đẳng trương vào tĩnh mạch cho thai phụ, sử dụng kháng sinh, tư vấn cho thai phụ uống nhiều nước, chấm dứt thai kỳ. Tuy nhiên, hiệu quả của các phương pháp này chưa đạt như mong muốn. Truyền ối là kỹ thuật sử dụng để truyền nước muối hoặc dung dịch Ringer lactate vào khoang tử cung nhằm làm tăng thể tích nước ối xung quanh thai nhi.
Kỹ thuật truyền ối được thực hiện lần đầu năm 1982 trong điều trị thiểu ối nặng nhằm giảm nguy cơ thiểu sản phổi của thai tại Nhật Bản [50]. Từ đó đến nay, truyền ối được xem như một trong các kỹ thuật can thiệp bào thai để điều trị bệnh lý thiểu ối. Đã có nhiều nghiên cứu trên thế giới 2 chứng minh hiệu quả của truyền ối trong điều trị thiểu ối. Tại Việt Nam, Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec đã tiên phòng thực hiện một cách hệ thống kỹ thuật này và ghi nhận một số kết quả khả quan trên 8 thai phụ bị thiểu ối được truyền ối với lượng ối truyền trung bình 325 ± 84 ml, thời gian truyền trung bình 35,6 ± 15,6 phút.
Thời gian tiếp tục duy trì thai nghén trung bình: 6,8 ± 5,4 tuần [13]. Tuy nhiên, truyền ối cũng là kỹ thuật cao, có nguy cơ tai biến, đòi hỏi bác sĩ thực hiện phải có nhiều kinh nghiệm chọc ối, phải thực hiện tại cơ sở có phòng can thiệp bào thai đạt tiêu chuẩn vô khuẩn, cũng như có đội ngũ bác sĩ chuyên khoa sản khoa và sơ sinh với trình độ cao. Do đó, không phải bệnh viện nào cũng áp dụng được. Bệnh viện Phụ sản Hà Nội đã xây dựng thành công một phòng Can thiệp bào thai đạt tiêu chuẩn Châu Âu và đã triển khai truyền ối cho các trường hợp thiểu ối từ tháng 10/2019.
Hiện nay chưa có một nghiên cứu hệ thống hóa kết quả điều trị thiểu ối bằng truyền ringer lactate vào buồng ối. Đó là lý do chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá kết quả điều trị thiểu ối bằng phƣơng pháp truyền ringer lactate vào buồng ối tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội” nhằm mục tiêu: 1. Đánh giá kết quả điều trị thiểu ối của phương pháp truyền dịch Ringer lactat vào buồng ối tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội tháng 10 năm 2019 đến tháng 12 năm 2021. Phân tích một số yếu tố liên quan đến kết quả điều trị thiểu ối của phương pháp truyền dịch Ringer lactat vào buồng ối tại bệnh viện Phụ sản Hà Nội.
3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN 1. Sinh lý nƣớc ối 1. Khái niệm và nguồn gốc nước ối Nước ối là chất dịch lỏng sinh học, rất giàu dinh dưỡng bao bọc xung quanh thai nhi khi thai nằm trong tử cung của người mẹ, giữ vai trò quan trọng đối với sự sống và phát triển của thai nhi trong tử cung. Nước ối xuất hiện từ ngày thứ 12 sau thụ thai, nó có khả năng tái tạo và trao đổi chất [3].
Có ba nguồn gốc tạo ra nước ối là thai nhi, màng ối và máu mẹ [3]: - Nguồn gốc từ thai nhi: Từ giai đoạn sớm thai kỳ, da thai nhi đã có khả năng tiết ra nước ối cho đến tuần thứ 20-28 của thai kỳ. Từ tuần thứ 25 trở đi, da thai nhi trở nên sừng hóa làm cho dịch thẩm phân giảm dần [55]; đến tuần thứ 28 cấu trúc da ổn định vĩnh viễn, các tuyến mồ hôi bắt đầu hoạt động, các chất gây xuất hiện thì đường tạo nước ối này mới chấm dứt. Từ tuần thứ 20 của thai kỳ, phổi đã tham gia vào quá trình tạo nước ối. Mỗi ngày phổi thai chế tiết một lượng dịch bằng khoảng 10,0% thân trọng của thai, tương đương 300ml dịch khi thai đủ tháng.
Dưới 1,0% lượng dịch chế tiết của phổi cần thiết cho quá trình giãn nở phổi. Phần dịch phổi còn lại bị đẩy ra khỏi phổi hoặc tham gia tạo thành nước ối hoặc bị thai nuốt vào dạ dầy. Phổi vừa tham gia vào tạo nước ối vừa hấp thu nước ối. Nước tiểu được nhận thấy ở bàng quang của thai nhi vào tuần thứ 11, tốc độ sản xuất nước tiểu hàng giờ của thai nhi tăng dần theo tuổi thai.
Từ tuần 16 của thai kỳ, hệ tiết niệu của thai nhi bắt đầu hoạt động bài tiết nước tiểu vào buồng ối tạo ra nước ối. Ở nửa sau thời kỳ thai nghén, mỗi ngày thai sản xuất lượng nước tiểu vào buồng ối bằng khoảng từ 20,0-30,0% thân trọng của thai [57]. - Nguồn gốc nước ối từ màng ối và dây rốn: Màng ối xuất hiện vào ngày thứ 7-8 sau khi thụ thai, từ tế bào lưng của lá thai ngoài. Màng ối có hoạt động 4 trao đổi chất và chứa các men cần thiết cho sự sản xuất hormon và sự tổng hợp prostaglandin.
Nội sản mạc có cấu trúc liên bào bài tiết để làm trơn các lá phúc mạc. Trong giai đoạn đầu khi thai chưa sản xuất nước tiểu, các tế bào biểu mô màng ối cũng tham gia bài tiết một số lượng dịch vào buồng ối. Dây rốn: Bao phủ dây rốn là một lớp tế bào biểu mô có ít nhung mao ở cực ngọn, liên kết với nhau bởi các cầu nối chắc. Hiện tượng thấm nước và các chất sinh học của dây rốn chỉ thực sự bắt đầu diễn ra từ tuần thứ 18 của thai kỳ.
Thông thường, thai đủ tháng có 50ml nước được trao đổi qua dây rốn trong 24 giờ. Hiện tượng trao đổi nước và chất diễn ra ở đoạn dây rốn gần thai nhiều hơn ở đoạn dây rốn gần bánh rau [2]. - Nguồn gốc từ máu mẹ: máu mẹ và nước ối có sự trao đổi chất thông qua màng ối. Các con đường tiêu nước ối và sự luân chuyển nước ối 1.
Các con đường tiêu nước ối Từ sau tuần thứ 14 của thai kỳ, thai nhi bắt đầu có hiện tượng nuốt nước ối vào dạ dầy. Mỗi ngày thai uống 18-50ml/kg trọng lượng thai, thể tích nước ối (TTNO) được thai uống vào tăng dần theo tuổi thai, đạt mức tối đa là 1006ml/ ngày khi thai 40 tuần. Có 18,0% TTNO uống vào dạ dày có nguồn gốc từ phổi, mức độ uống nước ối khác nhau tùy theo từng điều kiện: - Thai bình thường uống 264 ± 43ml/24giờ/kg thân trọng thai. - Thai thiếu oxy uống 92 ± 23ml/24giờ/kg.
- Thai thiếu oxy đã hồi phục uống 271 ± 24ml/24giờ/kg [64]. - Tóm lại, mỗi ngày thai uống lượng nước ối bằng khoảng 20,0-25,0% thân trọng của thai, ít hơn so với lượng nước tiểu do thai bài tiết ra. Màng ối là màng xốp có tính chất bán thấm đối với nước các chất điện giải ure, glucose, creatinin, protein. Nước ối đi qua màng ối theo cơ chế thụ động, với chiều từ buồng ối vào cơ thể mẹ, lưu lượng khoảng 0,3-0,7ml/giờ.
Mỗi ngày có khoảng 100ml nước ối thoát ra buồng ối qua đường màng ối. 5 Dây rốn: nước ối được trao đổi qua dây rốn hàng ngày, Thai đủ tháng có khoảng 50ml nước ối được trao đổi qua dây rốn trong vòng 24 giờ [3]. Sự luân chuyển nước ối Từ ngày thứ 12 đến ngày thứ 28 sau khi thụ tinh, tuần hoàn thai nhi được thành lập, có sự thẩm thấu giữa tuần hoàn và nước ối. TTNO tăng lên đều qua suốt quá trình thai nghén.
Vào đầu tuần thứ 10 thì thể tích này là khoảng 30ml, và đạt tới đỉnh cao nhất là khoảng 1000ml vào tuần thứ 34-36. Khi thai ở quí III, mỗi giờ có khoảng 500ml nước đi vào và đi ra khỏi buồng ối. Đến giai đoạn cuối quí III của thời kỳ thai nghén, TTNO lại bắt đầu giảm, nên ở tuần thứ 40 thể tích này còn lại khoảng 800ml. Tốc độ giảm TTNO có thể tới 150 ml/tuần từ tuần thứ 38 đến tuần 43 của thời kỳ thai nghén [25].
Nước ối thường xuyên luân chuyển với tốc độ thay cũ đổi mới ước lượng khoảng 3600ml/giờ [25]. Có nhiều con đường để nước ối đi vào (tạo nước ối) và đi ra khỏi buồng ối (tiêu nước ối). Tham gia tạo nước ối có hai nguồn chính là nước tiểu của thai và dịch tiết của phổi thai, ngoài ra có một phần từ da thai nhi. Nước ối tiêu đi theo hai con đường chính là thai nuốt nước ối và hấp thu qua màng ối.
Ngoài ra một phần nước ối thoát qua màng ối và dây rốn. Nguồn gốc tạo nước ối và tiêu nước ối thay đổi theo tuổi thai. Thể tích và tính chất nước ối bình thường - Thể tích nước ối TTNO là kết quả của một quá trình cân bằng động, rất nhạy cảm, mong manh và dễ bị phá vỡ [11]. Lượng nước ối có thể dự đoán được nhiều nhất trong nửa đầu của thai kỳ, khi nó tương quan với trọng lượng của thai nhi.
Điều này có thể liên quan đến sự đóng góp chủ yếu của lọc máu da thai nhi vào lượng nước ối trong khoảng từ 8 đến 20 tuần. Ở tuần thứ 8 thể tich nước ối tăng 10ml/tuần, ở tuần 13 tăng 25ml/tuần và tăng nhanh nhất ở 21 tuần đạt 60ml/tuần. Từ tuần 33 nước ối đạt mức ổn định khoảng 600 – 800ml. Bắt đầu từ tuần 40 thể tích nước ối bắt đầu giảm khoảng 8% / tuần với thể tích nước ối 6 trung bình khi thai 42 tuần là 400ml [21].