MỞ ĐẦU Sai sót trong sử dụng thuốc (Medication Error – ME) là một trong những vấn đề cần đặc biệt quan tâm hiện nay trong thực hành lâm sàng. Trong các nghiên cứu đã chỉ ra rằng, có ít nhất 210.000 người Mỹ tử vong mỗi năm do hậu quả trực tiếp của ME [18], [36]; 8,0 – 12,0% trường hợp nhập viện, 23,0% công dân Châu Âu tuyên bố từng trực tiếp bị ảnh hưởng bởi ME [65]; 2,0 – 4,0% lượt nhập viện có liên quan đến sử dụng thuốc và ba phần tư trong số này là phòng tránh được. Chi phí phát sinh do ME ở một số quốc gia rất lớn, có thể lên đến khoảng 29 tỷ USD mỗi năm [66]. Tại các nước đang phát triển như Việt Nam, xác suất một người bệnh gặp biến cố bất lợi trong cơ sở y tế cao hơn so với các nước phát triển [66].
Mặc dù dữ liệu về ME của Việt Nam còn hạn chế nhưng kết quả từ một số nghiên cứu bước đầu cũng đã cho thấy tỷ lệ sai sót liên quan đến thực hiện thuốc của điều dưỡng dao động từ 37,7% đến 68,6% liều trên một lượt thuốc [51], [4]. Việc áp dụng phương pháp quan sát trực tiếp như đã thực hiện trong một số nghiên cứu trước đây rất khó khăn trong triển khai rộng rãi trên thực tế. Sai sót trong sử dụng thuốc có thể xảy ra trong tất cả các hoạt động như kê đơn, cấp phát, sử dụng thuốc và tuân thủ điều trị của người bệnh. [23] Trong các loại ME, sai sót kê đơn là loại thường gặp nhất.
Theo thống kê của một nghiên cứu tổng quan hệ thống năm 2016, sai sót kê đơn chiếm tỷ lệ từ 29,0 – 56,0% tổng số ME và xảy ra ở 7,0% đơn thuốc [12]. Có rất nhiều yếu tố có liên quan tới sai sót kê đơn như các yếu tố cá nhân của bác sĩ, yếu tố liên quan đến bệnh nhân, yếu tố môi trường làm việc nhưng những sai sót này là có thể phòng tránh được. Để nâng cao hiệu quả khám chữa bệnh cũng như hạn chế tối đa các sai sót kê đơn, đã có nhiều biện pháp hiệu quả được áp dụng như can thiệp giáo dục các đối tượng có liên quan đến hoạt động cung ứng thuốc bệnh viện, áp dụng các biện pháp mang tính chất quản lý [57]. Trong đó, các biện pháp can thiệp có sự tham gia của dược sĩ đã chứng minh đạt được những hiệu quả tích cực [58].
Việc giám định tính hợp lý được căn cứ vào các hướng dẫn điều trị, hướng dẫn sử dụng thuốc do Bộ Y tế ban. 2 hành; quy chế chuyên môn; quy trình kỹ thuật; danh mục thuốc sử dụng tại cơ sở khám chữa bệnh để đánh giá tính hợp lý, an toàn và hiệu quả trong khám chữa bệnh theo một số nội dung trong quyết định ban hành quy trình giám định của Bảo hiểm y tế được quy định trong Quyết định số 466/QĐ– BHXH ngày 19 tháng 4 năm 2011 Tổng giám đốc bảo hiểm xã hội. [7] Sai sót kê đơn được xác định là một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến an toàn người bệnh tại Bệnh viện Thống Nhất. Loại sai sót này đồng thời gây xuất toán ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế của bệnh viện, làm chậm việc quyết toán dẫn đến gián đoạn việc cung ứng thuốc.
Bệnh viện Thống Nhất là bệnh viện đa khoa hạng I, trực thuộc Bộ Y tế với quy mô 1.200 giường bệnh và là một trong những trung tâm Lão khoa lớn nhất cả nước. Việc kê đơn thuốc hàng tháng càng cần đảm bảo về mặt chuyên môn điều trị và tránh tình trạng xuất toán các chi phí liên quan đến thuốc mà lỗi do sai sót kê đơn gây ra. Vấn đề phát hiện ra các sai sót, tiến hành báo cáo và từ đó có chiến lược phòng ngừa là điều kiện tiên quyết để giảm thiểu sai sót tại bệnh viện. Từ năm 2018, bệnh viện đã có những quy định cụ thể trong công tác quản lý Dược liên quan đến hoạt động kê đơn thuốc của bác sĩ, nhằm hạn chế các sai sót kê đơn.
Việc hoàn thiện các quy trình chuyên môn liên quan đến việc kiểm soát chặt chẽ các sai sót sẽ đảm bảo tránh xuất toán cũng như vượt trần, vượt quỹ là rất quan trọng và thiết thực. Bệnh viện Thống Nhất hiện chưa có nghiên cứu đánh giá hiệu quả của công tác quản lý dược với hoạt động kê đơn thuốc cho bệnh nhân ngoại trú tại bệnh viện. Do đó, nghiên cứu ―Đánh giá hiệu quả của công tác quản lý dược trong việc giảm sai sót và giảm việc xuất toán bảo hiểm khi kê đơn ngoại trú tại Bệnh viện Thống Nhất giai đoạn 2016 – 2021” được thực hiện với 03 mục tiêu sau: 1. Phân tích tình hình sử dụng thuốc trong điều trị ngoại trú tại bệnh viện Thống Nhất giai đoạn 2016-2020.
Đánh giá hiệu quả các can thiệp của công tác quản lý dược trong việc giảm sai sót và giảm xuất toán bảo hiểm y tế khi kê đơn ngoại trú giai đoạn 2016- 2020. Lập kế hoạch hành động của chương trình can thiệp trong việc giảm sai sót và giảm việc xuất toán bảo hiểm khi kê đơn ngoại trú tại Bệnh viện Thống Nhất năm 2022 CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tổng quan về sai sót trong sử dụng thuốc 1.
Khái niệm sai sót trong sử dụng thuốc Hiện nay, có nhiều định nghĩa sai sót trong sử dụng thuốc (Medication Error–ME) được sử dụng trong các nghiên cứu khác nhau. Định nghĩa thông dụng và được chấp nhận rộng rãi trên thế giới hiện nay về ME là của Hội đồng Điều phối Quốc gia Hoa Kỳ về Báo cáo và phòng tránh ME (National Coordinating Council for Medication Error Reporting and Prevention – NCC MERP): ―ME là bất kỳ biến cố có thể phòng tránh nào có khả năng gây ra hoặc dẫn đến việc sử dụng thuốc không hợp lý, hoặc gây hại cho người bệnh trong khi thuốc được kiểm soát bởi nhân viên y tế, bệnh nhân, hoặc người tiêu dùng. Các biến cố như vậy có thể liên quan tới thực hành chuyên môn, các sản phẩm chăm sóc sức khỏe, quy trình và hệ thống bao gồm: kê đơn và quá trình chuyển giao đơn thuốc; ghi nhãn, đóng gói và danh pháp; pha chế, cấp phát và phân phối; quản lý, giám sát và sử dụng thuốc trên người bệnh‖. [50] Gần đây, Cơ quan quản lý dược phẩm châu Âu đưa ra một định nghĩa về ME: ―Một thất bại không có chủ đích trong quá trình điều trị bằng thuốc dẫn đến hoặc có nguy cơ dẫn đến tổn hại cho bệnh nhân‖.
Định nghĩa này loại trừ trường hợp cố ý dùng quá liều thuốc, sử dụng chỉ định off lable và lạm dụng thuốc. [26] ME bao gồm bất kỳ sai sót có thể phòng tránh được xảy ra trong quá trình thực hành chuyên môn, các sản phẩm chăm sóc sức khỏe, quy trình và hệ thống gồm: kê đơn, cấp phát, sử dụng thuốc, sai sót đó có dẫn đến kết quả bất lợi không. [50] ME là những sai sót có thể phòng tránh được thông qua hệ thống kiểm soát. 4 hiệu quả liên quan đến dược sĩ, bác sĩ, điều dưỡng, nhân viên y tế, người bệnh, và những người khác trong các thiết lập tổ chức cũng như các cơ quan quản lý và các ngành công nghiệp dược phẩm.
Những sai sót này có thể gây ra thất bại trong điều trị và phản ứng có hại của thuốc hoặc gây ra lãng phí các nguồn lực. [16] ME còn có thể được định nghĩa là thất bại trong quá trình điều trị dẫn đến hoặc có khả năng dẫn đến, gây hại cho bệnh nhân. Phân loại sai sót trong sử dụng thuốc Hiện nay, có nhiều cách phân loại ME khác nhau dựa trên các cách tiếp cận khác nhau. Trong đó, phân loại ME theo yếu tố dẫn đến sai sót, theo giai đoạn xảy ra sai sót và theo mức độ nghiêm trọng của sai sót là những cách phân loại có ý nghĩa, được áp dụng rộng rãi hơn trong việc phát hiện, đánh giá, phân tích và dự phòng ME.
Phân loại theo yếu tố dẫn đến sai sót Phân loại ME theo yếu tố dẫn đến sai sót là cách phân loại được sử dụng phổ biến nhất. Dưới đây là 12 phân loại sai sót theo Hội Dược sĩ bệnh viện Hoa Kỳ (ASHP): Sai sót kê đơn: Sai sót trong lựa chọn loại thuốc (dựa vào chỉ định, chống chỉ định, tiền sử dị ứng, thuốc đang điều trị và các yếu tố khác), liều lượng, dạng bào chế, số lượng, đường dùng, nồng độ, tốc độ đưa thuốc, hướng dẫn sử dụng thuốc của một thuốc được kê đơn bởi người kê đơn hợp pháp; sai sót do đơn thuốc không đọc được; Sai sót do thiếu thuốc: Người bệnh không được dùng loại thuốc đã được kê đơn; Sai thời gian: Người bệnh dùng thuốc ngoài khoảng thời gian cho phép theo liệu trình dùng thuốc; Sai do sử dụng thuốc chƣa đƣợc phép: Sử dụng loại thuốc không được kê đơn; Sai liều: Bao gồm dùng quá liều, thấp hơn liều điều trị, quên liều, đưa thêm liều không đúng như chỉ định hoặc không nhớ liều dùng cho bệnh nhân; Sai dạng bào chế: Dùng cho người bệnh loại thuốc không đúng dạng bào chế được kê đơn; Sai trong chuẩn bị thuốc: Thuốc được pha chế hoặc thao tác không đúng trước khi sử dụng; Sai kĩ thuật dùng thuốc: Quy trình không phù hợp hoặc không đúng kỹ thuật sử dụng thuốc; Sai trong giám sát: Thiếu sót trong việc đánh giá chế độ điều trị và phát hiện các. 6 vấn đề trong sử dụng thuốc hoặc không sử dụng dữ liệu lâm sàng hoặc xét nghiệm phù hợp để đánh giá đầy đủ đáp ứng của với thuốc được kê đơn; Sai khi dùng thuốc biến chất: Dùng thuốc hết hạn hoặc hư hỏng; Sai trong tuân thủ điều trị: Người bệnh thiếu tuân thủ điều trị với thuốc kê đơn; Sai sót khác: Những sai sót không phân loại được theo các nhóm trên. [17] Phân loại theo giai đoạn xảy ra sai sót trong quy trình sử dụng thuốc Theo phân loại này, các sáo sót có thể xảy ra trong các giai đoạn sau: Kê đơn; Sao chép đơn thuốc hoặc phiên dịch thông Mua thuốc; tin; Bảo quản thuốc; Dùng thuốc cho người bệnh (bao gồm cả việc Pha chế, chuẩn bị thuốc; kiểm tra xác định thuốc); Phân phát thuốc; Giám sát người bệnh trước và sau khi dùng thuốc.