ĐẶT VẤN ĐỀ Việt Nam là đất nước thuộc vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, lượng mưa dồi dào và độ ẩm cao. Đây là điều kiện thuận lợi cho các loại sinh vật phát triển, tạo ra hệ thực vật rất phong phú và đa dạng bao gồm các loại thực vật bậc cao, nấm ăn và nấm dược liệu. Đến nay, mặc dù chưa có sự thống kê đầy đủ về sự đa dạng thành phần các loài nấm ở Việt Nam, tuy nhiên, các dẫn liệu khoa học đã được công bố cho thấy Việt Nam có nhiều loại nấm quý hiếm [1]. Nấm Linh chi (Ganoderma lucidum) còn gọi là Tiên thảo, nấm Trường thảo, Vạn niên nhung, thuộc họ nấm Lim.
lucidum thường sinh trưởng ở nơi rừng núi cao, đặc biệt là những khu rừng có nhiều cây lá rộng, chúng được xem là một loại dược liệu quý, cây thuốc quan trọng tại các nước Đông Nam Á [2]. Trong những năm gần đây, các nhóm nghiên cứu trong và ngoài nước đã công bố nhiều kết quả nghiên cứu về thành phần hóa học chính trong nấm Linh chi có các hoạt tính sinh học đáng chú ý như điều trị và hỗ trợ điều trị nhiều bệnh tật liên quan đến sức khỏe của con người: bệnh tim, cao huyết áp, bệnh gan, ung thư, tiểu đường [54]. Mặc dù đã có nhiều nghiên cứu về nấm Linh chi nhưng chúng tôi nhận thấy nấm trồng ở các vùng địa lý khác nhau (mọc tự nhiên hoặc nuôi trồng) có thể có sự khác nhau về thành phần hoạt chất và hoạt tính sinh học. Do đó, chúng tôi nghiên cứu sơ bộ về định lượng các thành phần và bước đầu đánh giá một số hoạt tính sinh học từ dịch chiết nấm Linh chi (G.
lucidum), với đề tài: “Định lƣợng một số thành phần hoạt chất cơ bản và bƣớc đầu đánh giá hoạt tính sinh học có trong dịch chiết nấm Linh chi (Ganoderma lucidum) thu hái ở huyện A Lƣới (Thừa Thiên Huế)” nhằm cung cấp thêm dữ liệu khoa học về hoạt tính sinh học quý của nấm Linh chi ở Việt Nam và góp phần mở rộng tiềm năng sử dụng loại dược liệu này. 1 Đề tài này gồm ba mục tiêu sau: 1. Xây dựng quy trình thu nhận cắn dịch chiết nước nấm Linh chi. Khảo sát hàm lượng một số hoạt chất có trong cắn dịch chiết và so sánh với các kết quả đã công bố.
Đánh giá một số hoạt tính sinh học của dịch chiết như: hoạt tính kháng khuẩn, chống oxy hóa. Đại cƣơng về nấm Giới nấm bao gồm các sinh vật nhân thực, không có diệp lục, không có sự phân hóa thành rễ, thân, lá, không có hoa, phần lớn không chứa cellulose trong thành tế bào và sống dị dưỡng. Nấm có một số phương thức dinh dưỡng bao gồm hoại sinh, ký sinh hay cộng sinh [2]. Hình dạng đại thể của nấm Tế bào nấm phát triển và phân nhánh tạo thành sợi nấm, sợi nấm tiếp tục phát triển và phân nhánh tạo thành hệ nấm phát triển chằng chịt trên bề mặt môi trường.
Trong sợi nấm có vách ngăn ngăn cách các tế bào nấm với nhau. Những sợi nấm này hình thành khuẩn lạc có thể nhìn thấy bằng mắt thường. Cấu tạo của tế bào nấm Cấu tạo chung của tế bào nấm tương tự như tế bào động vật, có màng tế bào, bào tương, các bào quan, nhân, tuy nhiên nấm có thành tế bào [2][55]. Thành tế bào Thành tế bào (cell wall): có cấu tạo nhiều lớp, 90% là polysaccharide gồm các loại hexose và hexosamine polymers như chitin, glucan, mannan, v., 10% là các protein và glycoprotein.
Thành tế bào làm nhiệm vụ đảm bảo hình dạng, độ cứng, sự vững chắc và bảo vệ tế bào nấm chống lại áp lực thẩm thấu. Ngoài ra thành tế bào có tính kháng nguyên [2]. Màng tế bào Màng tế bào: cấu tạo hai lớp, thành phần có phospholipids và sterols (ergosterol, zymosterol). Màng có chức năng bảo vệ bào tương, điều hoà hoạt động bài tiết và hấp thu những chất hoà tan, tạo điều kiện thuận lợi cho việc tổng hợp bao vỏ, thành tế bào [2].
Dãy chuẩn dung dịch glucose ở các nồng độ (0,1 - 0,8 mg/mL). Nồng độ (mg/mL) 0,1 0,2 0,4 0,6 0,8 Vglucose (mL) 0,02 0,04 0,08 0,12 0,16 Vnước cất (mL) 9,98 9,96 9,92 9,88 9,84 - Mẫu dịch chiết (2,0 mg/mL): Cân chính xác 0,2 gam cao chiết cho vào bình định mức 100 mL, thêm nước cất vừa đủ 100 mL, lắc đều. Tiến hành - Bước 1: Mẫu thử: Lấy 1,5 mL glucose ở các nồng độ (0,1 - 0,8 mg/mL) + 1 ml phenol 5% đã pha ở trên + 3 mL acid sulfuric đậm đặc. + Mẫu trắng: Lấy 1,5 mL nước cất + 1mL dung dịch phenol 5% đã pha ở trên + 3 mL acid sulfuric đậm đặc.
- Bước 2: Trộn đều và ủ trong tối 30 phút. - Bước 3: Đo mật độ quang học ở bước sóng 490 nm. Kết quả đo quang được thực hiện 3 lần và lấy giá trị trung bình. - Bước 4: Tương tự tiến hành với mẫu DC: Lấy 1,5 mL dịch chiết ở nồng độ 2 mg/mL + 1mL phenol 5% + 3 mL acid sulfuric đậm đặc [5].
- Hàm lượng polysaccharide tổng số được tính theo công thức: Trong đó: G: hàm lượng polysaccharide (%). C1: nồng độ polysaccharide chứa trong mẫu (mg/mL). C: nồng độ mẫu bột cao chiết (mg/mL) [5]. Khảo sát hàm lượng saponin tổng số Hàm lượng saponin tổng số được khảo sát theo phương pháp vanillin-sulfuric acid theo Anh Le và cộng sự (2018) [40].
Nguyên tắc Trong điều kiện acid, quá trình aldol hóa xảy ra giữa các sapogenin thu được bằng thủy phân saponin trong dịch chiết và nhóm aldehyde trong vanillin. Các sapogenin steroid có hoặc không có liên kết đôi ở C-5, các sapogenin triterpenoid, 21 sterol có nhóm OH ở vị trí C-3 của chúng phản ứng với vanillin trong môi trường axit để tạo ra phức hợp màu tím đỏ có độ hấp thụ cực đại ở 473 đến 560 nm [41]. Chuẩn bị các dung dịch thử - Dung dịch vanillin 8%: Cân chính xác 8 gam vanillin cho vào bình định mức 100 mL, thêm etanol vừa đủ 100 mL, lắc đều. - Dung dịch acid sulfuric 72%: Lấy 25 ml nước cất cho vào bình định mức 100 mL, thêm từ từ acid sulfuric đậm đặc vừa đủ 100 mL, lắc đều.
- Dung dịch oleanolic acid (1,5 mg/mL): Cân chính xác 0,15 gam oleanolic acid cho vào bình định mức 100 mL, thêm methanol vừa đủ 100 mL, lắc đều. - Chuẩn bị dãy chuẩn dung dịch oleanolic acid như Bảng 2. Dãy chuẩn dung dịch oleanolic acid ở các nồng độ (0,03 - 0,5 mg/mL). Nồng độ (mg/mL) 0,03 0,06 0,125 0,25 0,5 VOleanolic acid (mL) 0,21 0,42 0,83 1,67 3,33 VMeOH (mL) 9,79 0,58 9,17 8,33 6,67 - Mẫu dịch chiết (5,0 mg/mL): Cân chính xác 0,5 gam cao chiết cho vào bình định mức 100 mL, thêm nước cất vừa đủ 100 mL, lắc đều.
Tiến hành - Bước 1: Mẫu thử: lấy 0,75 mL oleanolic acid ở các nồng độ (0,03 -0,5 mg/mL) + 0,75 mL vanillin 8% + 3 mL acid sulfuric 72%. + Mẫu trắng: Lấy 0,75 mL methanol + 0,75 mL vanillin 8% + 3 mL acid sulfuric 72%. - Bước 2: Trộn đều và ủ trong đá 3 phút. - Bước 3: Ủ gia nhiệt ở 60⁰C trong 15 phút.
Sau đó làm lạnh nhanh trong nước 5 phút. - Bước 4: Đo mật độ quang học ở bước sóng 560 nm. Kết quả đo quang được thực hiện 3 lần và lấy giá trị trung bình. - Bước 5: Tương tự tiến hành với mẫu DC: Lấy 0,75 mL dịch chiết ở các nồng 5 mg/mL + 0,75 mL vanillin 8% + 3 mL acid sulfuric 72%.
22 + Mẫu trắng: Lấy 0,75 mL nước cất + 0,75 mL vanillin 8% + 3 mL acid sulfuric 72% [43]. - Hàm lượng saponin tổng số được tính theo công thức: Trong đó: M: Hàm lượng saponin tổng số (%). a: Nồng độ saponin chứa trong mẫu (mg/mL). b: Nồng độ mẫu bột cao chiết (mg/mL) [6].
Kháo sát hàm lượng phenolic tổng số Hàm lượng phenolic tổng số được khảo sát bằng thuốc thử Folin – Ciocalteu theo N. Siddiqui và cộng sự (2017) [42]. Nguyên tắc Các hợp chất phenolic có trong dịch chiết nấm được định lượng bằng phương pháp đo màu khi dùng với thuốc thử Folin - Ciocalteu. Thuốc thử Folin - Ciocalteu là hỗn hợp hai acid: acid phosphotungstic (H3PW12O40) và acid phosphomolybdic (H3PMo12O40), hỗn hợp acid này phản ứng với các hợp chất có nhóm hydroxy phenol trong thành phần hóa học để tạo thành các phức có màu xanh lam đặc trưng.
Sử dụng phương pháp quang phổ để xác định được hàm lượng phenolic toàn phần có trong dịch chiết [43]. Chuẩn bị dung dịch thử - Dung dịch natri cacbonat 7,5%: Cân chính xác 7,5 gam natri cacbonat cho vào bình định mức 100 mL, thêm nước cất vừa đủ 100 mL, lắc đều. - Dung dịch gallic acid (0,5 mg/mL): Cân chính xác 0,05 gam gallic acid cho vào bình định mức 100 mL, thêm nước cất vừa đủ 100 mL, lắc đều. - Chuẩn bị dãy chuẩn dung dịch gallic acid như Bảng 2.
Dãy chuẩn dung dịch gallic acid ở các nồng độ (0,05 – 0,25 mg/mL). Nồng độ (mg/mL) 0,05 0,1 0,15 0,2 0,25 Vgallic acid (mL) 1 2 3 4 5 V nước cất (mL) 9 8 7 6 5 23 - Mẫu dịch chiết (2,0 mg/mL): Cân chính xác 0,2 gam cao chiết cho vào bình định mức 100 mL, thêm nước cất vừa đủ 100 ml, lắc đều. Cách tiến hành - Bước 1: Mẫu thử: lấy 0,5 mL gallic acid ở các nồng độ (0,05 - 0,25 mg/mL) + 2,5mL Folin – Ciocalteu + 2 mL natri cacbonat 7,5%. + Mẫu trắng: Lấy 0,5 mL nước cất + 2,5 mL Folin – Ciocalteu + 2 mL natri cacbonat 7,5%.
- Bước 2: Lắc đều và ủ trong tối 30 phút. - Bước 3: Đo mật độ quang học ở bước sóng 765 nm. Kết quả đo quang được thực hiện 3 lần và lấy giá trị trung bình. - Bước 4: Tương tự tiến hành với mẫu DC: Lấy 0,5 mL DC ở các nồng độ 2 mg/mL + 2,5 mL Folin - Ciocalteu + 2 mL natri cacbonat 7,5%.
- Hàm lượng phenolic toàn phần được tính theo công thức: Trong đó: P: Hàm lượng phenolic tổng số (mg galic acid/g dịch chiết). a: Giá trị X từ đường chuẩn của gallic acid (mg/mL). V: Thể tích dịch chiết (mL). m: khối lượng dịch chiết có trong thể tích V (g) [42].
Khảo sát một số hoạt tính sinh học có trong cắn dịch chiết 2. Khả năng chống oxy hóa Khả năng hấp thụ gốc tự do DPPH (2,2-diphenyl-1-picylhydrazyl) Khảo sát hoạt tính chống oxy hóa bằng phương pháp hấp thụ gốc tự do DPPH theo M. Nguyên tắc DPPH, 2,2-diphenyl-1-picylhydrazyl, là một gốc tự do điển hình có khả năng kết cặp hay “bắt giữ” các gốc tự do khác. Công thức được thể hiện ở Hình 2.
Công thức hóa học của DPPH [45].