CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. VÀI NÉT VỀ NGHIÊN CỨU TRONG ĐIỀU TRỊ RÒ ĐỘNG MẠCH MÀNG CỨNG XOANG HANG 1. Nước ngoài Các rò động tĩnh mạch màng cứng được mô tả đầu tiên bởi Tonnis (1936) [84]. Verbiest và Fincher (1951) là những người đầu tiên đưa ra khái niệm lỗ rò màng cứng tự phát [37].
Năm 1953, Seldinger trình bày kỹ thuật chọc mạch và sau này mang tên ông. Kỹ thuật Seldinger dùng catheter đưa dây luồn vào lòng mạch [77]. Thập niên 60 được đánh dấu bởi tầm quan trọng của giải phẫu học trong từng trường hợp cụ thể (Hayes 1963) [47]. Vào cuối thập niên 60 chính Newton tại đại học California ở San Francisco (Newton và Cronqvist (1969); là người thường qui thực hiện việc thám sát tất cả các rối loạn mạch máu nội sọ bao gồm RĐTMMC với việc bơm thuốc vào động mạch cảnh ngoài [68].
Ở Châu Âu, Rene Djindjian đã chụp mạch máu siêu chọn lọc vào giữa thập niên 70 để thiết lập phân loại cấu trúc mạch máu đầu tiên của RĐTMMC [36]. Năm 1984, Grisoli và cộng sự báo cáo một số lượng lớn các trường hợp cho thấy nguy cơ cao của biến chứng xuất huyết não của các dị dạng động tĩnh mạch màng cứng ở vùng hố sọ trước và lều tiểu não [40]. Năm 1983, Albright và cộng sự đã phác thảo các đặc tính của các dị dạng động tĩnh mạch màng cứng ở trẻ em [9]. Sự mô tả chi tiết về sự tưới máu của màng cứng nội sọ được Lasjaunias và cộng sự đưa vào năm 1986 [61] đã giúp sự hiểu biết thêm về tiềm năng tiếp cận nội mạch tới các lỗ RĐTMMC và nguy cơ xảy ra các biến chứng trong khi can thiệp nội mạch.
Năm 1989, Guglielmi sử dụng. 4 platinium coils, an toàn hiệu quả điều trị túi phình [43]. Sau đó có nhiều phương pháp điều trị RĐTMMC khác nhau được phát triển với sự nhấn mạnh vào các phương pháp can thiệp nội mạch. Sự tích lũy các trường hợp bệnh dẫn đến thêm nhiều sự phân loại mới được đề nghị bởi Borden và cộng sự (1995) [19], Cognard và cộng sự (1995), [30].
Sự phân loại RĐTMMC này có khuynh hướng đánh giá cao khía cạnh huyết động và những thay đổi theo thời gian có thể xảy ra ở những rối loạn này. Davies MA và cộng sự (1997), Satomi và cộng sự (2002), Van Dijk (2002) đã nhận diện ra những phân nhóm hình thái học với những diễn tiến tự nhiên khác nhau và thêm kích thước vào việc phân tích cấu trúc nền mạch máu [35], [73], [87]. Halbach và cộng sự (1989) với 13 trường hợp, thực hiện can thiệp qua đường tĩnh mạch đùi tiếp cận tới xoang đá dưới, tĩnh mạch mắt trên và đám rối chân bướm. Kết quả đạt hình ảnh mạch máu sau can thiệp 90% và cải thiện lâm sàng 77%.
Biến chứng 1 trường hợp đột quị sau đặt bóng, 1 trường hợp mất thị lực thoáng qua [47]. Yamashita và cộng sự đạt cải thiện mạch máu là 14 trường hợp trong số 16 trường hợp (88%), thất bại 2 trường hợp do coil sau khi đặt vào vị trí lí tuởng trong xoang hang do huyết khối nhỏ trong xoang hang hoặc vị trí giải phẩu không thích hợp trong tĩnh mạch mắt trên, 12% có triệu chứng thoáng qua, 6% vẫn còn kéo dài [91]. Goldberg và cộng sự (1996) báo cáo loạt trường hợp đường can thiệp vào tĩnh mạch mắt trên lâm sàng cải thiện 100%, không thành công 2 trường hợp có 1 trường hợp xuất huyết trong nhãn cầu nghiêm trọng [39]. Quinones và cộng sự đạt tỉ lệ tắc hoàn toàn 92%, cải thiện lâm sàng 83%, trừ 1 trường hợp không cải thiện xuất huyết trong xoang hang đối bên [70].
5 Roy và Raymond (1997) báo cáo 12 trường hợp rò ĐMMCXHGT có 9 trường hợp trong 12 trường hợp thuyên tắc qua đường tĩnh mạch bít tắc hoàn toàn 89%, tổn thương các dây thần kinh sọ do chèn ép tạm thời 50%, tổn thương liệt dây VI vĩnh viễn là 8% do huyết khối trong xoang hang chèn ép [71]. Cheng và cộng sự có 27 trường hợp can thiệp qua tĩnh mạch mắt trên đạt hình ảnh học là 89% ( 30% đạt hiệu quả ngay sau can thiệp), và cải thiện lâm sàng 96%, có 3 biến chứng liệt dây VI thoáng qua, có 2 trường hợp tiến triển chậm do huyết khối trong xoang hang [27]. Meyers và cộng sự (2002) có 135 trường hợp, 76% thuyên tắc mạch qua tĩnh mạch, tỉ lệ chữa lành trên hình ảnh mạch não và lâm sàng là 90 %, biến chứng 8 trường hợp (60%): 1 trường hợp nhồi máu não, 2 trường hợp giảm thị lực, 1 trường hợp tiểu đường và 1 trường hợp có triệu chứng nhãn cầu và 1 trường hợp tử vong 2,3%, 54% chiếm 1/3 hơn 1 lần can thiệp [65]. Theaudin và cộng sự (2007), báo cáo 27 trường hợp thuyên tắc qua tĩnh mạch, tắc toàn 14/16 trường hợp (88%), 12 trường hợp cải thiện lâm sàng (75%), 1 trường hợp xuất huyết thái dương (6%) khi thực hiện catheter qua xoang đá dưới kéo dài không triệu chứng gần 1 năm theo dõi [83].
Kim và cộng sự (2006) tắc tức thì 75% ( tắc hoàn toàn và gần hoàn toàn), cải thiện lâm sàng 91%, 11 biến chứng (20%): 6 trường hợp liệt dây sọ, 3 trường hợp thủng tĩnh mạch , 2 trường hợp xuất huyết thân não, liệt dây VI thoáng qua thấy có 5 trường hợp (10,7%) liên quan quá tải xoang hang hoặc huyết khối trong xoang hang. Thủng tĩnh mạch khi đưa catheter vào xoang đá dưới ghi nhận 3 trường hợp (5,4%). Kết quả thu nhận được từ nhiều tác giả, tỉ lệ cải thiện về mặt giải phẩu từ 50-100%, cải thiện lâm sàng dao động 63-100% ( chữa khỏi bệnh 80%, cải thiện lâm sàng 90%) [55]. Alexander và cộng sự (2019) báo cáo 267 trường hợp Rò ĐMMCXHGT bít rò thành công 86,5% trong đó bít rò hoàn toàn bằng đường tĩnh mạch là 86,9%.
6 các trường hợp. Rò ĐMMCXHGT bít rò bằng coils đường tĩnh mạch an toàn và đạt hiệu quả cao. Thuyên tắc bằng chất lỏng kém hiệu quả hơn và có nhiều biến chứng hơn và chỉ nên được xem xét cẩn thận trong các trường hợp giảm nhẹ [10]. Trong nước Điều trị RĐMMCXH được các tác giả trong nước đề cập.
Năm 1972, Lê Xuân Trung, Nguyễn Thường Xuân, Tôn Thất Tùng đã điều trị rò động mạch cảnh xoang hang theo phương pháp Brook [4]. Năm 1989, Trương Văn Việt đã trình bày một phương pháp điều trị bít lỗ rò với một miếng cơ có điều khiển được bằng một catheter qua một lỗ mở ở động mạch cảnh chung và báo cáo 56 ca rò động mạch cảnh xoang hang được điều trị bằng phương pháp này [6]. Năm 1999, Trương Văn Việt, Nguyễn Đình Tùng đã tổng kết điều trị cho 176 bệnh nhân rò động mạch cảnh xoang hang với 2 tử vong, 4 liệt nửa người và 20 tái phát [6]. Năm 2003, Nguyễn Đình Tùng báo cáo điều trị 123 trường hợp rò động mạch cảnh xoang hang phương pháp gây tắc bằng cơ có điều khiển với kết quả tốt 86,2%, yếu nữa người 5 bệnh nhân (4,06%), 9 tái phát (7,03%), 1 chảy máu (0,8%), 2 không gây tắc được (1,62%) [5].
Năm 2013, Trần Chí Cường báo cáo can thiệp nội mạch điều trị rò động mạch xoang hang sau chấn thương: tổng kết 172 trường hợp tại BVĐHYD TPHCM: bít hoàn toàn lỗ rò sau lần đầu can thiệp là 94%, tỉ lệ tai biến nặng liên quan thủ thuật 1,2%, không có trường hợp nào tử vong, không có trường hợp nào tái phát sau theo dõi [1]. Năm 2018, Vũ Đăng Lưu đã báo cáo 12 trường hợp can thiệp RĐMMCXHGT qua tái thông xoang đá dưới, đã tái thông thành công 10 trường hợp (83,3%), 75% tắc rò hoàn toàn 9 trong 10 trường hợp, sử dụng coils, coils. 7 phối hợp keo- Onyx. Có 1 trường hợp tai biến tắc động mạch não giữa phải gây yếu nữa người trái mặc dù đã lấy huyết khối bằng Solitaire nhưng không thành công [5].
SƠ LƯỢC GIẢI PHẪU HỆ THỐNG XOANG TĨNH MẠCH NÃO, ĐẶC BIỆT MỐI LIÊN QUAN ĐỘNG – TĨNH MẠCH ĐOẠN ĐI TRONG XOANG HANG 1. Phức hợp xương– màng cứng– các tĩnh mạch Hình dạng của màng cứng và các cấu trúc tĩnh mạch ở vị trí khác nhau ở người trưởng thành sẽ có những tác động lên những cấu trúc mạch máu và diễn tiến tự nhiên của RĐTMMC. Phân loại trong xoang ngang mô tả tổn thương hội lưu của các xoang đến chỗ mở phía dưới xương đá, kế tiếp là xoang sigma rồi đổ về hành tĩnh mạch cảnh thì thực sự đang kết hợp vị trí các xoang. Xoang ngang luôn luôn có các tĩnh mạch xương sọ đổ về trong khi đó xoang sigma không bao giờ nhận các tĩnh mạch não.
Tiềm năng phát triển cho các dẫn lưu tĩnh mạch ngược dòng màng mềm ở các vị trí này là không có. Sự phân chia nhiều ngăn xuất hiện gần xoang màng cứng và kết quả là có nhiều mạng lưới riêng biệt, chúng có thể chạy song song với nhau. Vào thời điểm này, một trong những mạng lưới này có thể đang dẫn lưu của não trong khi đó mạng lưới khác dành riêng sử dụng cho RĐTMMC, một vị trí đặc biệt cho điều trị. Đám rối tĩnh mạch màng cứng Không có các xoang màng cứng trong đường giữa tại nền sọ cũng như ở cột sống.
Trong những khu này, những mạng lưới đám rối tĩnh mạch sẽ hiện diện trên bề mặt màng cứng, nằm giữa màng xương và màng cứng. Những mạng lưới đám rối tĩnh mạch gồm: xoang gian hang, đám rối dọc tĩnh mạch cảnh, đám rối tĩnh mạch quanh lỗ chẩm và đám rối tĩnh mạch sống. 8 đã được mô tả trong những vùng này nhưng chúng không dẫn lưu chủ yếu đến các xoang tĩnh mạch màng cứng. Các tĩnh mạch xuyên xoang Sự kết hợp các cấu trúc khác nhau giữa xoang màng cứng và mạng lưới tĩnh mạch được mô tả theo hai cách khác nhau: những phần xuyên xoang của các tĩnh mạch não trong sọ trước khi chúng kết hợp với các xoang hoặc ống ngoài màng cứng.
Khác biệt lớn là chúng được tìm thấy gần chiều dọc của xoang, cạnh bên xoang gần lều tiểu não và hố sọ giữa gần lá của mảnh sàng. Piske cho rằng RĐTMMC phát triển ở những vùng này là: “tổn thương ngoài xoang màng cứng” [69]. Có một mạng lưới tĩnh mạch song song động mạch màng cứng ở những rãnh ngoài mặt lồi trong xương sọ. Tuy nhiên hệ thống này gần như không phát triển thành RĐTMMC, trừ khi bệnh lý mạch máu hoặc chấn thương trực tiếp của động mạch màng não giữa thì gây ra vỡ động mạch tới mạng lưới tĩnh mạch kế cận.
Một nhóm tổn thương khác là RĐTMMC xương.