Đặt vấn đề - Xác định vấn đề nghiên cứu - Mục tiêu nghiên cứu - Phạm vi nghiên cứu - Đóng góp của nghiên cứu Chương 2: Tổng quan - Các khái niệm, lý thuyết - Các nghiên cứu tương tự về lựa chọn, đánh giá nhà thầu phụ - Các nghiên cứu tương tự về DEA - Đặc điểm ngành sản xuất thép tiền chế ở Việt Nam Chương 3: Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu - Qui trình nghiên cứu - Cơ sở lý thuyết về DEA, DEA Cross Efficiency - Khảo sát nhận dạng các tiêu chí sử dụng để đánh giá SC trong giai đoạn đấu thầu và giai đoạn thi công - Thu thập kết quả đánh giá các tiêu chí định tính Chương 4: Ứng dụng mô hình DEA để đánh giá, lựa chọn giao thầu phụ - Phân tích kết quả, nhận dạng các tiêu chí dùng để đánh giá, lựa chọn giao thầu phụ - Ứng dụng DEA để lựa chọn SC cung cấp và gia công kết cấu thép ở một dự án cụ thể - Giải thích, phân tích kết quả đánh giá, lựa chọn Chương 5: Ứng dụng mô hình DEA để đánh giá sự thực hiện của nhà thầu phụ ở giai đoạn thi công - Phân tích kết quả, nhận dạng các tiêu chí, dùng để đánh giá sự thực hiện của SC ở giai đoạn thi công - Ứng dụng DEA để đánh giá sự thực hiện của các SC tại dự án đề cập ở chương 4 - Giải thích, phân tích kết quả đánh giá - Thu thập kết quả đánh giá các tiêu chí định tính - So sánh kết quả đánh giá ở giai đoạn quyết định giao thầu phụ và giai đoạn thi công. Đề xuất quy trình quản lý thầu phụ Chương 6: Kết luận và kiến nghị - Kết luận - Kiến nghị Hình 1.3: Cấu trúc của luận văn HVTH: BÙI CAO MINH THẾ Trang 7 Luận văn cao học GVHD: TS. LƯƠNG ĐỨC LONG CHƯƠNG 2.1 Các khái niệm, lý thuyết 2.1 Tổng thầu, nhà thầu chính Theo Luật xây dựng định nghĩa Tổng thầu xây dựng là nhà thầu ký kết hợp đồng trực tiếp với chủ đầu tư để nhận thầu toàn bộ một loại công việc hoặc toàn bộ công việc của dự án đầu tư xây dựng công trình. Tổng thầu xây dựng có thể là một pháp nhân hoặc liên danh nhiều pháp nhân.
Tổng thầu xây dựng gồm có: • Tổng thầu thiết kế xây dựng; • Tổng thầu thi công xây dựng; • Tổng thầu thiết kế và thi công xây dựng công trình; • Tổng thầu thiết kế, cung cứng vật tư, thiết bị công nghệ và thi công xây dựng công trình (Tổng thầu EPC); • Tổng thầu lập dự án đầu tư xây dựng công trình, thiết kế, cung ứng vật tư, thiết bị thi công và xây dựng công trình (tổng thầu chìa khóa trao tay). Nhà thầu chính trong hoạt động xây dựng là nhà thầu ký kết hợp đồng nhận thầu trực tiếp với chủ đầu tư xây dựng công trình để thực hiện phần việc chính của một loại công việc của dự án đầu tư xây dựng công trình. Theo Hợp đồng mẫu soạn thảo bởi Hiệp hội các kỹ sư tư vấn quốc tế - FIDIC Red book (1999) thì “Nhà thầu” là người được gọi là Nhà thầu trong Thư dự thầu được Chủ đầu tư chấp nhận và những người kế tục hợp pháp theo chức danh này. Trong phạm vi nghiên cứu này, tác giả sử dụng khái niệm Tổng thầu bao gồm khái niệm Tổng thầu và nhà thầu chính như các định nghĩa trên đây.2 Nhà thầu phụ Theo Luật xây dựng Nhà thầu phụ trong hoạt động xây dựng là nhà thầu ký kết hợp đồng với nhà thầu chính hoặc tổng thầu xây dựng để thực hiện một phần công việc của nhà thầu chính hoặc tổng thầu xây dựng.
Theo FIDIC Red book (1999) thì “Nhà thầu phụ” là bất kỳ người nào được chỉ ra trong Hợp đồng là thầu phụ, hoặc bất kỳ người nào được chỉ định là thầu phụ HVTH: BÙI CAO MINH THẾ Trang 8 Luận văn cao học GVHD: TS. LƯƠNG ĐỨC LONG cho một phần của công trình và những người kế tục hợp pháp theo chức danh của mỗi một trong số những người nói trên. ¾ Giao thầu lại: Tổng thầu hoặc nhà thầu chính thường không tự thực hiện tất cả các công tác. Ngay từ giai đoạn đấu thầu để tìm việc, tổng thầu đã cần đến sự tư vấn và hỗ trợ của các nhà thầu phụ, nhà cung cấp nhằm tìm ra một đề xuất cạnh tranh và hiệu quả để làm tăng cơ hội trúng thầu.
Thông thường, tổng thầu hay nhà thầu chính nhận báo giá từ các nhà thầu phụ, nhà cung cấp và tính thêm các chi phí quản lý chung, hệ số lợi nhuận…để tạo thành giá đề xuất gửi Chủ đầu tư. ¾ Sự thực hiện: hay thành tích, thành quả “performance”, là các kết quả đạt được, được thực hiện bởi một cá nhân, tập thể hay một tổ chức nào đó khi đóng một vai trò trong một hay nhiều hoạt động nhằm đạt được mục tiêu nhất định. Sự thực hiện của nhà thầu phụ là những gì mà nhà thầu phụ mang đến cho tổng thầu/ nhà thầu chính trong dự án nhằm đạt đến các mục tiêu: tiến độ, chất lượng, an toàn, hiệu quả tài chính, sự hợp tác.3 Các lí do sử dụng nhà thầu phụ Theo Costantino, N. và cộng sự (2001), các lí do lựa chọn thầu phụ bao gồm: • Giảm chi phí chung và chi phí quản lý của Tổng thầu; • Giảm chi phí xây dựng; • Tính không ổn định của thị trường; • Thời gian thi công ngắn; • Giảm chi phí thiết bị máy móc và chi phí bảo trì; • Tăng giá trị cho chủ đầu tư; • Tay nghề tốt hơn.4 Qui trình quản lý thầu phụ Quy trình quản lý nhà thầu phụ bao gồm các giai đoạn sau: • Giai đoạn 1: Lựa chọn các nhà thầu phụ có đủ năng lực để đưa vào danh sách ngắn; • Giai đoạn 2: Lựa chọn các nhà thầu phụ tốt, phù hợp nhất cho dự án; HVTH: BÙI CAO MINH THẾ Trang 9 Luận văn cao học GVHD: TS.
LƯƠNG ĐỨC LONG • Giai đoạn 3: Đánh giá sự thực hiện của các nhà thầu phụ được lựa chọn trong quá trình triển khai thực hiện dự án.1: Quy trình đánh giá, quản lý nhà thầu phụ tại 3 giai đoạn Ở mỗi giai đoạn, các yếu tố đánh giá, mục đích tương ứng với từng loại nhà thầu phụ là khác nhau. Việc lựa chọn đúng nhà thầu phụ thông qua cách tiếp cận có hệ thống có thể làm giảm thiểu rủi ro trong quản lý. và cộng sự (2001), các vấn đề mà Tổng thầu thường phải đối mặt trong quản lý thầu phụ là: • Gia tăng các công tác giữa các gói thầu phụ; • Quá ít nhà thầu phụ có tay nghề, đảm bảo chất lượng; • Giá của các nhà thầu phụ; • Tranh chấp, kiện tụng giữa các mối quan hệ: Tổng thầu – Nhà thầu phụ, Nhà thầu phụ - Nhà thầu phụ; HVTH: BÙI CAO MINH THẾ Trang 10 Luận văn cao học GVHD: TS. LƯƠNG ĐỨC LONG • Cần lưu ý đến tình trạng giao thầu phụ của thầu phụ, việc này có thể dẫn đến suy giảm chất lượng sản phẩm công trình và nhiều rủi ro kiện tụng.5 Các phương pháp giao thầu phụ Theo Sozen, Z.
và cộng sự (2001), Tổng thầu thường sử dụng các cách chọn thầu phụ thông thường như sau: • Đấu thầu giá thấp nhất; • Mối quan hệ giữa Nhà thầu phụ và Chủ đầu tư; • Đàm phán giá thấp nhất và chuyển giao rủi ro từ Tổng thầu sang nhà thầu phụ; • Giá tốt nhất và những nhà thầu phụ tốt nhất, có năng lực; • Chia sẻ công việc để gìn giữ mối quan hệ; • Khác. (2009), có các phương pháp lựa chọn nhà thầu phụ thông dụng như sau: • Phương pháp liệt kê và cho điểm; • Phương pháp lợi ích chung (Collective Utility); • Phương pháp ma trận Warkentin; • Phương pháp mạng nơ ron nhân tạo (Artificial Neural Network – ANN); • Phương pháp ra quyết định đa tiêu chuẩn (Multicriteria Decision Making - MCDM); • Phương pháp Bespoke (Bespoke Approaches - BA); • Phương pháp phân tích đa thuộc tính (Multi Attribute Analysis – MAA); • Phương pháp lý thuyết đa thuộc tính (Multi Attribute Analysis Theory – MAUT); • Phương pháp hồi quy đa bội (Multiple Regression - MR); HVTH: BÙI CAO MINH THẾ Trang 11 Luận văn cao học GVHD: TS. LƯƠNG ĐỨC LONG • Phương pháp phân tích cụm (Cluster Analysis - CA); • Phương pháp lý thuyết mờ (Fuzzy Set Theory – FST); • Phương pháp phân tích thứ bậc (Analytic Hierarchy Process - AHP). Trong các phương pháp kể trên, AHP có nhiều ưu điểm so với các phương pháp ra quyết định đa mục tiêu khác: • Các phương pháp ra quyết định đa tiêu chí gặp trở ngại trong việc xác định mức độ quan trọng của từng tiêu chí.
AHP là một phương pháp nổi tiếng trong việc xác định các trọng số này; • AHP có thể kiểm tra tính nhất quán trong cách đánh giá của người ra quyết định. Hơn nữa, quy trình phân tích theo thứ bậc dễ hiểu, xem xét nhiều tiêu chí nhỏ và phân tích cả yếu tố định tính lẫn định lượng. Mặc dù vậy, AHP cũng tồn tại một số hạn chế nhất định như: • Số lượng phương án lựa chọn gia tăng làm phức tạp thêm vấn đề cần ra quyết định. • Mất khá nhiều thời gian: tiến hành so sánh cặp với các chuyên gia, kiểm tra hệ số nhất quán và có thể phải điều chỉnh lại thang đánh giá; 2.2 Phương pháp bao dữ liệu (Data Envelopment Analysis - DEA) 2.1 Lịch sử và khái niệm DEA viết tắt của từ Data Envelopment Analysis, tạm dịch là phương pháp bao dữ liệu (Nguyễn, H., 2007) là kỹ thuật qui hoạch tuyến tính phi tham số.
Phương pháp này sử dụng qui hoạch tuyến tính phi tham số để đo lường hiệu quả hoạt động của các tổ chức, đơn vị ra quyết định (DMU- Decision Making Units). Hiệu quả này được xác định dựa trên tỷ số một tập hợp các yếu tố đầu ra và tập hợp các yếu tố đầu vào. Đơn vị ra quyết định có thể là các đơn vị thương mại, sản xuất như nhà máy, công ty kinh doanh, phòng ban hay phi thương mại như trường học, bệnh viện công, trạm cảnh sát, cơ quan thuế. Phương pháp phân tích bao dữ liệu được Charnes, Cooper và Rhodes (CCR) phát minh vào năm 1978, tuy nhiên nó được bắt nguồn từ những cơ sở lý thuyết từ trước đó hơn 20 năm.
Năm 1957, Farrell đưa ra ý tưởng áp dụng đường HVTH: BÙI CAO MINH THẾ Trang 12 Luận văn cao học GVHD: TS.