MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài Ngày nay, nhu cầu chăm sóc sức khoẻ của ngƣời dân đang là nhu cầu cần thiết của cuộc sống. Cùng với sự phát triển của ngành y tế, các dịch vụ y tế đã đáp ứng tƣơng đối đầy đủ các nhu cầu chăm sóc sức khoẻ của ngƣời dân. Tuy vậy, một bộ phận không nhỏ ngƣời dân vẫn chƣa có điều kiện tiếp cận các dịch vụ y tế, một phần do thu nhập thấp, giá thuốc đắt, đồng thời kinh phí cho việc phát triển các dịch vụ y tế cộng đồng còn hạn chế. Để khắc phục tình trạng trên việc tìm hiểu, nghiên cứu ra các phƣơng thuốc hiệu quả phù hợp về mặt kinh tế là rất cấp thiết.
Các phƣơng thuốc tây tuy cho hiệu quả nhanh nhƣng giá cả đắt đỏ, vì vậy việc phát triển các phƣơng thuốc cổ truyền là hƣớng phát triển đúng đắn của ngành y học nƣớc nhà.Cây dƣợc liệu là những loài thực vật có tác dụng dùng để chữa bệnh hoặc bồi bổ cơ thể khi con ngƣời sữ dụng.Việc sử dụng thuốc trong nhân dân đã có từ lâu đời, con ngƣời không chỉ biết lợi dụng tính chất của cây cỏ để làm thức ăn mà còn làm thuốc chữa bệnh. Xét về tiềm năng và kinh nghiệm thì thuốc cổ truyền của nƣớc ta có thế mạnh để phát triển. Tuy nhiên hiện nay chúng ta đang ở trong tình trạng ngồi trên đống thuốc mà vẫn mắc bệnh. Vấn đề là cần mở rộng phát triển các phƣơng thuốc cổ truyền một cách hiệu quả, triển khai và sử dụng cây thuốc một cách bền vững chƣa đƣợc quan tâm đầy đủ.
Trong những thập kỷ gần đây, sự gia tăng dân số quá nhanh, nhu cầu sử dụng cây thuốc càng nhiều, dẫn đến nhiều loài cây thuốc nhất là những cây quý hiếm đã bị tuyệt chủng,60000 loài có thể gặp rủi ro hoặc sự tồn tại là rất mong manh.Vì vậy song song với việc nghiên cứu về sử dụng cây thuốc, một số vấn đề cấp bách đó là bảo tồn các loài cây thuốc cũng đƣợc đặt ra. Đặc biệt là công tác đánh giá nguồn tài h 2 nguyên cây dƣợc liệu chiếm một vị trí quan trọng trong chiến lƣợc phát triển thuốc đông y. Để phát huy truyền thống văn hoá tốt đẹp cũng nhƣ góp phần bảo tồn đa dạng sinh vật, bảo tồn nguồn gen, bảo tồn những kinh nghiệm phong phú và quý báu của đồng bào dân tộc, bên cạnh đó thì việc kiểm kê, bổ sung và hệ thống hoá nguồn tài nguyên cây thuốc là việc làm cần thiết nhằm sử dụng một cách khoa học và có hiệu quả trong tƣơng lai. Xét về tiềm năng thì cây dƣợc liệu Ban lá dính là một trong những loại cây dƣợc liệu quý hiếm có giá trị kinh tế cao và có nhiều công dụng đƣợc sử dụng nhiều trong y học.
Tuy nhiên, đây là loài cây dại rất khó xác định thời gian sinh trƣởng và rất khó trồng. Hiện nay, tại hợp tác xã (HTX) Đông Nam Dƣợc xã Hà Vị, huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn đang cho tiến hành nghiên cứu, trồng và bảo tồn một số loại cây dƣợc liệu quý hiếm nhƣ: Hà thủ ô đỏ, Đẳng sâm, Ba kích…và thực hiện trồng thử nghiệm cây dƣợc liệu Ban lá dính nhằm mục đích duy trì và bảo tồn nguồn cây dƣợc liệu quý hiếm phục vụ cho y học bản địa. Từ những vấn đề trên tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Đánh giá hiệu quả bước đầu trồng cây dược liệu Ban lá dính tại hợp tác xã Đông Nam Dược xã Hà Vị,huyện Bạch Thông,tỉnh Bắc Kạn”.Mục tiêu của đề tài 1.Mục tiêu chung Đánh giá đƣợc hiệu quả kinh tế, mức độ thành công của việc trồng cây dƣợc liệu Ban lá dính, xác định những thuận lợi và khó khăn làm cơ sở đề xuất các giải pháp nâng cao hiểu quả việc trồng và bảo tồn cây dƣợc liệu Ban lá dính tại HTX Đông Nam Dƣợc xã Hà Vị,huyện Bạch Thông,tỉnh Bắc Kạn.Mục tiêu cụ thể - Đánh giá hiệu quả kinh tế trồng cây dƣợc liệu Ban lá dính tại HTX Đông Nam Dƣợc. h 3 - Đánh giá đƣợc những điều kiện thuân lợi và khó khăn trong quá trình trồng cây dƣợc liệu Ban lá dính tại HTX Đông Nam Dƣợc.
- Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả việc trồng và bảo tồn cây dƣợc liệu nói chung và cây Ban lá dính nói riêng tại HTX Đông Nam Dƣợc xã Hà Vị, huyện Bạch Thông,tỉnh Bắc Kạn.Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài 1.Ý nghĩa khoa học Kết quả của đề tài là sự đánh giá khái quát về hiệu quả sản xuất cây dƣợc liệu quý Ban lá dính Tại HTX Đông Nam Dƣợc, làm cơ sở cho việc trồng và bảo tồn các loại cây dƣợc liệu quý hiếm phục vụ cho y học nƣớc nhà.Ý nghĩa thực tiễn Kết quả của đề tàicó ý nghĩa quan trọng cho khai thác và bảo tồn nguồn cây dƣợc liệu quý hiếm cho y học bản địa. Kết quả nghiên cứu góp phần đảm bảo sản xuất vùng nguyên liệu và đóng góp cho phát triển bền vững kinh tế xã hội vùng núi Việt Nam. h 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.Khái niệm cây dược liệu Theo Vũ Tuấn Minh (2009) [8]. Cây dƣợc liệu là những loài thực vật có tác dụng dùng để chữa bệnh hoặc bồi bổ cơ thể khi con ngƣời sử dụng.
Việc dùng thuốc trong nhân dân ta đã có từ lâu đời. Từ thời nguyên thuỷ, tổ tiên chúng ta trong lúc tìm kiếm thức ăn, có khi ăn phải chất độc phát sinh nôn mửa hoặc rối loạn tiêu hoá, hoặc hôn mê có khi chết ngƣời, do đó cần có nhận thức phân biệt đƣợc loại nào ăn đƣợc, loại nào có độc không ăn đƣợc. Kinh nghiệm dần dần tích lũy, không những giúp cho loài ngƣời biết lợi dụng tính chất của cây cỏ để làm thức ăn mà còn dùng để dùng làm thuốc chữa bệnh, hay dùng những vị có chất độc để chế tên thuốc độc dùng trong săn bắn hay trong lúc tự vệ chống ngoại xâm. Lịch sử nƣớc ta cho biết ngay từ khi lập nƣớc nhân dân ta đã biết chế tạo và sử dụng tên độc để chống lại kẻ thù.
Nhƣ vậy, việc phát minh ra thuốc đã có từ thời thƣợng cổ, trong quá trình đấu tranh với thiên nhiên, tìm tòi thức ăn mà có đƣợc. Nguồn gốc tìm ra thức ăn, thuốc và cây có chất độc chỉ là một. Về sau dần dần con ngƣời mới biết tổng kết và đặt ra lý luận. Hiện nay đi sâu và tìm hiểu những kinh nghiệm trong nhân dân Việt Nam cũng nhƣ nhiều dân tộc khác trên thế giới, con ngƣời đã sử dụng hàng vạn loài thực vật để làm thuốc.
Trong quá trình chữa bệnh bằng kinh nghiệm và hiểu biết của con ngƣời, đến ngày nay đã hình thành các khuynh hƣớng khác nhau, chúng ta có thể phân biệt hai loại ngƣời làm thuốc. Một loại chỉ có kinh nghiệm chữ a bệnh, không biết hoặc ít biết lý luận. Kinh nghiệm đó cứ cha truyền con nối mà tồn tại, mà phát huy. Những h 5 ngƣời có khuynh hƣớng này chiếm chủ yếu tại các vùng dân tộc ít ngƣời.
Khuynh hƣớng thứ hai là những ngƣời có kinh nghiệm và có thêm phần lí luận, những ngƣời này chiếm chủ yếu ở thành thị và những ngƣời có cơ sở lí luận cho rằng vị Thần Nông là ngƣời phát minh ra thuốc. Truyền thuyết kể rằng: “Một ngày ông nếm 100 loài cây cỏ để tìm thuốc, ông đã gặp phải rất nhiều loài cây có độc nên có khi một ngày ngộ độc đến 70 lần”, rồi soạn ra sách thuốc đầu tiên gọi là “Thần Nông bản thảo”. Trong bộ này có ghi chép tất cả 365 vị thuốc và là bộ sách thuốc cổ nhất Đông Y (chừng 4000 năm nay). Vai trò của cây dược liệu Thuốc phòng bệnh và chữa bệnh hầu hết đƣợc điều trị từ hai nguồn dƣợc liệu và hóa dƣợc.
Riêng thảo dƣợc, theo thống kê của tổ chức y tế thế giới con số lên đến 20. Không chỉ ở các nƣớc Đông Nam Á mà các nƣớc phƣơng Tây cũng tiêu thụ một lƣợng rất lớn dƣợc liệu. Ngƣời ta thống kê thấy rằng ở các nƣớc có nền công nghiệp phát triển thì ¼ số thuốc thống kê trong các đơn thuốc đều có chữa hoạt chất từ thảo mộc, chỉ riêng ở Mỹ nắm 1980 giá trị số thuốc đo lên đến 8 tỉ USD. Trong những năm gần đây xu hƣớng trên thế giới dung thuốc thảo mộc tự nhiên( không tách hóa chất) ngày càng nhiều, chỉ tính thị trƣờng Châu Âu cũng lên đến 2,3 tỉ USD, riêng cộng hòa liên bang Đức là 1,7 tỉ USD.
Nhiều loại thuốc đông dƣợc của Trung Quốc đƣợc tiêu thị mạnh ở các nƣớc Châu Âu. Gần đây ta cũng có một số mặt hàng đông dƣợc xuất khẩu có tín nhiệm trên thị trƣờng nƣớc ngoài. Dƣợc liệu là nguồn cung cấp nguyên liệu cho việc bán tổng hợp cho một số hóa dƣợc. Chỉ riêng nhu cầu để bán tổng hợp các thuốc steroid, hàng năm thế giới cần khoảng 100 tấn củ mài có chứa Diosgenin.
Nhiều hoạt chất quan trọng nhƣ quinine, morphin, ajmalin, vincaluecoblastin, emetin, strychnine …đều phải triết ra từ dƣợc liệu mà chƣa có thể đi bằng con đƣờng tổng hợp. Dƣợc liệu còn mở đƣờng cho hóa dƣợc phát triển. h 6 Về mặt kinh tế, nƣớc ta xếp cây thuốc vào lại cây công nghiệp cao cấp cần đƣợc phát triển nhƣ những cây công nghiệp khác. Đối với nƣớc ta dƣợc liệu có vị trí quan trọng.
Nƣớc ta nằm trong vùng nhiệt đới, chịu ảnh hƣởng của gió mùa. Nhiệt độ trung bình hàng năm là 25oc, độ ẩm khá cao tạo điều kiện cho cây cối phát triển. Diện tích rừng chiếm 2/3 diện tích đất. Hệ thực vật rất đa dạng và phong phú, cả nƣớc có khoảng 20.000 loài trong đó có trên 1000 loài cây thuốc nƣớc ta lại có một sô vùng có độ cao trên 1.000 m nhƣ SaPa, Đà Lạt nên thuận lợi cho việc di nhập một số cây nhƣ artichaut, dƣơng địa hoàng… Nƣớc ta lại có đƣởng bờ biển trên 3.200 km chạy từ Bắc vào Nam nên có nhiều hải sản quý hiếm dùng làm thuốc.
Nếu chúng ta biết cách khai thác và nuôi trồng một cách hợp lý thì sẽ có nhiều đóng góp cho ngành dƣợc nƣớc ta. Dân tộc ta cũng nhƣ Trung Quốc, Đài Loan, Nhật và một số nƣớc Đông Nam Á khác có truyền thống chữa bệnh theo lối y học cổ truyền từ lâu đời, đòi hỏi cung cấp một số lƣợng lớn về dƣợc liệu. trong những năm gần đây lƣợng thuốc bắc của chúng ta nhập từ Trung Quốc khá nhiều, nếu có kế hoạch đẩy mạnh việc trồng trọt và di thực thêm các cây thuốc của Trung Quốc thì sẽ hạn chế đƣợc sự lệ thuộc.