CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN Y VĂN 1. Đặc điểm giải phẫu cẳng chân Hình 1. Xương cẳng chân “Nguồn: Netter, Nguyễn Quang Quyền dịch, 1996” [13]. 5 - Cẳng chân gồm 2 xương, xương chày là xương chính ở phía trước, xương mác ở phía sau ngoài là xương phụ.
Xương chày là xương hơi cong chữ S, tiếp khớp ở trên với xương đùi, một mình chịu sự tỳ nén của cả thân người. Thân xương chày hình lăng trụ tam giác trên to dưới nhỏ gồm 3 mặt (trong, ngoài, sau) và 3 bờ. Bờ trước cứng nên thuận lợi cho việc bắt các đinh và vít [17, 4].2 A + B: Cơ cẳng chân nhìn trước và sau “Nguồn: Netter, Nguyễn Quang Quyền dịch. 7 - Sự phân bố các cơ ở cẳng chân không đều, mào chày và mặt trong xương chày ở ngay dưới da, không có cơ nào che phủ; da vùng này dính vào xương và kém di động.
Mặt trước ngoài có các cơ duỗi che phủ nhưng ở phía trước cũng rất mỏng. Riêng mặt sau xương chày được các cơ gấp nhất là cơ tam đầu cẳng chân to, dày che phủ có lực co gấp mạnh gấp 4 lần các cơ duỗi [20, 10]. Do vậy nên khi bị chấn thương gãy xương chày thì rất dễ gãy hở do đầu xương chọc thủng da ở mặt trước trong và những trường hợp lực chấn thương mạnh sẽ gây lóc da rộng, bầm dập cơ nhiều. - Mạch máu nuôi xương chày có ba hệ thống chính là: + Hệ thống trong ống tủy.
+ Hệ thống đầu hành xương + Hệ thống màng xương. Thiết đồ ngang ngay trên điểm giữa cẳng chân trái “Nguồn: Netter, Nguyễn Quang Quyền dịch. 8 Hệ thống tĩnh mạch trong ống tủy qua các vi tĩnh mạch trong vỏ xương nối với hệ tĩnh mạch màng xương. Xương chày có hình dáng thay đổi từ trên xuống dưới nên khi bị gãy rất khó nắn chỉnh.
Một số đặc điểm gãy thân xương chày Gãy thân xương chày là một trong những loại gãy xương phức tạp. Tùy theo vị trí xương gãy, cấu trúc giải phẫu và phân bố cơ xung quanh sẽ có những đặc điểm khác nhau về mức độ di lệch xương, khả năng lành xương, khả năng can thiệp điều trị và tổn thương phối hợp. Đặc điểm tổn thương giải phẫu trong gãy thân xương chày * Cơ chế chấn thương gồm: + Cơ chế chấn thương trực tiếp: lực chấn thương đập trực tiếp vào cẳng chân vì thế hai xương gãy ngang mức, phần mềm xung quanh ổ gãy, đặc biệt lớp da ở mặt trước trong có thể bị bầm dập, dễ hoại tử thứ phát, gây di chứng khuyết hổng phần mềm, lộ xương, viêm xương… Các nguyên nhân thường gặp hiện nay là do tai nạn giao thông, tai nạn lao động. + Cơ chế chấn thương gián tiếp: lực gây gãy xương là lực xoắn vặn, uốn bẻ cẳng chân nên thường làm xương chày bị gãy chéo vát, gãy xoắn, xương mác thường gãy thứ phát và đường gãy thường cao hơn xương chày.
So với cơ chế chấn thương trực tiếp thì ở cơ chế này phần mềm ít bị tổn thương hơn. Vì vậy, nắm được bệnh sử và hiểu biết cơ chế chấn thương là rất quan trọng. Nó hướng phẫu thuật viên tới việc xác định di lệch ban đầu, hình thái gãy xương và tiên lượng về phần mềm, một điều rất quan trọng để tiên lượng và dự phòng biến chứng trong gãy thân xương chày [8]. 9 * Thương tổn về xương: Hình 1.
Phân đoạn vị trí gãy thân xương chày “Nguồn: Drake R., 2016” [36] - Tùy theo vị trí gãy thân xương chày cao hay thấp mà ta gọi là: gãy 1/3 trên, gãy 1/3 giữa, gãy 1/3 dưới. - Xương mác: vị trí thay đổi thường cùng mức đường gãy của xương chày. - Gãy thân xương chày thường có những di lệch sau: + Di lệch sang bên: đoạn ngoại vi di lệch ra sau và ra ngoài. + Di lệch chồng: di lệch chồng làm ngắn chi.
+ Di lệch gập góc: hai đoạn gãy tạo góc mở ra sau, ra ngoài. + Di lệch xoay: thường xoay ngoài do trọng lượng chi làm cho bàn chân xoay ngoài. 10 Mức độ di lệch của hai đoạn gãy phụ thuộc lực chấn thương, mức độ co cơ, sức nặng của đoạn ngoại vi và tư thế bất động… Do đặc điểm phân bố cơ ở cẳng chân nên di lệch trong gãy xương thường hay di lệch gập góc tạo góc mở ra ngoài và ra sau. Mạch máu cung cấp cho vùng cẳng chân Cấp máu chính cho cẳng chân là động mạch chày trước và động mạch chày sau với các nhánh bên và ngành cùng của nó, cộng với các nhánh của vòng nối quanh bánh chè và quanh khớp gối từ động mạch khoeo và động mạch đùi đi xuống, cũng như vòng nối quanh cổ chân đi lên.
Các động mạch này hoặc trực tiếp, hoặc gián tiếp cấp máu cho các cơ, xương, thần kinh và cho mạch máu nuôi cẳng chân [3]. Mạch máu nuôi xương chày gồm 3 hệ thống: - Động mạch tủy xương. - Các động mạch màng xương có nguồn gốc từ các cơ. - Các động mạch nuôi phần hành xương.
Hệ thống mạch máu nuôi dưỡng của xương chày “Nguồn: Nguyễn Văn Nhân, 2012” [16]. 11 Ba hệ thống có sự nối thông với nhau. Động mạch nuôi xương chày là nhánh của động mạch chày sau, đây là động mạch chính yếu và là động mạch nuôi xương duy nhất. Động mạch này đi xuyên qua lỗ nuôi ở mặt sau ngoài, vị trí nối 1/3T với 1/3G thân xương chày.
Động mạch chia làm ba nhánh, hai nhánh đi lên và tiếp nối với hệ thống động mạch đầu trên xương chày và cung cấp máu nuôi cho 1/3T thân xương, một nhánh đi xuống nuôi phần dưới 1/3G thân xương và tiếp nối với hệ thống mạch máu đầu dưới xương chày. Động mạch phần hành xương cung cấp máu cho đầu xương và tiếp nối với động mạch nuôi xương chày, vùng tiếp nối nghèo nàn mạch máu nuôi xương. Hệ thống cấp máu cho màng xương do các động mạch của cơ quanh xương và động mạch chày trước tạo nên, bình thường đảm bảo 10% đến 30% lượng máu nuôi xương chày, trong những trường hợp động mạch tủy xương bị tổn thương do gãy xương hoặc do đóng ĐNT thì sau một thời gian hệ thống mạch máu màng xương sẽ phát triển để bù trừ đảm bảo nuôi dưỡng một vùng rộng lớn hơn bình thường. Hệ thống tĩnh mạch bao gồm tĩnh mạch của tủy xương nhận máu của phần lớn hệ thống máu trong xương, đi ra qua lỗ nuôi xương và nhập vào hệ thống tĩnh mạch của màng xương.
Có sự thông thương giữa hệ mạch vào và hệ mạch ra của xương qua vòng huyết quản mao mạch ở trong tủy xương hoặc qua những động mạch nhỏ ở hệ thống havers không có giường mao mạch. Một khi có sự tắc nghẽn lưu thông máu sẽ làm giảm hoặc mất quá trình liền xương [52]. Đặc điểm phần mềm ở cẳng chân Các cơ vùng cẳng chân phân bố không đều, mặt trước xương chày nằm ngay dưới da, không có cơ che phủ. Mặt ngoài và nhất là mặt sau có những.
12 gân dày và chắc, lực co kéo mạnh nên khi gãy TXC thường có di lệch gập tạo góc mở ra ngoài, ra sau và dễ bị gãy hở mặt trước trong Do đặc điểm phần mềm nêu trên, xét về mặt cơ sinh học thì kết hợp xương (KHX) bằng đóng ĐNT có chốt rất phù hợp với gãy TXC [4], [16]. Hai bó cơ sinh đôi 2. Cơ gấp ngón chân cái 4. Cơ gấp chung các ngón chân 7.
Bó mạch thần kinh chày sau Hình 1. Các cơ khu cẳng chân sau “Nguồn: Thompson J., 2010” [90] Phân vùng giải phẫu khoang cẳng chân Màng liên cốt cùng hai vách liên cơ chia cẳng chân ra ba khoang: khoang trước, khoang ngoài và khoang sau. Khoang sau được cân cẳng chân chia làm hai khoang: khoang sau nông và khoang sau sâu. Khi gãy xương cẳng chân, máu từ ổ gãy chảy vào các khoang đặc biệt là khoang sau sâu, thêm vào đó là sự di lệch của hai đầu gãy, sự phù nề của các cơ trong khoang do chấn thương đã làm tăng thể tích khoang lên nhanh chóng, điều đó gây ra hội chứng chèn ép khoang - một cấp cứu trong gãy TXC [6].
Các khoang cẳng chân “Nguồn: Thompson J. Phân loại gãy thân xương chày Có nhiều cách phân loại gãy thân xương chày * Theo đường gãy có: gãy đơn giản, gãy phức tạp. * Theo kiểu di lệch có: di lệch ngang, di lệch gập góc, di lệch chồng, di lệch xoay. * Theo độ vững có: Gãy vững: gãy ngang, gãy chéo ngắn.
Gãy không vững: gãy xoắn, gãy chéo dài, gãy hai tầng, gãy nhiều mảnh. * Theo tổn thương phần mềm có: gãy kín, gãy hở. Phân loại gãy xương theo AO/ASIF (Association of Osteosynthesis) Các tác giả dựa vào hình ảnh Xquang để phân loại gãy xương [52]. Gãy đơn giản - A1: Gãy chéo xoắn.
- A2: Gãy vát, đường gãy tạo với thân xương góc ≥ 300. Gãy có mảnh rời - B1: Gãy chéo xoắn có mảnh rời. - B2: Gãy có mảnh rời di lệch. 14 - B3: Gãy có mảnh rời hai đầu.
Gãy phức tạp - C1: Gãy chéo xoắn có nhiều mảnh rời. - C3: Gãy nhiều mảnh, nhiều đoạn. Phân độ gãy xương theo AO “Nguồn: Heckman M. Phân loại gãy xương chày • Phân loại theo Hội kết hợp xương AO (Thụy Sĩ) (1958) Hình 1.
Phân loại gãy theo AO “Nguồn: Mcqueen M., 2015” [52] Hội Kết hợp xương AO phân chia gãy xương chày thành ba loại là: Loại A: gãy đơn giản + Loại A1: gãy xoắn + Loại A2: gãy chéo, góc đường gãy > 300 + Loại A3: gãy ngang, góc đường gãy < 300 Loại B: gãy có mảnh thứ 3 + Loại B1: gãy xoắn có mảnh thứ 3 + Loại B2: gãy chéo có mảnh thứ 3 + Loại B3: gãy có mảnh thứ 3 phân đôi Loại C: gãy phức tạp + Loại C1: gãy xoắn nát + Loại C2: gãy hai tầng + Loại C3: gãy nát nhiều mảnh. 16 AO chia gãy xương chày thành ba loại A, B, C và trong mỗi loại gãy đó có nhiều tiểu loại. Trong đó chỉ có loại A3 tác giả đánh giá là gãy vững, các loại A1-A2-A3, B1-B2-B3 là loại gãy thích hợp cho việc đóng đinh nội tủy và sau khi kết hợp xương đều có hiện tượng lành xương giữa đầu gần và đầu xa. Còn loại C1-C2-C3 do tổn thương nhiều mảnh gãy xoắn, gãy nhiều mảnh nên sau khi kết hợp xương không có hiện tượng lành xương ở đầu gần và đầu xa.
Phân loại gãy xương hở Gãy xương hở là tình trạng ổ gãy thông với môi trường bên ngoài. Tùy theo mức độ có thể từ rách da đến tổn thương cân cơ phối hợp tại vùng ổ gãy.