Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt, giữ vai trò nền tảng không thể thay thế trong sản xuất nông nghiệp. Dưới tác động của sự gia tăng dân số và tiến trình đô thị hóa, quỹ đất nông nghiệp trên thế giới cũng như tại Việt Nam đang đối mặt với nguy cơ thu hẹp diện tích, suy giảm độ màu mỡ và suy thoái tính bền vững sinh thái. Tại khu vực Đồng bằng sông Hồng, quá trình công nghiệp hóa và hình thành các khu đô thị mới đã làm sụt giảm nhanh chóng diện tích đất canh tác bình quân trên đầu người.

Xã Quỳnh Hoàng, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình là địa phương thuần nông ven sông Luộc, đang trong quá trình thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới. Điều kiện kinh tế - xã hội của xã còn gặp nhiều khó khăn, đất đai phân bố không đồng đều giữa các hợp tác xã, sản xuất nông nghiệp chiếm tỷ trọng chủ đạo nhưng việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng còn chậm. Việc thu hẹp diện tích đất sản xuất nông nghiệp gây áp lực trực tiếp lên sinh kế của các hộ nông dân. Xuất phát từ thực tế đó, đề tài khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Đoàn Thị Nụ (ngành Địa chính Môi trường, Khoa Quản lý Tài nguyên, Trường Đại học Nông Lâm – Đại học Thái Nguyên) được triển khai nhằm đánh giá thực trạng và hiệu quả sử dụng đất, từ đó đề xuất phương án tổ chức sản xuất nông nghiệp hợp lý.

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài được xác lập cụ thể như sau:

  • Mục tiêu tổng quát: Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn xã và đề xuất phương hướng sử dụng đất sản xuất nông nghiệp có hiệu quả cao, phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của xã Quỳnh Hoàng, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình.
  • Mục tiêu cụ thể:
    1. Đánh giá các yếu tố về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp giai đoạn 2014 - 2017.
    2. Đánh giá được thực trạng sử dụng của nhóm đất sản xuất nông nghiệp giai đoạn 2014 - 2017.
    3. Đánh giá hiệu quả của các loại hình sử dụng đất.
    4. Lựa chọn được loại hình sử dụng đất có hiệu quả cao.
    5. Đưa ra giải pháp để nâng cao hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp, đề xuất phương án sử dụng đất nông nghiệp giai đoạn 2014 – 2017, tầm nhìn 2020 theo tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới (theo Quyết định 1980/QĐ-TTg).

Đối tượng nghiên cứu là thực trạng sử dụng đất sản xuất nông nghiệp và hiệu quả của các loại hình sử dụng đất (Land Use Type - LUT) tại địa phương. Phạm vi không gian nghiên cứu bao quát toàn bộ ranh giới hành chính xã Quỳnh Hoàng với tổng diện tích tự nhiên 769,04 ha (tọa độ địa lý: 20°41′20″B, 106°17′23″Đ). Phạm vi thời gian nghiên cứu thu thập chuỗi số liệu thứ cấp giai đoạn 2014 - 2016, thời gian điều tra thực địa và khảo sát nông hộ được tiến hành từ ngày 13/02/2017 đến ngày 23/04/2017, với tầm nhìn định hướng quy hoạch đến năm 2020.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận xây dựng cơ sở lý luận dựa trên quan điểm về đất đai của học thuyết kinh tế chính trị Karl Marx, Giáo trình Đất trồng trọt (Đại học Nông nghiệp Hà Nội, 2008), các định nghĩa của Hội Khoa học Đất Việt Nam (2000) và các quy định của Luật Đất đai năm 2013 về phân loại đất nông nghiệp, đất sản xuất nông nghiệp. Về mặt học thuật, đề tài tiếp cận khung đánh giá đất đai của Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp Quốc (FAO, 1976), phân tích hiệu quả sử dụng đất thông qua sự kết hợp của ba khía cạnh:

  • Hiệu quả kinh tế: Tương quan giữa giá trị sản phẩm đầu ra và chi phí đầu tư các nguồn lực đầu vào.
  • Hiệu quả xã hội: Mức độ giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập và cải thiện đời sống nhân thái cho người lao động nông thôn.
  • Hiệu quả môi trường: Mức độ bảo vệ, duy trì độ phì nhiêu của đất, hệ số sử dụng đất và kiểm soát dư lượng hóa chất bảo vệ thực vật.

Hệ thống cơ sở pháp lý của khóa luận bao gồm: Luật Đất đai năm 2013; các Nghị định của Chính phủ ban hành ngày 15/5/2014: Nghị định số 43/2014/NĐ-CP (quy định chi tiết thi hành Luật Đất đai), Nghị định số 44/2014/NĐ-CP (về giá đất), Nghị định số 45/2014/NĐ-CP (thu tiền sử dụng đất), Nghị định số 46/2014/NĐ-CP (thu tiền thuê đất, thuê mặt nước), Nghị định số 47/2014/NĐ-CP (bồi thường, hỗ trợ, tái định cư); Thông tư số 28/2014/TT-BTNMT và Thông tư số 29/2014/TT-BTNMT ngày 02/6/2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường; Quyết định số 1980/QĐ-TTg ngày 17/10/2016 của Thủ tướng Chính phủ về ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới giai đoạn 2016 - 2020; các văn bản quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội và quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 của UBND tỉnh Thái Bình và UBND huyện Quỳnh Phụ.

Phương pháp nghiên cứu thực tế gồm:

  • Phương pháp thu thập tài liệu thứ cấp: Tiếp cận báo cáo thống kê, kiểm kê đất đai, bản đồ hiện trạng sử dụng đất, niên giám thống kê và báo cáo kinh tế - xã hội của UBND xã Quỳnh Hoàng, Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Quỳnh Phụ.
  • Phương pháp thu thập tài liệu sơ cấp: Khảo sát thực địa, phỏng vấn trực tiếp các hộ nông dân tại các thôn/xóm bằng phiếu điều tra nông hộ chuyên sâu nhằm thu thập dữ liệu về cơ cấu cây trồng, suất đầu tư, chi phí vật tư, công lao động và sản lượng tiêu thụ.
  • Phương pháp tổng hợp và xử lý dữ liệu: Sử dụng phần mềm Microsoft Excel 2010 để tính toán, lập bảng biểu thống kê so sánh.
  • Phương pháp tính toán các chỉ tiêu hiệu quả kinh tế:
    • Tổng giá trị sản xuất: $T = \sum (p \times q)$ (trong đó $p$ là năng suất/sản lượng tính trên 1 ha canh tác/năm; $q$ là đơn giá thị trường tại thời điểm thu hoạch).
    • Thu nhập thuần: $N = T - C_{sx}$ (trong đó $C_{sx}$ là chi phí sản xuất trực tiếp gồm chi phí vật chất và chi phí lao động trên 1 ha canh tác/năm).
    • Hiệu quả sử dụng vốn: $H = T / C_{sx}$ (lần).
    • Giá trị ngày công lao động: $\text{GTNCLĐ} = N / \text{Tổng số công lao động/ha/năm}$ (đồng/công).

Nội dung chính theo từng chương

Phần 1: Mở đầu

Tác giả nêu rõ tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ yêu cầu thực tiễn của một xã thuần nông đang trong tiến trình xây dựng nông thôn mới. Phần này xác định hệ thống mục tiêu tổng quát và 5 mục tiêu cụ thể, làm rõ ý nghĩa của đề tài trong việc củng cố phương pháp nghiên cứu quản lý tài nguyên đất cho sinh viên và cung cấp tài liệu định hướng thực tế cho địa phương.

Phần 2: Tổng quan tài liệu

Chương này tổng hợp các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về quản lý và đánh giá đất đai. Tác giả dẫn chứng tài liệu quốc tế về việc thế giới có khoảng 1,5 tỷ ha đất trồng trọt và sức ép lương thực gia tăng (FAO, Buringh), đồng thời phân tích thực trạng sử dụng đất tại Đồng bằng sông Hồng với bình quân đất canh tác chỉ đạt 3.494 $\text{m}^2$/hộ (Nguyễn Văn Khánh, 2012). Tác giả cũng phân loại các nguyên nhân tự nhiên và nhân sinh gây thoái hóa đất, thiết lập khung lý thuyết đánh giá hiệu quả ba mặt kinh tế, xã hội và môi trường.

Phần 3: Đối tượng, nội dung, phương pháp nghiên cứu

Xác định không gian nghiên cứu tại xã Quỳnh Hoàng, huyện Quỳnh Phụ; thời gian khảo sát thực tế diễn ra trong 2 tháng (tháng 2 đến tháng 4 năm 2017). Thiết lập 6 nội dung nghiên cứu gắn liền với việc phân tích điều kiện tự nhiên, hiện trạng sử dụng đất, phân loại loại hình sử dụng đất, tính toán hiệu quả và xây dựng giải pháp quy hoạch. Quy định chi tiết phương pháp điều tra mẫu hộ nông dân và công thức hạch toán kinh tế nông nghiệp.

Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Đây là chương trọng tâm chứa đựng toàn bộ các phát hiện định lượng:

  • Đặc điểm tự nhiên và kinh tế - xã hội: Địa hình xã dốc nhẹ dưới 1%/km theo hướng Bắc - Đông Nam. Đất đai gồm đất phù sa (phù sa bồi và không bồi) và đất phèn (pH KCl từ 2,8 đến 3,5; tầng sinh phèn cách mặt đất 25 - 26 cm). Năm 2016, toàn xã có 3.325 hộ với 10.686 nhân khẩu và 7.471 lao động.
  • Hiện trạng đất đai năm 2016: Tổng diện tích 769,04 ha; trong đó đất nông nghiệp chiếm 541,27 ha (70,38%), đất phi nông nghiệp chiếm 226,69 ha (29,47%), đất chưa sử dụng là 1,09 ha (0,14%). Trong đất nông nghiệp, diện tích sản xuất nông nghiệp là 479,49 ha (chiếm 88,58% đất nông nghiệp), với đất trồng lúa là 358,78 ha. Biến động 2015 - 2016 ghi nhận đất nông nghiệp tăng nhẹ 0,83 ha do chuyển đổi nội bộ từ đất phi nông nghiệp.
  • Xác định và phân tích các LUT: Xác định được 4 nhóm loại hình chính đối với cây hàng năm gồm 2 lúa - 1 màu, 2 lúa, 1 lúa - 1 màu, và chuyên rau màu; cùng nhóm cây lâu năm (cây ăn quả).
  • Đánh giá hiệu quả kinh tế cây hàng năm và các LUT: Khảo sát thực tế chỉ ra cây lạc có thu nhập thuần cao nhất (39,18 triệu đồng/ha), lúa mùa thấp nhất (8,58 triệu đồng/ha). Về mô hình luân canh, kiểu "Lạc xuân - ngô hè thu - ngô đông" mang lại thu nhập thuần cao nhất (53,83 triệu đồng/ha). Cây ăn quả chủ yếu là vườn tạp phân tán, trong đó cây nhãn đạt thu nhập thuần 41,515 triệu đồng/ha, cao hơn cây vải (26,395 triệu đồng/ha).
  • Đề xuất giải pháp và định hướng: Xây dựng nhóm giải pháp về cơ chế chính sách, khoa học kỹ thuật (chuyển đổi cơ cấu giống, bón phân cân đối, bảo vệ thực vật) và thị trường; định hướng bố trí đất sản xuất nông nghiệp gắn với tiêu chí xã nông thôn mới theo Quyết định 1980/QĐ-TTg đến năm 2020.

Phần 5: Kết luận và đề nghị

Khóa luận tổng kết lại các chỉ số cốt lõi về biến động đất đai và hiệu quả các LUT tại xã Quỳnh Hoàng, khẳng định tính khả thi của việc giảm dần diện tích lúa độc canh để chuyển dịch sang cơ cấu 2 lúa - 1 màu và chuyên rau màu giá trị cao. Tác giả đưa ra các kiến nghị đối với chính quyền xã về công tác dồn điền đổi thửa và hoàn thiện thủy lợi nội đồng.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận cung cấp hệ thống số liệu thực nghiệm chi tiết về cơ cấu sử dụng đất và hiệu quả kinh tế nông nghiệp trên địa bàn xã Quỳnh Hoàng tính đến năm 2016.

STT Mục đích sử dụng đất Diện tích năm 2015 (ha) Diện tích năm 2016 (ha) Cơ cấu năm 2016 (%)
1 Đất nông nghiệp 540,44 541,27 70,38
1.1 Đất sản xuất nông nghiệp 478,69 479,49 88,58*
- Đất trồng cây hàng năm 430,53 431,33 79,69*
- Đất trồng lúa 357,98 358,78 66,28*
- Đất trồng cây hàng năm khác 72,55 72,55 13,40*
- Đất trồng cây lâu năm 48,16 48,16 8,89*
1.2 Đất nuôi trồng thủy sản 57,32 57,34 10,59*
2 Đất phi nông nghiệp 227,52 226,69 29,47
2.1 Đất ở nông thôn 53,68 52,97 23,37**
2.2 Đất chuyên dùng 126,72 126,60 55,84**
2.3 Các loại đất phi nông nghiệp khác 47,12 47,12 20,79**
3 Đất chưa sử dụng (đất bằng) 1,09 1,09 0,14
- Tổng diện tích đất tự nhiên 769,04 769,04 100,00

* Tỷ lệ phần trăm tính trong nội bộ nhóm đất nông nghiệp. ** Tỷ lệ phần trăm tính trong nội bộ nhóm đất phi nông nghiệp.

Khảo sát hạch toán kinh tế trên từng cây trồng đơn lẻ trong năm 2016 cho thấy sự chênh lệch rõ rệt về thu nhập và giá trị ngày công:

Loại cây trồng Năng suất (tạ/ha) Giá trị sản xuất (1.000 đồng/ha) Chi phí sản xuất (1.000 đồng/ha) Thu nhập thuần (1.000 đồng/ha) Hiệu quả sử dụng vốn (lần) Giá trị ngày công (1.000 đồng/công)
Lạc 36,01 72.020,0 32.838,35 39.181,50 2,19 235,74
Khoai lang 96,95 43.627,5 22.921,75 20.702,50 1,90 124,56
Ngô xuân 52,63 36.841,0 20.636,50 16.204,50 1,78 117,00
Ngô đông 48,47 33.929,0 19.279,20 14.649,80 1,76 105,77
Lúa xuân 47,10 30.615,0 17.880,00 12.735,00 1,71 91,94
Ngô hè thu 45,71 31.997,0 20.387,20 11.609,80 1,57 83,82
Lúa mùa 47,90 31.135,0 22.575,50 8.589,50 1,38 51,68

Đánh giá tổng hợp trên các công thức luân canh (LUT) cho thấy mô hình chuyên rau màu và luân canh lúa - màu đạt giá trị kinh tế vượt trội so với độc canh lúa:

Công thức luân canh (Kiểu sử dụng đất) Giá trị sản xuất (1.000 đồng/ha) Chi phí sản xuất (1.000 đồng/ha) Thu nhập thuần (1.000 đồng/ha) Hiệu quả sử dụng vốn (lần) Giá trị ngày công (1.000 đồng/công)
Lạc xuân - ngô HT - ngô đông 126.336,20 72.504,75 53.831,45 1,74 121,46
Lạc xuân - Lúa mùa 103.155,00 55.413,85 51.916,65 1,85 156,18
Ngô xuân - ngô HT - khoai lang đông 112.465,50 63.945,45 48.520,05 1,76 109,47
Lúa xuân - Lúa mùa - khoai lang đông 106.645,00 63.377,25 43.267,75 1,68 91,88
Ngô xuân - ngô HT - ngô đông 102.767,00 60.302,90 42.464,10 1,70 102,20
Lúa xuân - Lúa mùa - ngô đông 97.227,00 59.734,70 35.974,30 1,63 81,17
Ngô xuân - Lúa mùa 67.976,00 43.212,00 24.794,00 1,57 83,62
Lúa mùa - ngô đông 65.064,00 41.854,70 23.209,30 1,55 69,82
Mô hình 2 lúa (bình quân) - - 21.500,00 1,53 69,98
Mô hình 1 lúa (đất trũng, ngập úng) - - 12.000,00 - -

Đối với cây ăn quả lâu năm (diện tích 48,16 ha), khảo sát thực địa ghi nhận:

  • Cây nhãn: Giá trị sản xuất 54,015 triệu đồng/ha, chi phí 12,500 triệu đồng/ha, thu nhập thuần 41,515 triệu đồng/ha, hiệu quả sử dụng vốn 3,32 lần, giá trị ngày công 149,87 nghìn đồng/công.
  • Cây vải: Giá trị sản xuất 37,385 triệu đồng/ha, chi phí 11,000 triệu đồng/ha, thu nhập thuần 26,395 triệu đồng/ha, hiệu quả sử dụng vốn 2,39 lần, giá trị ngày công 119,11 nghìn đồng/công.

Các giải pháp và kiến nghị tác giả đề xuất:

  • Về quy hoạch và chính sách: Khuyến khích dồn điền đổi thửa, hoàn thiện hạ tầng giao thông và kênh mương nội đồng; tạo cơ chế chuyển nhượng, tích tụ đất đai và hỗ trợ vốn vay ưu đãi.
  • Về kỹ thuật: Giảm diện tích lúa độc canh kém hiệu quả; chuyển sang công thức 2 lúa - 1 màu (đưa khoai lang, ngô đông vào chân đất vàn cao); mở rộng diện tích chuyên màu ven sông Luộc; đưa các giống lúa ngắn ngày chất lượng cao (Hương Thơm, Bắc Thơm) thay thế giống cũ.
  • Về cây ăn quả: Cải tạo vườn tạp, ứng dụng kỹ thuật cắt tỉa cành tạo tán, chọn lọc giống nhãn và vải chín sớm nhằm giảm áp lực thu hoạch dồn dập vào cuối tháng 6.
  • Định hướng nông thôn mới: Bố trí sử dụng đất nông nghiệp gắn chặt với tiêu chí số 10 (thu nhập) và tiêu chí số 13 (tổ chức sản xuất) của Quyết định 1980/QĐ-TTg.

Về đóng góp chuyên môn, đề tài đã cụ thể hóa phương pháp đánh giá đất đai cấp xã thông qua điều tra vi mô từng thửa ruộng và hộ nông dân, cung cấp bộ định mức chi phí - thu nhập thực tế mà các số liệu thống kê vĩ mô cấp huyện thường không phản ánh chi tiết.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận tồn tại một số hạn chế được tác giả và dữ liệu văn bản chỉ ra:

  • Thời gian khảo sát thực địa bị giới hạn trong khoảng thời gian ngắn (từ 13/02/2017 đến 23/04/2017), việc tính toán chi phí và thu nhập của cả năm canh tác chủ yếu dựa trên phương pháp điều tra hồi tưởng của chủ hộ nông dân, có thể chịu sai số do ghi chép không đầy đủ.
  • Việc tính toán hiệu quả kinh tế đối với cây ăn quả chưa hạch toán được các khoản chi phí đầu tư trong thời kỳ kiến thiết cơ bản ban đầu do các vườn cây ăn quả tại địa phương đã được trồng từ lâu dưới dạng phân tán, không thành vùng tập trung.
  • Việc đánh giá hiệu quả môi trường và xã hội chủ yếu dừng lại ở các chỉ tiêu định tính và bán định lượng (hệ số sử dụng đất, mức độ tạo việc làm), chưa tiến hành lấy mẫu phân tích trong phòng thí nghiệm để kiểm chứng dư lượng hóa chất bảo vệ thực vật, kim loại nặng hoặc tốc độ thoái hóa dinh dưỡng trong đất.

Hướng nghiên cứu tiếp được gợi mở từ phạm vi nghiên cứu bao gồm: tiếp tục theo dõi biến động lý - hóa tính của tầng đất canh tác sau khi chuyển đổi cơ cấu cây trồng; khảo sát sâu về chuỗi cung ứng và thị trường tiêu thụ nông sản hàng hóa tại địa phương trong giai đoạn hoàn thành toàn diện các tiêu chí nông thôn mới sau năm 2017.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu tham khảo hữu ích cho:

  • Sinh viên, học viên ngành Địa chính Môi trường, Quản lý đất đai, Khoa học môi trường và Phát triển nông thôn làm cơ sở học tập về quy trình khảo sát nông hộ, phương pháp hạch toán kinh tế nông nghiệp và phương pháp xây dựng báo cáo chuyên đề tốt nghiệp.
  • Cán bộ địa chính - xây dựng, khuyến nông tại UBND xã Quỳnh Hoàng và các xã có điều kiện tự nhiên tương tự thuộc huyện Quỳnh Phụ trong việc rà soát hiện trạng sử dụng đất, xây dựng kế hoạch chuyển đổi cơ cấu cây trồng theo mùa vụ.
  • Các nhà quản lý quy hoạch cấp huyện khi thẩm định phương án điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất cấp xã gắn với Bộ tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới.

Nội dung có giá trị tham khảo cao nhất của công trình là hệ thống bảng biểu chi tiết về định mức chi phí sản xuất, năng suất và thu nhập thuần của từng cây trồng và từng kiểu sử dụng đất, giúp người sản xuất và nhà quản lý lượng hóa chính xác hiệu quả kinh tế trước khi đưa ra quyết định chuyển đổi mùa vụ.

Câu hỏi thường gặp

1. Cơ cấu diện tích đất sản xuất nông nghiệp của xã Quỳnh Hoàng năm 2016 được phân bố cụ thể như thế nào?
Năm 2016, tổng diện tích đất sản xuất nông nghiệp của xã là 479,49 ha (chiếm 88,58% đất nông nghiệp). Trong đó, đất trồng cây hàng năm chiếm 431,33 ha (gồm đất trồng lúa 358,78 ha và đất trồng cây hàng năm khác 72,55 ha); đất trồng cây lâu năm chiếm 48,16 ha.

2. Trong các cây trồng hàng năm tại địa phương, loại cây nào mang lại thu nhập thuần cao nhất và loại cây nào thấp nhất?
Cây lạc mang lại thu nhập thuần cao nhất với 39,181 triệu đồng/ha (giá trị ngày công đạt 235,74 nghìn đồng/công, hiệu quả sử dụng vốn 2,19 lần). Cây lúa mùa mang lại thu nhập thuần thấp nhất với 8,589 triệu đồng/ha (giá trị ngày công đạt 51,68 nghìn đồng/công, hiệu quả sử dụng vốn 1,38 lần).

3. Kiểu sử dụng đất luân canh nào đạt hiệu quả kinh tế cao nhất và kiểu nào thấp nhất tại xã Quỳnh Hoàng?
Kiểu sử dụng đất "Lạc xuân - ngô hè thu - ngô đông" đạt thu nhập thuần cao nhất là 53,831 triệu đồng/ha; kiểu "Lạc xuân - lúa mùa" đạt giá trị ngày công cao nhất là 156,18 nghìn đồng/công. Ngược lại, kiểu độc canh 1 lúa ở vùng trũng úng ngập có thu nhập thuần thấp nhất, chỉ đạt khoảng 12 triệu đồng/ha/năm.

4. Tại sao diện tích trồng cây ăn quả (vải, nhãn) tại xã Quỳnh Hoàng có hiệu quả kinh tế chưa tương xứng với tiềm năng?
Do diện tích cây ăn quả phần lớn là vườn tạp phân tán, tuổi cây không đồng đều, không được cắt tỉa tạo hình nên độ thông thoáng kém. Giống cây không qua chọn lọc, ít đầu tư phân bón và phòng trừ sâu bệnh. Riêng với cây vải thiều, thời gian chín tập trung dồn dập vào cuối tháng 6 dẫn đến tình trạng rớt giá, tiêu thụ khó khăn.

5. Việc đề xuất phương án sử dụng đất sản xuất nông nghiệp của đề tài được gắn với văn bản quy phạm pháp luật nào của Trung ương về nông thôn mới?
Đề tài xây dựng phương án định hướng sử dụng đất sản xuất nông nghiệp gắn trực tiếp với Quyết định số 1980/QĐ-TTg ngày 17 tháng 10 năm 2016 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới giai đoạn 2016 - 2020.

Kết luận

Khóa luận của tác giả Đoàn Thị Nụ đã hệ thống hóa điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và đánh giá chi tiết hiện trạng 769,04 ha đất tự nhiên của xã Quỳnh Hoàng, huyện Quỳnh Phụ giai đoạn 2014 - 2016. Kết quả phân tích định lượng đã khẳng định tính vượt trội về kinh tế của các mô hình chuyên màu và luân canh lúa - màu so với độc canh lúa nước, đồng thời chỉ rõ những tồn tại của loại hình cây ăn quả vườn tạp. Hệ thống giải pháp kỹ thuật, thị trường và quản lý đất đai được đề xuất có căn cứ khoa học, bám sát các tiêu chuẩn quốc gia về xây dựng nông thôn mới theo Quyết định 1980/QĐ-TTg đến năm 2020.