Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Những vấn đề chung về đất nông nghiệp và sử dụng đất nông nghiệp 1. Khái quát về đất nông nghiệp Đất là vật thể thiên nhiên, hình thành lâu đời do kết quả quá trình tổng hợp lâu dài gồm 5 yếu tố: đá, thực vật, động vật, khí hậu, địa hình và thời gian. Đất là lớp bề mặt trái đất, có khả năng cho sản phẩm cây trồng nuôi sống con người.
Mọi hoạt động của con người đều gắn liền với bề mặt đó theo thời gian và không gian nhất định. Đất đai còn là nguồn của cải, là tài sản cố định, là thước đo tiềm lực của mỗi quốc gia. Theo quan điểm của đánh giá đất thì đất đai được định nghĩa là một vùng đất mà đặc tính của nó được xem như bao gồm các đặc trưng tự nhiên quyết định đến khả năng khai thác được hay không mà ở mức độ nào của vùng đó. Thuộc tính của đất bao gồm khí hậu, thổ nhưỡng, lớp địa chất bên dưới, thuỷ văn, động vật, thực vật và những tác động trong quá khứ cũng như hiện tại của con người (FAO, 1976) [27].
Theo quan điểm của các nhà kinh tế, thổ nhưỡng và quy hoạch Việt Nam cho rằng “Đất là phần trên mặt của vỏ trái đất mà ở đó cây cối có thể mọc được” và đất được hiểu theo nghĩa rộng như sau: “Đất đai là một diện tích cụ thể của bề mặt trái đất bao gồm các cấu thành của môi trường sinh thái ngay bên trên và dưới bề mặt đó như: khí hậu thời tiết, thổ nhưỡng, địa hình, mặt nước (hồ, sông suối…), các dạng trầm tích sát bề mặt cùng với nước ngầm và khoáng sản trong lòng đất, tập đoàn thực vật, trạng thái định cư của con người, những kết quả nghiên cứu trong quá khứ và hiện tại để lại” (Bùi Quang Toản, 1980) [21]. Như vậy, có rất nhiều khái niệm, định nghĩa khác nhau về đất, có khái niệm phản ánh quá trình phát sinh hình thành đất, có khái niệm nêu lên mối quan n 5 hệ giữa đất và cây trồng và các ngành sản xuất, nhưng nhìn chung có thể hiểu: đất đai là một khoảng không gian có giới hạn gồm: khí hậu, lớp đất bề mặt, thảm thực vật, động vật, diện tích mặt nước, nước ngầm và khoáng sản trong lòng đất. Trên bề mặt đất đai là sự kết hợp giữa các yếu tố thổ nhưỡng, địa hình, thuỷ văn, thảm thực vật cùng với các thành phần khác có vai trò quan trọng và ý nghĩa to lớn đối với hoạt động sản xuất và cuộc sống của xã hội loài người. Đất nông nghiệp là đất được xác định sử dụng vào mục đích chủ yếu là sản xuất nông nghiệp như trồng các loại cây hàng năm và lâu năm, làm đồng cỏ chăn nuôi; nuôi trồng thuỷ sản; làm muối và đất nông nghiệp có rừng.
Theo Khoản 1 Điều 13 Luật Đất đai 2003, nhóm đất nông nghiệp bao gồm 8 loại sau: (1) Đất trồng cây hàng năm gồm đất trồng lúa, đất đồng cỏ dùng vào chăn nuôi, đất trồng cây hàng năm khác; (2) Đất trồng cây lâu năm; (3) Đất rừng sản xuất; (4) Đất rừng phòng hộ; (5) Đất rừng đặc dụng; (6) Đất nuôi trồng thuỷ sản; (7) Đất làm muối; (8) Đất nông nghiệp khác theo quy định của Chính phủ (Tổng cục Quản lý đất đai, 2009) [22]. Theo Điều 6 Nghị định 181/2004/NĐ-CP, nhóm đất nông nghiệp thành 5 loại như sau: đất sản xuất nông nghiệp bao gồm đất trồng cây hàng năm, đất trồng cây lâu năm. Đất trồng cây hàng năm bao gồm đất trồng lúa, đất đồng cỏ dùng vào chăn nuôi, đất trồng cây hàng năm khác; đất lâm nghiệp bao gồm đất rừng sản xuất, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng; đất nuôi trồng thuỷ sản; đất làm muối; đất nông nghiệp khác (Tổng cục Quản lý đất đai, 2009) [22]. Nguyên tắc sử dụng đất nông nghiệp Đất đai là nguồn tài nguyên có hạn trong khi đó nhu cầu của con người được lấy từ đất ngày càng tăng, mặt khác đất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp do bị trưng dụng sang các mục đích khác.
Vì vậy, sử dụng đất nông nghiệp ở nước ta với mục tiêu nâng cao hiệu quả kinh tế xã hội trên cơ sở đảm bảo an ninh lương thực, thực phẩm, tăng cường nguyên liệu cho công n 6 nghiệp và hướng tới xuất khẩu. Sử dụng đất nông nghiệp trong sản xuất nông nghiệp trên cơ sở cân nhắc những mục tiêu phát triển kinh tế xã hội, tận dụng được tối đa lợi thế so sánh về điều kiện sinh thái và không làm ảnh hưởng xấu đến môi trường là những nguyên tắc cơ bản và cần thiết để đảm bảo cho khai thác sử dụng bền vững tài nguyên đất đai. Do đó, đất nông nghiệp cần được sử dụng theo nguyên tắc "đầy đủ và hợp lý". Mặt khác, phải có các quan điểm đúng đắn theo xu hướng tiến bộ phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh cụ thể, làm cơ sở thực hiện sử dụng đất nông nghiệp có hiệu quả kinh tế xã hội cao (Đào Châu Thu và Nguyễn Khang (1998) [23].
Tình hình sử dụng đất nông nghiệp trên Thế giới và ở Việt Nam 1. Tình hình sử dụng đất nông nghiệp trên Thế giới Sự tồn tại và hưng thịnh của loài người gắn liền với hoạt động nông nghiệp vì hoạt động kinh tế đầu tiên của con người là những hoạt động nhằm thoả mãn những nhu cầu căn bản nhất là ăn, uống trước khi nghĩ đến các hoạt động kinh tế khác. Con người có thể sống mà không có điện, xe máy, ô tô. nhưng không thể sống thiếu lương thực.
Hiện nay, trên thế giới có tới gần 800 triệu người không có đủ lương thực, 1,3 tỷ người sống trong cảnh nghèo khổ và gần 17 triệu người chết hàng năm vì các loại bệnh tật do mức sống quá thấp. Vì vậy xoá đói, giảm nghèo, đảm bảo an ninh lương thực là một trong những chiến lược quan trọng trong phát triển kinh tế. Hiện nay trên thế giới có khoảng 3,3 tỷ ha đất nông nghiệp, trong đó đã khai thác được 1,5 tỷ ha, còn lại phần đa là đất xấu, sản xuất nông nghiệp gặp nhiều khó khăn. Qui mô đất nông nghiệp được phân bố như sau: châu Mỹ chiếm 35%, Châu Á chiếm 26%, châu Âu chiếm 13%, châu Phi chiếm 20%, châu Đại Dương chiếm 6%.
Như vậy, châu Á và châu Phi có tiềm năng đất nông nghiệp lớn nhất. Bình quân đất nông nghiệp trên đầu người trên toàn thế giới là 12. Tình hình sử dụng đất nông nghiệp ở Việt Nam Việt Nam là một nước nông nghiệp với diện tích tự nhiên là 33.100 ha, thuộc loại trung bình trên thế giới. Trong đó, diện tích nhóm đất nông nghiệp là 25.1 Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp của Việt Nam năm 2010 Diện tích Tỷ lệ Loại đất (1.000 ha) (%) Tổng diện tích đất nông nghiệp 25.127,3 100 1 Đất sản xuất nông nghiệp 9.1 Đất trồng cây hàng năm 6.2 Đất cỏ dùng vào chăn nuôi 58,8 0,23 1.3 Đất trồng cây hàng năm khác 2.2 Đất trồng cây lâu năm 3.316,3 13,20 2 Đất lâm nghiệp 14.1 Rừng sản xuất 6.2 Rừng phòng hộ 6.3 Rừng đặc dụng 2.054,7 8,18 3 Đất nuôi trồng thuỷ sản 738,4 2,94 4 Đất làm muối 14,1 0,06 5 Đất nông nghiệp khác 18,2 0,07 (Nguồn: Tổng cục Thống kê, 2011) Theo Tổng cục Thống kê năm 2011, dân số nước ta năm 2010 có 86.927,9 nghìn người, đứng thứ 12 trên thế giới.
Do đó, diện tích đất tự nhiên trên đầu người rất thấp chỉ bằng 1/7 mức trung bình thế giới. Theo thống kê, bình quân diện tích đất tự nhiên trên đầu người trên thế giới là 3,0 ha, còn ở Việt Nam chỉ có 0,38 ha. Trong khi đó, dân số nông thôn hoạt động trong lĩnh n 8 vực sản xuất nông nghiệp chiếm tới 80% dân số, bình quân đất nông nghiệp trên đầu người chỉ có khoảng 0,12 ha. Hiện nay, nước ta vẫn đang thuộc nhóm 40 nước có nền kinh tế kém phát triển, vì vậy đặc điểm hạn chế về đất đai càng thể hiện rõ và đòi hỏi việc sử dụng đất đai phải dựa trên những cơ sở khoa học, vì vậy chúng ta cần đón trước những tiến bộ khoa học kỹ thuật để sử dụng đất đai một cách hết sức tiết kiệm nhất là đối với đất trồng lúa nước nhằm bảo vệ và khai thác sử dụng thật tốt quỹ đất nông nghiệp.
Việc giao đất cho các hộ gia đình sản xuất ổn định lâu dài cùng với các chính sách khuyến nông và sự đầu tư về cơ sở vật chất, khoa học kỹ thuật cho nông nghiệp trong thời gian gần đây đã góp phần tạo động lực thúc đẩy nông nghiệp phát triển và đạt được những thành tựu lớn. Nhìn chung việc sử đất nông nghiệp của cả nước trong những năm qua đã có sự tiến bộ đáng kể, phù hợp với nền kinh tế thị trường. Các nhóm cây trồng 1 vụ có hiệu quả kinh tế thấp dần được thay thế bằng các cơ cấu cây trồng luân canh từ 2-3 vụ /năm và các cây lâu năm có tốc độ che phủ rộng, hiệu quả kinh tế cao. Hệ số sử dụng đất tăng nhanh so với các thời kỳ trước.
Quan điểm sử dụng đất nông nghiệp bền vững Đất đai là nguồn tài nguyên thiên nhiên đặc biệt không có khả năng tái tạo được với sức ép của việc gia tăng dân số, đất đai ngày càng bị tàn phá mạnh mẽ, dẫn đến đất trồng trọt bị thái hoá, sa mạc hoá ngày càng tăng. Nhiều trường hợp sử dụng đất một cách tuỳ tiện đã dẫn đến sản xuất không thành công. Phát triển nông nghiệp bền vững chiếm vị trí quan trọng nhiều khi có tính quyết định trong sự phát triển chung của xã hội. Khái niệm về phát triển nông nghiệp bền vững trong sự phát triển của xã hội loài người mới chỉ hình thành rõ nét trong những năm 1990 qua các hội thảo và ấn phẩm (Singh và cs, 1990).
Điều cơ bản nhất của nông nghiệp bền vững là cải thiện chất lượng n 9 cuộc sống trong sự tiếp cận đúng đắn về môi trường để giữ gìn những tài nguyên cơ bản nhất cho thế hệ mai sau. Theo Mollison và Mia Slay (1994) [2], nông nghiệp bền vững là một hệ thống được thiết kế để chọn môi trường bền vững cho sự sống của con người. Đó là một hệ thống ổn định về mặt sinh thái, có tiềm lực về kinh tế, có khả năng thoả mãn những nhu cầu của con người mà không bóc lột đất đai, không làm ô nhiễm môi trường.