Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Đất đai là nguồn tài nguyên thiên nhiên có hạn, là tư liệu sản xuất đặc biệt không thể thay thế trong sản xuất nông nghiệp. Dưới sức ép của quá trình gia tăng dân số và đô thị hóa, diện tích đất nông nghiệp tại Việt Nam có xu hướng thu hẹp dần trong khi nhu cầu về lương thực, thực phẩm không ngừng tăng cao. Thực tế này đòi hỏi việc khai thác tài nguyên đất phải đảm bảo tính hiệu quả và bền vững theo quan điểm sinh thái.
Xã Sơn Điện là xã vùng cao biên giới nằm ở phía Tây huyện Quan Sơn, tỉnh Thanh Hóa, tiếp giáp với nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào (có đường biên giới tại bản Xa Mang). Địa bàn xã cách trung tâm huyện 27 km và cách thành phố Thanh Hóa 182 km về phía Tây, với tổng diện tích tự nhiên là 9.448,79 ha phân bố trên 11 bản làng. Đây là địa bàn thuộc diện xã nghèo đặc biệt khó khăn, địa hình vùng núi hiểm trở bị chia cắt mạnh bởi hệ thống sông Luồng và sông Lò, độ dốc trung bình từ 35 đến 40 độ. Khí hậu có sự phân hóa mùa rõ rệt, thường xuyên chịu ảnh hưởng của lũ quét, lũ ống và sạt lở vào mùa mưa, cùng với khô hạn, sương muối vào mùa đông.
Trong công tác quản lý và khai thác đất đai, xã Sơn Điện còn bộc lộ nhiều điểm hạn chế: chưa khoanh định được diện tích đất trồng lúa cần bảo vệ nghiêm ngặt; việc bảo vệ rừng phòng hộ và rừng đặc dụng chưa triệt để; chuyển dịch cơ cấu cây trồng sang sản xuất hàng hóa diễn ra chậm; tập quán canh tác của người dân còn mang tính tự cấp tự túc; diện tích đất sản xuất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp do chuyển đổi mục đích sử dụng. Do đó, việc nghiên cứu đánh giá hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp là yêu cầu cấp thiết để phục vụ công tác bố trí cây trồng và lập quy hoạch phát triển kinh tế địa phương.
Mục tiêu tổng quát của đề tài là đánh giá hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp, từ đó lựa chọn loại hình sử dụng đất đạt hiệu quả cao phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của xã Sơn Điện, huyện Quan Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
Khóa luận xác định 4 mục tiêu cụ thể:
- Đánh giá những thuận lợi và khó khăn của điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội tác động đến sản xuất nông nghiệp của xã.
- Đánh giá hiện trạng và xác định các loại hình sử dụng đất sản xuất nông nghiệp của xã.
- Lựa chọn loại hình sử dụng đất sản xuất nông nghiệp cho xã.
- Đề xuất loại hình sử dụng đất sản xuất nông nghiệp và giải pháp phát triển phù hợp cho sản xuất nông nghiệp tại xã Sơn Điện, huyện Quan Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là các loại hình sử dụng đất nông nghiệp và hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp. Phạm vi nghiên cứu giới hạn trong các loại hình sử dụng đất sản xuất nông nghiệp trên địa bàn xã Sơn Điện. Quá trình thu thập dữ liệu và điều tra thực địa được thực hiện từ ngày 17/08/2015 đến ngày 29/11/2015 tại Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Quan Sơn và Ủy ban nhân dân xã Sơn Điện.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận tiếp cận vấn đề dựa trên các luận điểm lý thuyết về thổ nhưỡng, quy hoạch đất đai và kinh tế nông nghiệp:
- Khái niệm về đất và thổ nhưỡng của V. V. Dokuchaev xem đất là một vật thể tự nhiên hình thành do sự tương tác tổng hợp của 5 yếu tố: khí hậu, đá mẹ, địa hình, sinh vật và thời gian; quan điểm của C. Mác (1949) về đất là tư liệu sản xuất cơ bản và phổ biến của nông nghiệp; các quy định pháp lý trong Luật Đất đai năm 1993 và Luật Đất đai năm 2003 về phân định đất nông nghiệp và đất sản xuất nông nghiệp.
- Khái niệm về loại hình sử dụng đất (Land Use Type - LUT) theo Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp Quốc (FAO), mô tả thực trạng canh tác gắn liền với phương thức quản lý, đầu tư kỹ thuật và điều kiện kinh tế - xã hội cụ thể. Hệ thống phân loại thổ nhưỡng theo FAO-UNESCO áp dụng để nhận diện các nhóm đất tại địa bàn gồm: nhóm đất Feralit trên núi (Fa, Fq, Fv), đất mùn Halit núi cao (Ha, Hq), đất Feralit biến đổi do trồng lúa (Fl), đất phù sa bồi tụ ven sông suối (Py) và đất dốc tụ chân đồi (D).
- Khung đánh giá hiệu quả sử dụng đất bền vững gồm 3 trụ cột: hiệu quả kinh tế (Lương Văn Hinh và cộng sự, 2003), hiệu quả xã hội (Nguyễn Duy Tính, 1995) và hiệu quả môi trường (Đỗ Nguyên Hải, 1999).
Phương pháp nghiên cứu được triển khai kết hợp giữa thu thập dữ liệu thứ cấp và điều tra thực nghiệm sơ cấp:
- Phương pháp điều tra số liệu thứ cấp: Thu thập các tài liệu thống kê, báo cáo hiện trạng sử dụng đất, báo cáo tổng kết tình hình kinh tế - xã hội giai đoạn 2013 - 2014 từ Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Quan Sơn và UBND xã Sơn Điện.
- Phương pháp điều tra số liệu sơ cấp: Sử dụng công cụ Đánh giá nhanh nông thôn (RRA) thông qua quan sát thực địa, phỏng vấn cán bộ địa phương; kết hợp điều tra ngẫu nhiên bằng bảng hỏi (phiếu phỏng vấn nông hộ) đối với 30 hộ dân tại 6 bản đại diện (bản Ngàm, Tân Sơn, Na Hồ, Na Ngựu, Na Lộc, Xa Mang) theo các nhóm thu nhập khác nhau.
- Phương pháp tính toán hiệu quả kinh tế: Quy đổi trên đơn vị diện tích 1 ha/năm qua các chỉ tiêu:
- Tổng giá trị sản phẩm (T): $T = p \times q$ ($p$ là năng suất sản phẩm/ha/năm, $q$ là đơn giá thị trường tại thời điểm nghiên cứu).
- Chi phí sản xuất ($C_{sx}$): Gồm toàn bộ chi phí vật chất và chi phí lao động trên 1 ha/năm.
- Thu nhập thuần (N): $N = T - C_{sx}$.
- Hiệu quả đồng vốn ($H_v$): $H_v = T / C_{sx}$.
- Giá trị ngày công lao động (GTNCLĐ): $GTNCLĐ = N / \text{Tổng số ngày công lao động/ha/năm}$.
- Phương pháp đánh giá hiệu quả xã hội và môi trường: Sử dụng phương pháp chuyên gia và điều tra có sự tham gia của người dân địa phương để đánh giá mức độ đảm bảo an ninh lương thực, tạo việc làm, tỷ lệ che phủ và mức độ sử dụng thuốc bảo vệ thực vật (BVTV).
Nội dung chính theo từng phần và chương
Phần 1. Mở đầu
Phần này luận giải tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu trong bối cảnh diện tích đất canh tác bình quân đầu người của Việt Nam suy giảm, đặc biệt tại khu vực miền núi cao chịu nhiều áp lực về thiếu đất sản xuất. Tác giả giới thiệu tổng quan điều kiện địa lý của xã Sơn Điện - địa bàn vùng biên giới khó khăn, nêu bật 4 mục tiêu nghiên cứu cụ thể, xác định đối tượng, phạm vi nghiên cứu tại 11 bản của xã.
Phần 2. Tổng quan tài liệu
Tác giả hệ thống hóa các khái niệm khoa học về đất, đất nông nghiệp và đất sản xuất nông nghiệp; phân tích vai trò của đất đai đối với trồng trọt và chăn nuôi. Chương này điểm luận tình hình sử dụng đất nông nghiệp trên thế giới và tại Việt Nam, viện dẫn số liệu thống kê đất đai toàn quốc năm 2013 (tổng diện tích tự nhiên 33.097,2 nghìn ha, đất nông nghiệp chiếm 79,68% nhưng bình quân đầu người giảm 21,5%). Đồng thời, tác giả trình bày bản chất kinh tế của hiệu quả sử dụng đất, phân tích các nhóm yếu tố tác động (tự nhiên, kỹ thuật canh tác, kinh tế - xã hội) và thiết lập cơ sở lý thuyết để xác định các loại hình sử dụng đất bền vững theo 3 tiêu chí kinh tế, xã hội, môi trường.
Phần 3. Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu
Nội dung chương mô tả chi tiết đối tượng là các LUT sản xuất nông nghiệp tại xã Sơn Điện; xác định khung thời gian thực tập từ ngày 17/08/2015 đến ngày 29/11/2015. Tác giả trình bày phương pháp thu thập số liệu thứ cấp từ cơ quan chuyên môn và quy trình thực hiện phương pháp RRA, điều tra khảo sát 30 phiếu nông hộ tại 6 bản. Các công thức toán học tính toán chỉ tiêu kinh tế ($T$, $C_{sx}$, $N$, $H_v$, GTNCLĐ) và các tiêu chuẩn phân cấp đánh giá hiệu quả (Cao, Trung bình, Thấp) được thiết lập cụ thể làm cơ sở phân tích dữ liệu thực nghiệm.
Phần 4. Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Chương này phản ánh toàn bộ các phát hiện thực địa tại địa bàn nghiên cứu:
- Điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội: Địa hình xã có độ dốc từ 35 - 40 độ; nhiệt độ trung bình năm 23°C; lượng mưa trên 1.900 mm/năm (194 ngày mưa); mạng lưới thủy văn gồm sông Luồng (đoạn qua xã dài 21 km) cùng hơn 30 khe suối và 3 đập ngăn giữ nước nhỏ. Dân số năm 2013 là 4.539 người, tỷ lệ gia tăng tự nhiên 1,432%; cơ cấu dân tộc gồm người Thái (50,0%), Mường (43,0%), Kinh và dân tộc khác (7,0%). Giao thông có 14 km Quốc lộ 217 chạy qua (đạt cấp V và VI rải nhựa), đường nội thôn 15,2 km (8,5 km bê tông). Năm 2014, diện tích gieo trồng đạt 668,59 ha (86,73% kế hoạch), tổng sản lượng lương thực có hạt đạt 2.887,43 tấn (89,23% kế hoạch).
- Hiện trạng sử dụng đất: Năm 2014, đất nông nghiệp của xã chiếm 83,56% (7.895,62 ha), trong đó đất lâm nghiệp chiếm chủ yếu với 7.251,06 ha (91,83% đất nông nghiệp), đất sản xuất nông nghiệp chỉ có 641,86 ha (chiếm 8,13% đất nông nghiệp). Đất phi nông nghiệp là 286,00 ha; đất chưa sử dụng là 1.270,05 ha (chiếm 13,44% diện tích tự nhiên).
- Xác định các loại hình sử dụng đất: Toàn xã có 6 loại hình sử dụng đất (LUT) với 9 kiểu sử dụng đất chính:
- LUT 2 lúa - 1 màu: Lúa xuân - Lúa mùa - Khoai sọ; Lúa xuân - Lúa mùa - Ngô đông.
- LUT 2 lúa: Lúa xuân - Lúa mùa.
- LUT 1 lúa - 1 màu: Đậu tương - Lúa mùa; Khoai sọ - Lúa mùa; Ngô xuân - Lúa mùa.
- LUT 2 màu: Ngô xuân - Ngô đông.
- LUT 1 lúa: Lúa mùa (lúa nương).
- LUT 1 màu: Sắn nguyên liệu.
- Đánh giá hiệu quả các kiểu sử dụng đất:
- Cây trồng đơn lẻ: Khoai sọ đạt thu nhập thuần cao nhất (50.000.000 đồng/ha), kế tiếp là sắn nguyên liệu (18.000.000 đồng/ha) và lúa xuân (18.438.000 đồng/ha); ngô đông có thu nhập thuần thấp nhất (4.000.000 đồng/ha).
- Kiểu sử dụng đất: Kiểu Lúa xuân - Lúa mùa - Khoai sọ đạt tổng giá trị sản phẩm cao nhất với 165.240.000 đồng/ha/năm, hiệu quả đồng vốn đạt 2,12 lần; kiểu Khoai sọ - Lúa mùa đạt 127.802.000 đồng/ha/năm, hiệu quả đồng vốn 2,17 lần; kiểu Sắn nguyên liệu đạt hiệu quả sử dụng vốn cao nhất với 3,04 lần và giá trị ngày công là 223.000 đồng/ngày. Kiểu Ngô xuân - Ngô đông và Ngô xuân - Lúa mùa có hiệu quả kinh tế thấp (giá trị ngày công chỉ đạt 63.000 - 64.000 đồng/ngày).
- Về xã hội và môi trường: Các LUT trồng lúa nước giải quyết an ninh lương thực và thu hút lao động; LUT xen canh cây họ đậu và khoai sọ có khả năng bảo vệ, cải tạo đất tốt hơn so với độc canh sắn trên đất dốc.
Phần 5. Kết luận và kiến nghị
Tác giả đúc kết các kết luận chính về tiềm năng đất đai, khẳng định tính hiệu quả vượt trội của công thức luân canh kết hợp lúa và khoai sọ; đề xuất định hướng duy trì diện tích 2 vụ lúa chủ động nước, chuyển đổi đất 1 vụ lúa bấp bênh sang 1 lúa - 1 màu. Tác giả kiến nghị chính quyền địa phương đầu tư hoàn thiện kênh mương thủy lợi, cung ứng vốn vay và mở các lớp tập huấn kỹ thuật canh tác cho đồng bào dân tộc thiểu số.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đã tổng hợp toàn diện cơ cấu sử dụng đất của xã Sơn Điện năm 2014 và lượng hóa hiệu quả kinh tế của 9 kiểu sử dụng đất nông nghiệp tại địa bàn:
| STT |
Loại đất |
Mã đất |
Diện tích (ha) |
Cơ cấu (%) |
| 1 |
Đất nông nghiệp |
NNP |
7.895,62 |
83,56 |
| 1.1 |
Đất sản xuất nông nghiệp |
SXN |
641,86 |
8,13 (so với đất NN) |
| - |
Đất trồng cây hàng năm |
CHN |
511,01 |
79,61 (so với đất SXN) |
| - |
Trong đó: Đất trồng lúa |
LUA |
205,00 |
40,11 (so với đất CHN) |
| - |
Đất trồng cây hàng năm khác |
HNK |
306,01 |
59,88 (so với đất CHN) |
| - |
Đất trồng cây lâu năm |
CLN |
130,85 |
20,39 (so với đất SXN) |
| 1.2 |
Đất lâm nghiệp |
LNP |
7.251,06 |
91,83 (so với đất NN) |
| - |
Đất rừng sản xuất |
RSX |
1.965,09 |
27,10 (so với đất LN) |
| - |
Đất rừng phòng hộ |
RPH |
5.283,27 |
72,86 (so với đất LN) |
| 1.3 |
Đất nuôi trồng thủy sản |
NTS |
2,70 |
0,03 (so với đất NN) |
| 2 |
Đất phi nông nghiệp |
PNN |
286,00 |
3,03 |
| 3 |
Đất chưa sử dụng |
CSD |
1.270,05 |
13,44 |
| - |
Đất đồi núi chưa sử dụng |
DCS |
1.188,80 |
93,60 (so với đất CSD) |
| - |
Đất bằng chưa sử dụng |
BCS |
25,66 |
2,02 (so với đất CSD) |
| - |
Núi đá không có rừng cây |
NCS |
55,59 |
4,37 (so với đất CSD) |
| - |
Tổng diện tích tự nhiên |
- |
9.448,79 |
100,00 |
Nguồn: Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Quan Sơn, 2014.
Hiệu quả kinh tế của các kiểu canh tác qua số liệu điều tra nông hộ được tổng hợp như sau:
| STT |
Kiểu sử dụng đất |
Tổng GTSP (1.000 đ/ha) |
HQSDV (lần) |
Số công LĐ (ngày/ha) |
Giá trị công LĐ (1.000 đ/ngày) |
Mức đánh giá tổng hợp |
| 1 |
Lúa xuân - Lúa mùa - Khoai sọ |
165.240 |
2,12 |
584 |
149 |
Cao |
| 2 |
Khoai sọ - Lúa mùa |
127.802 |
2,17 |
388 |
177 |
Cao |
| 3 |
Lúa xuân - Lúa mùa - Ngô đông |
84.938 |
1,94 |
554 |
73 |
Thấp |
| 4 |
Lúa xuân - Lúa mùa |
73.676 |
1,99 |
332 |
110 |
Cao |
| 5 |
Đậu tương - Lúa mùa |
66.732 |
1,87 |
277 |
110 |
Thấp |
| 6 |
Ngô xuân - Lúa mùa |
48.250 |
1,91 |
360 |
64 |
Thấp |
| 7 |
Sắn nguyên liệu |
27.522 |
3,04 |
83 |
223 |
Cao |
| 8 |
Ngô xuân - Ngô đông |
22.364 |
1,96 |
194 |
63 |
Thấp |
| 9 |
Lúa mùa (lúa nương) |
- |
- |
- |
- |
Thấp |
Nguồn: Tổng hợp từ kết quả điều tra nông hộ của tác giả.
Khóa luận đóng góp nguồn số liệu thực địa chi tiết về sản xuất nông nghiệp tại một xã biên giới vùng cao; chỉ ra vai trò then chốt của cây khoai sọ trong việc nâng cao thu nhập trên diện tích đất 2 vụ lúa và 1 vụ lúa; chứng minh mô hình sắn nguyên liệu có ưu thế về quay vòng vốn và hiệu quả ngày công dù giá trị tổng thể không cao; làm cơ sở khoa học để chính quyền xã chuyển dịch cơ cấu cây trồng, giảm dần diện tích canh tác ngô kém hiệu quả.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận có một số giới hạn thực tiễn được ghi nhận từ văn bản:
- Phạm vi điều tra nông hộ mới thực hiện được trên quy mô 30 hộ tại 6 bản điểm do hạn chế về thời gian thực tập và điều kiện địa hình miền núi đi lại khó khăn.
- Nguồn tài nguyên khoáng sản (mỏ chì, kẽm) trên địa bàn chưa được đánh giá cụ thể do địa phương chưa tiến hành thăm dò xác định trữ lượng.
- Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả môi trường và xã hội chủ yếu dừng lại ở mức độ thu thập định tính qua phỏng vấn người dân và cán bộ, chưa tiến hành lấy mẫu phân tích các chỉ tiêu hóa lý của đất (độ chua pH, dung tích hấp thu, dư lượng hóa chất BVTV).
Hướng nghiên cứu mở rộng:
- Mở rộng phạm vi khảo sát điều tra trên toàn bộ 11 bản của xã Sơn Điện nhằm tăng tính đại diện cho các tiểu vùng sinh thái khác nhau.
- Tiến hành quan trắc diễn biến độ phì nhiêu và tốc độ xói mòn rửa trôi của đất đối với các công thức luân canh có sắn và ngô trên đất dốc.
- Nghiên cứu chuỗi liên kết tiêu thụ sản phẩm hàng hóa đối với cây khoai sọ và sắn nguyên liệu nhằm bảo đảm đầu ra ổn định cho người sản xuất.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho:
- Sinh viên và học viên chuyên ngành Quản lý đất đai, Địa chính môi trường, Quản lý tài nguyên thiên nhiên tham khảo về phương pháp xây dựng khung đánh giá hiệu quả sử dụng đất (LUT) tại địa bàn cấp xã.
- Cán bộ làm công tác địa chính, nông nghiệp tại UBND xã Sơn Điện và Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Quan Sơn sử dụng làm tài liệu thực tế phục vụ lập kế hoạch sử dụng đất hàng năm và định hướng cơ cấu cây trồng.
- Phần đáng tham khảo nhất là quy trình kết hợp công cụ RRA với phiếu phỏng vấn nông hộ để tính toán các chỉ tiêu hiệu quả kinh tế lượng hóa ($T$, $C_{sx}$, $N$, $H_v$, GTNCLĐ) trên từng công thức canh tác vùng núi cao.
Câu hỏi thường gặp
1. Tỷ lệ đất sản xuất nông nghiệp chiếm bao nhiêu phần trăm trong quỹ đất của xã Sơn Điện?
Theo số liệu năm 2014 của Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Quan Sơn, tổng diện tích đất tự nhiên của xã là 9.448,79 ha; trong đó đất nông nghiệp chiếm 7.895,62 ha (83,56%). Tuy nhiên, đất lâm nghiệp chiếm tới 7.251,06 ha (91,83% đất nông nghiệp), nên đất sản xuất nông nghiệp thực tế chỉ có 641,86 ha, tương đương 8,13% diện tích đất nông nghiệp và 6,79% tổng diện tích đất tự nhiên của xã.
2. Địa bàn xã Sơn Điện có bao nhiêu loại hình và kiểu sử dụng đất nông nghiệp chính?
Tác giả đã xác định được 6 loại hình sử dụng đất (LUT) với 9 kiểu sử dụng đất, bao gồm: LUT 2 lúa - 1 màu (2 kiểu), LUT 2 lúa (1 kiểu), LUT 1 lúa - 1 màu (3 kiểu), LUT 2 màu (1 kiểu), LUT 1 lúa (1 kiểu) và LUT 1 màu (1 kiểu).
3. Kiểu sử dụng đất nào đạt giá trị sản xuất và thu nhập cao nhất tại địa phương?
Kiểu sử dụng đất Lúa xuân - Lúa mùa - Khoai sọ đạt tổng giá trị sản phẩm cao nhất là 165.240.000 đồng/ha/năm, với hiệu quả sử dụng vốn đạt 2,12 lần và giá trị ngày công lao động đạt 149.000 đồng/ngày. Riêng cây khoai sọ là cây trồng có thu nhập thuần cao nhất trong số các cây trồng đơn lẻ, đạt 50.000.000 đồng/ha.
4. Vì sao mô hình trồng sắn nguyên liệu lại có hiệu quả sử dụng vốn cao nhất?
Mặc dù sắn nguyên liệu có tổng giá trị sản phẩm thấp (27.522.000 đồng/ha), nhưng loại cây này đòi hỏi chi phí đầu tư phân bón, giống và ngày công lao động rất thấp (chỉ 83 công lao động/ha). Do chi phí sản xuất thấp, tỷ số giữa tổng thu và chi phí ($H_v$) đạt mức 3,04 lần - cao nhất trong toàn bộ 9 kiểu sử dụng đất được khảo sát.
5. Cơ cấu dân tộc của xã Sơn Điện phân bố như thế nào và ảnh hưởng gì đến sản xuất?
Dân số xã năm 2013 có 4.539 người thuộc 3 dân tộc chính: người Thái chiếm 50,0% (2.270 người), người Mường chiếm 43,0% (1.952 người), người Kinh và các dân tộc khác chiếm 7,0% (317 người). Lực lượng lao động nông nghiệp dồi dào nhưng tập quán canh tác truyền thống còn mang nặng tính tự cung tự cấp, thiếu kiến thức kỹ thuật và nguồn vốn đầu tư, dẫn đến tình trạng chuyển dịch cơ cấu cây trồng diễn ra chậm.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Dương Thị Trang đã phản ánh cụ thể thực trạng khai thác đất sản xuất nông nghiệp tại xã vùng cao biên giới Sơn Điện, huyện Quan Sơn, tỉnh Thanh Hóa năm 2014 - 2015. Bằng phương pháp điều tra nông hộ kết hợp tính toán các chỉ số kinh tế lượng hóa, nghiên cứu đã chứng minh hiệu quả vượt trội của các mô hình luân canh có cây khoai sọ và sắn nguyên liệu so với việc độc canh lúa nương hay trồng ngô truyền thống. Các kết quả và đề xuất trong khóa luận cung cấp luận cứ thực tế phục vụ công tác quy hoạch sử dụng đất và chuyển đổi cơ cấu cây trồng phù hợp với điều kiện sinh thái vùng núi khó khăn.