CHƯƠNG I - TỔNG QUAN 1. Xylan Xylan là thành phần chính của hemicellulose. β-1,4-xylan là các polysaccharide của đường xylose được tìm thấy trong thành tế bào trong tất cả các loại thực vật trên cạn và trong hầu hết các phần của cây. Để thủy phân các thành phần khung xương của chúng đòi hỏi sự hợp tác của nhiều loại enzyme khác nhau chủ yếu là β-1,4-xylanase (1,4-β-D-xylan xylanohydrolase; EC3.1) và xylosidase (1,4- β-D-xylan xylohydrolase; (EC3.
Cấu trúc của xylan Hình 1.1: Dạng đơn giản của xylan Xylan là một ví dụ của một pentosan bao gồm các đơn vị D-xylose liên kết với nhau bởi liên kết β 1→4. Trong thành tế bào xylan được cấu thành từ các liên kết 1,4-β-D-xylosyl ngắn thành một khung xương với các α-D-glucosyluronic acid (GlcA), 4-methyl-O- α-D-glucosyluronic acid (MeGlcA), α-L-arabinosyl, O-acetyl, feruloyl, hoặc các chuỗi bên coumaroyl. Mức độ polymer hoá của xylan trong gỗ cứng là 150-200 gốc β-xylopyranose, gỗ mềm là 70 đến 130 gốc β-xylopyranose.2: Dạng phức tạp của xylan T 48 4 Dương Thị Lương Liên CH09-11 Viện CNSH&CNTP - ĐHBKHN Luận văn thạc sỹ khoa học Hình 1.3: Đơn vị cấu trúc của xylan từ cỏ [8] Trong mô hình mạch của tế bào thực vật β-1,4-xylan chủ yếu tìm thấy trong lớp thành tế bào thứ hai, là thành phần chính của tế bào trưởng thành trong mô gỗ, trong hemicellulose ở các lớp tế bào đầu tiên của cây một lá mầm, xylan là một thành phần thứ yếu của lớp thành tế bào đầu tiên cây hai lá mầm. Điều quan trọng xylan được coi như một nguồn cung cấp C chính trong brichwood với 35% khối lượng khô.
Nhìn chung, xylan là một hemicellulose quan trọng trong gỗ của cây hạt kín 15-30% và ít phổ biến trong cây hạt trần từ 7-12% trong lượng khô [1]. Tên gọi và đặc tính của xylanase Xylanase được mô tả bởi hiệp hội quốc tế hóa sinh và công nghệ sinh học phân tử (IUBMB)) như sau: - Số đăng ký: EC 3. - Số đăng ký sở lý thuyết hóa học của xylanase: 9025-57-4. - Tên hệ thống: 1,4-D-xylanohidrolase.
- Tên thường : Endo-1,4- xylanase. Các Tên khác: β-xylanase; β-1,4-xylanase; β-1,4-xylan xylanohidrolase; β-D-xylanase; endo-1,4-xylanase; endo-β-1,4-xylanase; endo-β-1,4-D- xylanase; endo β-1,4-xylan-D-xylanohidrolase; (từ vi khuẩn) endo-xylanase; β- 5 Dương Thị Lương Liên CH09-11 Viện CNSH&CNTP - ĐHBKHN Luận văn thạc sỹ khoa học xylanase, pentosanase, xynA protein, xylanase, xylanase j, xylanase y, xylanase z, xylanase III Thuộc loại: Hydrolase (enzyme thủy phân). Sản phẩm: Xylose. Nguồn gốc [59]: - Vi khuẩn: B.
polymyxa, Cryptococcus albidus, Cellulomonas fimi,. - Nấm: Aspergillus spp (nudulans, ochraceus, fumigatus), Penicillium, Fuarium, Chaetomium, Aureo bacidium, Rhizomucor, A. Ozyrae, Clostridium stercorarium,. - Xạ khuẩn: Trichoderma spp,.
Đặc tính của xylanase [59] Dải pH: - Vi khuẩn (Bacillus spp): 4 - 10 (thường 6 - 7). Dải nhiệt độ : - Vi khuẩn (Bacillus): 37 - 80o C. P P - Nấm men (Streptomyces spp): 50- 65 oC. P P - Xạ khuẩn (Trichoderma spp): 45- 65 oC.
P P Dải pI: - Vi khuẩn (chi Bacillus) : 3,6- 10 - Nấm (Aspergillus spp, Trichoderma spp) : 3,6- 9 - Nấm men (Streptomyces spp) : 5,2- 10,3. 6 Dương Thị Lương Liên CH09-11 Viện CNSH&CNTP - ĐHBKHN Luận văn thạc sỹ khoa học Khối lượng phân tử - Vi khuẩn (chi Bacillus) : 9,5- 56 kDa - Nấm (Aspergillus spp, Trichoderma spp) : 8- 53 kDa - Nấm men (Streptomyces spp) : 24 - 50 kDa - Xạ khuẩn (Trichoderma spp): 8,5 - 53 kDa. Phân loại xylanase Enzyme xylanase thường được tìm thấy ở thực vật và vi sinh vật. Chúng được phân chia thành rất nhiều họ dựa vào nguồn gốc, cơ chất, hoạt động, trình tự, cấu trúc domain, đặc điểm hoá lý và chức năng của chúng, sự quan trọng trong công nghiệp, sự thích nghi với các điều kiện môi trường khác nhau.
Nhưng có 2 họ rất phổ biến và được quan tâm đặc biệt là: - Endo-xylanase họ 10 gồm các enzyme có nguồn gốc từ thực vật, nấm mốc và vi khuẩn có khối lượng phân tử cao với giá trị pI thấp (họ F) - Endo-xylanse họ 11 gồm các enzyme có nguồn gốc từ nấm mốc và vi khuẩn có khối lượng phân tử thấp với giá trị pI cao (họ G). Sự khác biệt về đặc tính xúc tác của họ 10 là có khả năng thủy phân các liên kết glycoside cạnh các điểm nhánh và hướng về đầu không khử. Trong khi đó họ 11 không có khả năng đó [5]. Endo-xylanase họ 10 cần hai gốc xylopyranosyl không thay thế giữa các nhánh thì endo-xylanase của họ 11 cần có ba gốc xylopyranosyl liên tiếp không thay thế.
Do đó, các endo-xylanase của họ 10 hoạt động linh động hơn họ 11. Điều này cũng có nghĩa là họ 11 hoạt tính xúc tác chọn lọc hơn. Ngoài việc phân loại xylanase làm 2 nhóm lớn, nhiều nhà khoa học cũng đã tiến hành nghiên cứu, phân chia xylanase thành những nhóm nhỏ hơn. Sapag [50] chia xylanase họ 11 thành 6 nhóm chính.
Nhóm I, II và III chứa chủ yếu các enzyme của nấm mốc. Trong khi đó, các xylanase của vi khuẩn được chia thành ba nhóm là A, B và C. Nhóm A là các xylanase được sinh tổng hợp bởi họ Actinomycetaceae và Acillaceae, hoàn toàn là những vi khuẩn hiếu khí gram dương. Nhóm B và C thì chứa các enzyme chủ yếu từ các vi khuẩn yếm khí gram dương, những loài thường sống trong dạ cỏ.
7 Dương Thị Lương Liên CH09-11 Viện CNSH&CNTP - ĐHBKHN Luận văn thạc sỹ khoa học 1. Cấu trúc không gian 3 chiều của xylanase Có một sự biến đối khá lớn giữa các enzyme phân hủy xylan sinh tổng hợp từ nấm và vi khuẩn, enzyme được tiết ra trong môi trường chứa cơ chất xylan và phân hủy nó thành những oligosaccharide ngắn hơn và những phần này có thể sử dụng như một nguồn năng lượng cho vi sinh vật. Xylanase được phân thành hai họ F10 và G11 dựa trên sự tương đồng trình tự chuỗi amino acid và sự phân tích cấu trúc không gian 3 chiều.4: Cấu hình không gian của G11 xylanase từ Bacillus subtilis (XYNA) Phần cấu trúc điển hình nhất của G11 xylanase là chứa 2 vòng xoắn gấp nếp β được gọi là gấp “jellyroll” (thạch tròn) giống như một bàn tay phải hình 1. Trong đó những mạch β riêng biệt đan vào và ra tạo thành các vùng ngón tay và lòng bàn tay như trong hình 1.
phần khe nối các phần còn lại được tạo thành giữa 2 vùng này tạo thành trung tâm hoạt động và gắn cơ chất của protein. Vòng tròn mở rộng tạo thành vùng dạng ngón cái (vùng T), cái này có thể điều khiển vị trí đóng mở của trung tâm hoạt động (chứa glutamic ở vị trí 75 và 78) đóng vai trò điều hòa sự gắn của cơ chất với vùng xúc tác của enzyme [44]. Các amino acid cấu thành xylanase họ 11: 8 Dương Thị Lương Liên CH09-11 Viện CNSH&CNTP - ĐHBKHN Luận văn thạc sỹ khoa học Hình 1.5: Họ 11 xylanase từ Bacillus circulans (1XNB) và Trichoderma harzianum (1XND) Từ hình 1.5 ta thấy cấu trúc không gian và các amino acid cấu thành hình dáng của của họ 11 xylanase từ Bacillus circulans và Trichoderma harzianum rất giống nhau mặc dù nó có khoảng cách di truyền rất lớn một enzyme từ vi khuẩn còn một enzyme từ nấm mốc. Vị trí của nhiều amino acid bảo vệ thì được giữ rất gần nhau.
Màu xám thể hiện tờ gấp nếp β hình thành vùng lõm 2 lớp xung quanh vị trí hoạt động. Màu xám đen thể hiện một vòng xoắn và nén α [56]. Chức năng và cơ chế thủy phân của xylanase a) Chức năng của xylanase Xylanase là một enzyme xúc tác thủy phân liên kết 1,4-beta-D-xylose trong xylan thành phần của hemicellulose, là một trong những thành phần cấu trúc lên thành tế bào thực vật, làm phá vỡ cấu trúc của thành tế bào giải phóng đường xylose và giúp các enzyme khác hoạt động thuận lợi và hiệu quả hơn trong quá trình sản xuất. Arabinoxylan cũng được biết đến như một pentonsan là những xylan phân nhánh cao trong bột lúa mỳ và bột lúa mạnh đen có hàm lượng xylan cao.
Xylanase thuộc nhóm pentosanase, một nhóm của enzyme phá hủy các thành phần của thành 9 Dương Thị Lương Liên CH09-11 Viện CNSH&CNTP - ĐHBKHN Luận văn thạc sỹ khoa học tế bào chất nền của thực vật (sợi), bẻ gãy hợp chất đặc biệt trong thành tế bào thực vật. Tạo điều kiện để các enzyme tiêu hóa phía sau làm việc hiệu quả do hạn chế bởi tính nhầy của dịch vùng dạ dày và kích thích tiêu hóa giúp hấp thu chất dinh dưỡng tốt hơn. Chống lại sự tăng số lượng của vi khuẩn kị khí và giảm tỷ lệ mắc bệnh đường ruột. b) Cơ chế hoạt động Hàng loạt các mô hình đã được đưa ra để giải thích cơ chế hoạt động của xylanase.
Hoạt động của xylanase dẫn đến sự thủy phân xylan. Ở dạng đơn giản (hình 1.6) khi xylan chỉ ở dạng polyme của β-1,4-D- xylopyranosyl thì endo β-1,4-xylanase phân hủy liên kết β-1,4-xylose trong đoạn polysaccharide thành xylose.6: Cơ chế hoạt động của xylanse dạng đơn giản Do cấu trúc của xylan ở dạng liên kết trong thành tế bào rất phức tạp nên để phân huỷ hoàn toàn mạch xylan thành các mạch ngắn đơn giản hơn thì xylanase không thể hoạt động một mình mà phải hoạt động cùng với nhiều enzyme khác (hình 1. Endo-1,4-β-D-xylanase phân cắt ngẫu nhiên khung xylan, β-D- xylosidase (EC 3.37) phân cắt các xylose một cấu tử thành các xylo- oligosaccharide đầu không khử. Trong khi loại bỏ các nhóm bên của xylobiose thì được xúc tác bởi α-L-arabinofuranosidase (EC 3.55), α-D-glucuronidase (EC 10 Dương Thị Lương Liên CH09-11 Viện CNSH&CNTP - ĐHBKHN Luận văn thạc sỹ khoa học 3.139), acetylxylan esterase (EC 3.72), ferulic acid esterase (EC 3.73) và p-coumaric acid esterase.7: Vị trí tấn công của endo-1,4-β-xylanase trên mạch xylan Sự thủy phân của các enzyme thủy phân polysaccharide kiểu như cellulase và xylanase có thể là kết quả của sự duy trì hay nghịch chuyển của trung tâm anomeric của các monomer đường khử của carbonhydrat [10].
Đề xuất này bao gồm một hoặc hai trạng thái chuyển tiếp hóa học. Sự dịch chuyển glycosyl thường dẫn đến sự thay đổi tính ái nhân ở C bão hòa của trung tâm anomeric và diễn ra với sự duy trì hoặc nghịch chuyển của cấu hình anomeric. Có sự liên quan của cơ chế dịch chuyển kép cho sự duy trì anomeric của sản phẩm. Cơ chế dịch chuyển kép bao gồm các đặc điểm: - Xúc tác axit với việc thêm một proton vào cơ chất.
- Một nhóm carboxyl của enzyme ở trạng thái hoạt động 11 Dương Thị Lương Liên CH09-11 Viện CNSH&CNTP - ĐHBKHN Luận văn thạc sỹ khoa học - Một liên kết trung gian cộng hóa trị glycosyl xuất hiện giữa enzyme với cacbonhydrat này trong đó cấu hình anomeric của đường tham gia liên kết này đối lập với đường của cơ chất. Các tương tác không phải cộng hóa trị được tạo ra với tỷ lệ tăng lên [3].8: Cơ chế thủy phân xylan của 1XNB a) Cơ chất xylan được gắn vào vị trí lõm tạo thành giữa tyr65 và tyr69.