CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Một số khái niệm 1. Khái niệm bệnh viện Khái niệm bệnh viện được đề cập nhiều trong các tài liệu của Tổ chức y tế thế giới (WHO). Theo WHO: “ Bệnh viện là một bộ phận của một tổ chức mang tính chất y học và xã hội, có chức năng đảm bảo cho nhân dân được chăm sóc toàn diện về y tế, cả về chữa bệnh và phòng bệnh.
Công tác ngoại trú của bệnh viện được tỏa tới tận hộ gia đình đặt trong môi trường của nó. Bệnh viện còn là trung tâm giảng dạy y học và nghiên cứu xã hội“ (1). Theo BYT, bệnh viện có 07 chức năng: Khám chữa bệnh, phòng bệnh, đào tạo cán bộ, nghiên cứu khoa học, chỉ đạo tuyến, hợp tác quốc tế, quản lý kinh tế y tế (7). Khái niệm về dịch vụ y tế Dịch vụ y tế (DVYT) được định nghĩa là các dịch vụ được cung cấp nhằm mục đích bảo vệ và nâng cao sức khỏe cộng đồng.
DVYT là một trong bốn dịch vụ xã hội cơ bản - hệ thống cung cấp dịch vụ nhằm đáp ứng những nhu cầu cơ bản của con người và được xã hội thừa nhận. DVYT là một dịch vụ khá đặc biệt, bao gồm các hoạt động được thực hiện bởi nhân viên y tế như: khám, chữa bệnh phục vụ người bệnh và gia đình, trong đó người bệnh trực tiếp cũng chính là người tham gia sản xuất cũng như tiêu thụ. DVYT là một loại hàng hóa mà người sử dụng (người bệnh) thường không thể tự mình lựa chọn loại dịch vụ theo ý muốn mà phụ thuộc rất nhiều vào bên cung ứng (cơ sở y tế) (8). Khái niệm sự hài lòng Khái niệm sự hài lòng (SHL) cũng như nhiều định nghĩa về tâm lý học khác, rất dễ hiểu nhưng lại khó định nghĩa, SHL là một khái niệm bao trùm.
Một định nghĩa đơn giản và thực tế của SHL là mức độ mong muốn mà người ta nhận được. 5 Theo Philip Kotler (2001) thì “Sự thỏa mãn - hài lòng của người bệnh là mức độ trạng thái, cảm giác của một người bắt nguồn từ việc so sánh kết quả thu được qua quá trình tiêu dùng sản phẩm với những kỳ vọng của họ. Mức độ hài lòng phụ thuộc vào sự khác biệt giữa kết quả nhận được và kỳ vọng, nếu kết quả thực tế thấp hơn kỳ vọng thì người bệnh không hài lòng, nếu kết quả thực tế tương xứng với kỳ vọng thì người bệnh hài lòng, nếu kết quả thực tế cao hơn kỳ vọng thì người bệnh rất hài lòng” (10). Khái niệm sự hài lòng của người bệnh trong cung cấp dịch vụ y tế Khái niệm về chất lượng DVYT Chất lượng dịch vụ được hiểu và quan niệm theo nhiều cách khác nhau phụ thuộc vào vị thế của từng người.
Chất lượng từ góc độ của người bệnh hay người bệnh liên quan đến loại hình và tính hiệu quả của chăm sóc (CS), có thể chú trọng hơn vào thái độ thân thiện, được tôn trọng, sự thoải mái, sự sạch sẽ và tính sẵn có của DV tương đồng với chi phí. NVYT hoặc các cơ sở y tế lại quan tâm nhiều hơn đến qui trình tác nghiệp của việc cung cấp dịch vụ y tế (DVYT), khả năng chẩn đoán và điều trị một ca bệnh. Nhà quản lý có thể cho rằng chất lượng là sự tiếp cận, năng suất, tính phù hợp, khả năng có thể chấp nhận được và hiệu quả trong cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe (CSSK). Nhà quản lý quan tâm nhiều tới chi phí cho việc cung cấp DVYT chuẩn, có chất lượng và khả năng chi trả của các đối tượng (11).
Ý kiến của hội nghị bàn tròn quốc gia về chất lượng, viện y khoa Massachusetts, Hoa kỳ thì: “Chất lượng chăm sóc là mức độ mà nhờ đó các DVYT cho các cá nhân và công chúng làm tăng khả năng có thể đạt được các kết quả sức khỏe mong đợi và phù hợp với kiến thức chuyên môn hiện tại” (11). Có nhiều khái niệm về chất lượng DVYT, nhưng chung quy lại thì chất lượng DVYT có thể là: - Có hiệu quả, khoa học, việc CS phải thực hiện theo các tiêu chuẩn đã qui định 6 - Thích hợp với người bệnh - NB tiếp cận được và chấp nhận với SHL, ít tốn kém so với cách điều trị khác (12). Khái niệm về SHL của người bệnh Hiện nay, có nhiều quan điểm khác nhau về SHL của người bệnh với chất lượng DVYT, các nghiên cứu trên thế giới thường sử dụng khái niệm của các tác giả Linder-Pelz (13), Fitzpatric (1993) (14), Ke Ping và cộng sự (1999) (15), Burke và cộng sự (2003) (16). Một trong những khái niệm về SHL đầu tiên được Linder – Pelz (1982) đưa ra là sự đánh giá tích cực của mỗi cá nhân đối với mỗi khía cạch khác nhau trong việc khám chữa bệnh (KCB) (13).
Tiếp sau đó, vào năm 1993 Fiztpatric đã đưa ra khái niệm về SHL của người bệnh được đánh giá dự trên những tình cảm của NB đối với cơ sở cung cấp dịch vụ ) (14). Khác với Linder – Pelz với quan điểm dựa trên những đánh giá mang tính khách quan theo chiều hướng tích cực từ phía người bệnh. Theo Ke – Ping (1999) để đánh giá chất lượng CS thì sự hiểu biết của người bệnh là sự phán quyết chủ quan, còn SHL của NB là phán quyết khách quan (15). Năm 2003, Burke khi tiến hành nghiên cứu về sự không hài lòng với chăm sóc y tế ở những phụ nữ nhiễm HIV đã xác định: “SHL của NB được sử dụng phổ biến trong việc đo lường chất lượng DVYT, như là một cách thức để đánh giá DV thông qua đo lường nhận thức của người bệnh”.
Khái niệm này của tác giả Burke đã được nhiều nhà nghiên cứu cho rằng là phù hợp bởi nó không chỉ mang tính khái quát mà còn thể hiện rõ ràng chức năng của SHL của người bệnh và đặc tính tự nhiên của khái niệm này dựa trên “Nhận thức của người bệnh” (16). Nhìn chung, tuy có sự khác biệt giữa các tác giả về khái niệm SHL với chất lượng dịch vụ CSSK, nhưng vẫn có điểm tương đồng đó là tất cả đều xác định SHL như yếu tố khách quan xuất phát từ cảm nhận của NB khi phải chịu tác động của các dịch vụ có chất lượng tốt hay không. 7 Theo mô hình của BYT hướng dẫn kiểm tra chất lượng BV đã đưa ra cách đánh giá SHL NB theo hướng tiếp cận là (17): - Khả năng tiếp cận dịch vụ của người bệnh. - Sự minh bạch thông tin và thủ tục khám bệnh, điều trị.
- Cơ sở vật chất và phương tiện phục vụ người bệnh. - Thái độ ứng xử, năng lực chuyên môn của NVYT. Các thang đo đánh giá sự hài lòng người bệnh 1. Các thang đo đánh giá hài lòng người bệnh Đo lường SHL của người bệnh xuất hiện khi các dịch vụ thương mại phát triển.
Do vậy, các nhà khoa học đã nghiên cứu ra các mô hình lý thuyết giúp các doanh nghiệp đo lường mức độ hài lòng một cách chính xác nhất. Các doanh nghiệp thường dùng chỉ số hài lòng (CSI: Customer Satisfaction Index) làm thước đo đánh giá SHL của người bệnh. Thụy Điển là quốc gia đầu tiên dùng chỉ số SCSB (Sweden Customer Satisfaction Barometer) để đo mức độ hài lòng. SHL của người bệnh được xem như là kết quả đánh giá toàn diện về sử dụng một DV hoặc hoạt động sau bán hàng của doanh nghiệp (4).
Nhận thức được vai trò quan trọng của đo lường SHL của người bệnh nhằm cải thiện chất lượng dịch vụ y tế, nhiều cách thức tiếp cận đo lường được các tác giả phát triển và áp dụng trên thế giới. Trong một nghiên cứu gần đây đã tổng hợp một cách có hệ thống nhằm tìm hiểu các công cụ đo lường SHL của người bệnh (18). Có đến trên 10 cộng cụ khác nhau đã được chuẩn hóa và phát triển. Một số công cụ này gồm: Consumer Assessment of Healthcare Providers and Systems (CAHPS), Patient Centered Medical Home CAHPS (CAHPS-PCMH), Press Ganey Outpatient Medical Practice Survey, and Survey of Health Experiences of Patients (SHEP), the Press Gane, Community Oncology, Health Climate Questionnaire, Heart Failure Clinic Satisfaction Survey, FAMCARE, Patient Provider Relationship Questionnaire, Patient Satisfaction Questionnaire (19-22).
Ngoài ra, còn có các công cụ Army Provider Level Satisfaction Survey, VA National Outpatient Customer Satisfaction Survey, và một bộ công cụ dung trong lực lượng 8 quân đội chưa được xuất bản (US Airforce Survey) (22). Ngoài các công cụ chuẩn hóa trên thì cũng có 06 công cụ tự phát triển, theo kết quả của nghiên cứu này (18). Một số mô hình đánh giá SHL được tổng kết như sau: Đánh giá theo lý thuyết “Qua con mắt của người bệnh”: Đây là một khung lý thuyết được trích dẫn phổ biến nhất và được sử dụng trong phát triển của các khung lý thuyết khác (23). Khung lý thuyết này được gọi là: Tôn trọng giá trị của người bệnh, sở thích và nhu cầu; hợp tác và tương tác của chăm sóc; thông tin, giao tiếp và giáo dục; thoải mái thể chất; hỗ trợ cảm xúc và làm giảm sợ hãi, lo âu; sự tham gia của người nhà người bệnh; chuyển tiếp và liên tục (24).
Đánh giá theo khung lý thuyết của Viện Y tế Mỹ (IOM): Khung lý thuyết IOM bao gồm các chủ đề về lòng trắc ẩm, cảm thông và đáp ứng, hợp tác và tương tác, thông tin, giao tiếp và giáo dục, thoải mái thể chất, hỗ trợ cảm xúc, giảm sợ hãi và lo âu, và sự tham gia của người nhà người bệnh. Mặc dù có sự tương tự giữa những khía cạnh trong IOM về chăm sóc và phác thảo bởi Gerteis et al. Nguyên lý của học viện Picker: Vào năm 2007, Shaller và cộng sự thêm 8 khía cạnh của chăm sóc vào phác thảo của Gerteis. Khía cạnh “Tiếp cận chăm sóc” được mô tả như sau: Người bệnh cần biết họ có thể tiếp cận chăm sóc khi có nhu cầu, và chú ý phải được hướng đến thời gian chờ đợi để tiếp nhận, hoặc giữa thời gian tiếp nhận và thời gian xếp phòng (26).
Ở các khung lý thuyết đều có những ưu điểm riêng đó là những khía cạnh đánh giá mà các khung khác không có. Mặt khác, mỗi thang đo có những đặc điểm như cách tiếp cận, các đo lường và phương pháp đo lường khác nhau. SERVQUAL là một công cụ nghiên cứu đa chiều, được thiết kế để nắm bắt những mong đợi và nhận thức của người tiêu dùng về một dịch vụ theo năm chiều được tin rằng đại diện cho chất lượng dịch vụ.