ĐẶT VẤN ĐỀ Mất ngủ từ lâu đã là một vấn đề phổ biến về rối loạn giấc ngủ. Mất ngủ đƣợc đánh dấu bằng sự khó khăn trong việc bắt đầu, duy trì giấc ngủ hoặc khi giấc ngủ không đạt đƣợc hay có chất lƣợng kém, mặc dù có đủ thời gian và cơ hội để tạo ra giấc ngủ [1], [2]. Ngoài ra mất ngủ còn đặc trƣng bởi tình trạng không mong muốn và, hoặc thức dậy sớm hơn ba lần một tuần trong hơn 3 tháng và suy giảm giấc ngủ ban ngày làm ảnh hƣởng đến các chức năng nhận thức [3], [4]. Viện Hàn lâm Y học giấc ngủ Hoa Kỳ (American academy sleep medicine – AASM) năm 2008 gọi chứng mất ngủ là một vấn đề quan trọng đối với sức khỏe cộng đồng [5].
Theo Bùi Quang Huy, tại Việt Nam có khoảng 30% đến 45% bệnh nhân trƣởng thành bị mất ngủ hàng năm [6]. Mất ngủ kéo dài có thể dẫn tới suy nhƣợc cơ thể nặng, làm giảm chất lƣợng cuộc sống, ngƣời bệnh mệt mỏi, giảm tập trung chú ý, giảm trí nhớ… [7]. Những công trình nghiên cứu trong những năm gần đây cho thấy chứng mất ngủ thƣờng kèm theo các bệnh mãn tính nhƣ: đái tháo đƣờng, rối loạn chuyển hóa lipid máu, tăng huyết áp,. tạo gánh nặng cho gia đình và xã hội [8].
Hiện nay để điều trị mất ngủ chủ yếu là kết hợp điều trị nội khoa với liệu pháp tâm lý. Y học hiện đại (YHHĐ) sử dụng các thuốc chống lo âu trầm cảm, chống động kinh, an thần, kết hợp với tƣ vấn, vệ sinh giấc ngủ, tập luyện vận động, kỹ thuật thƣ giãn luyện tập để điều trị mất ngủ [9]. Tuy nhiên, việc sử dụng các loại thuốc YHHĐ trên lâm sàng không phải là lựa chọn hàng đầu trong điều trị mất ngủ do việc sử dụng thuốc ngủ kéo dài có thể gây nhiều tác dụng không mong muốn. Mất ngủ theo Y học cổ truyền (YHCT) thuộc chứng “Thất miên”, “Bất mị”, “Bất đắc miên”, … Nguyên nhân từ các tạng Tâm, Can, Tỳ, Thận [10].
2 Y học cổ truyền đã sử dụng nhiều phƣơng pháp để điều trị mất ngủ nhƣ các vị thuốc, bài thuốc, khí công, dƣỡng sinh, xoa bóp bấm huyệt, châm cứu, nhĩ châm và cấy chỉ. Cấy chỉ là một trong những phƣơng pháp chữa bệnh không dùng thuốc của YHCT, phƣơng pháp này dễ thực hiện, mang lại hiệu quả điều trị cao [11]. Trên cơ sở biện chứng luận trị chứng thất miên tƣơng ứng với nhóm huyệt: Tâm du, Tỳ du, Thận du, Thần môn, Tam âm giao thuộc hai thể Tâm Tỳ hƣ và Tâm Thận bất giao của YHCT, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá tác dụng của phương pháp cấy chỉ trong điều trị mất ngủ” với hai mục tiêu: 1. Đánh giá các yếu tố ảnh hƣởng đến mất ngủ của bệnh nhân điều trị tại Bệnh viện YHCT Trung ƣơng.
Đánh giá tác dụng của cấy chỉ trong điều trị mất ngủ và theo dõi tác dụng không mong muốn của phƣơng pháp. 3 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Giấc ngủ bình thƣờng 1. Sinh lý giấc ngủ Ngủ là một trạng thái sinh lý bình thƣờng của cơ thể có tính chất chu kỳ ngày đêm; trong đó toàn bộ cơ thể đƣợc nghỉ ngơi, tạm ngừng các hoạt động tri giác và ý thức, các cơ bắp giãn mềm, các hoạt động hô hấp tuần hoàn giảm chậm lại [7].
Hoạt động của não trong giấc ngủ là một hoạt động hiệu quả nhằm đảm bảo sự sống và phục hồi sức khoẻ của cơ thể sau một thời gian hoạt động. Ngay từ khi lọt lòng mẹ, đứa trẻ ngủ 20 giờ một ngày. Càng lớn lên trẻ ngủ giảm dần, đến 6 tuổi trẻ vẫn còn ngủ 10-12 giờ mỗi ngày. Ngƣời trƣởng thành ở lứa tuổi hoạt động mạnh nhất (18- 45 tuổi), nhu cầu mỗi ngày từ 7-8 giờ.
Sau 60 tuổi có thể 6 giờ là đủ, thậm chí những ngƣời già ngủ ít hơn [12],[10]. Nói chung cả cuộc đời một ngƣời khoẻ mạnh dành 1/3 thời gian cho ngủ và 2/3 thời gian thức. Các giai đoạn của giấc ngủ Giấc ngủ đƣợc chia thành 2 trạng thái riêng biệt: Trạng thái ngủ có cử động nhãn cầu nhanh (Rapid Eye Movement - REM) và trạng thái ngủ không có cử động nhãn cầu nhanh (Non-Rapid Eye Movement - NREM); sự thay đổi hoạt động điện của não thể hiện rõ nét trên điện não đồ [13], [14], [15], [16] Giấc ngủ NREM đƣợc chia thành 4 giai đoạn: [13], [14], [16] - Giai đoạn 1: Là khoảng thời gian ngủ lơ mơ, là giai đoạn chuyển từ trạng thái thức sang trạng thái ngủ, sóng điện não và hoạt động của cơ chậm xuống và có thể bắt gặp giật cơ đột ngột trong giai đoạn này. 4 - Giai đoạn 2: Là giai đoạn ngủ nhẹ nhàng, mắt ngừng chuyển động, sóng điện não trở nên chậm hơn và thỉnh thoảng có những đợt sóng nhanh, các cơ bắp giãn mềm, nhịp tim chậm và nhiệt độ cơ thể giảm xuống.
- Giai đoạn 3: Là giai đoạn ngủ sâu, có xuất hiện sóng chậm. - Giai đoạn 4: Ngủ rất sâu, và chỉ còn sóng chậm trên điện não. Giai đoạn này rất khó để đánh thức, nếu đánh thức ngƣời ngủ đột ngột lúc này đôi khi họ bị rơi vào tình trạng lú lẫn, có cảm giác lảo đảo, mất phƣơng hƣớng trong một vài phút sau khi thức dậy. Giấc ngủ REM [13], [14], [16] Giấc ngủ REM là giai đoạn đƣợc đánh dấu bởi hoạt động mạnh mẽ của não, mức độ hoạt động có thể tƣơng đƣơng lúc thức.
Sóng điện não nhanh và mất đồng bộ. Nhịp thở trở nên nhanh hơn, không đều và nông, mắt chuyển động nhanh theo các hƣớng khác nhau, cơ tay, chân biểu hiện liệt tạm thời. Nhịp tim, huyết áp tăng. Hầu hết các giấc mơ xảy ra ở giai đoạn này.1: Hình ảnh điện não thay đổi theo các giai đoạn thức, ngủ 1.
Cấu tạo của giấc ngủ Ở giấc ngủ bình thƣờng, giai đoạn REM và NREM thay đổi qua lại trong suốt đêm. Một chu kỳ ngủ đầy đủ, bao gồm chu kỳ REM và NREM xen kẽ nhau mỗi 90 - 110 phút, đƣợc lặp lại 4 - 6 lần mỗi đêm.2: Các giai đoạn ngủ trong 1 đêm ở người trưởng thành [15] Ở ngƣời trƣởng thành, phân bố các giai đoạn giấc ngủ nhƣ sau [16]: NREM (75%) Giai đoạn 1: 5% Giai đoạn 2: 45% Giai đoạn 3: 12% Giai đoạn 4: 13% REM (25%) Hình 1.3: Sự thay đổi các thành phần giấc ngủ theo tuổi [15] 1. Chức năng của giấc ngủ Các nghiên cứu gần đây cho thấy giấc ngủ có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc xử lý, củng cố các ký ức, sửa chữa hệ miễn dịch, phục hồi tái tạo năng lƣợng cho các hoạt động của đại não và điều chỉnh chức năng tâm thần. [17], [18] 6 Giấc ngủ REM đã đƣợc chú ý và tiến hành nghiên cứu từ lâu, có nhiều kết quả đã đƣợc đƣa ra.
Trong đó, một số vai trò đáng chú ý của giấc ngủ REM là: - Lọc sạnh các chất chuyển hóa tích tụ trong hệ thần kinh. - Đảm bảo cho nguồn phát các xung động để kích thích vỏ não. - Chuyển trí nhớ ngắn hạn thành trí nhớ dài hạn. - Bảo đảm cảm xúc diễn ra trong giấc mơ thích ứng đƣợc với môi trƣờng xung quanh khi thức - tỉnh.
- Tổ chức lại luồng xung động thần kinh bị RL trong giấc ngủ NREM, là giai đoạn chuyển tiếp sang thức - tỉnh, chuẩn bị tiếp nhận thông tin mới. Mất ngủ theo Y học hiện đại 1. Khái niệm Mất ngủ hay mất ngủ mạn tính (kéo dài hơn 1 tháng): đó là trạng thái khó khăn lặp đi lặp lại về việc đi vào giấc ngủ, duy trì giấc ngủ, không thoả mãn về số lƣợng và chất lƣợng giấc ngủ và dẫn đến một số suy giảm chức năng ban ngày: cảm giác mệt mỏi, thiếu hụt giấc ngủ, ảnh hƣởng đến hoạt động xã hội và nghề nghiệp [3]. Dịch tễ học mất ngủ Theo các nghiên cứu dịch tễ học, tỷ lệ mất ngủ trong cộng đồng dao động từ 20-30% và tỷ lệ này cao hơn ở ngƣời cao tuổi [19].
Năm 2001, Sutton và cộng sự báo cáo 24% dân số Canada độ tuổi từ 15 trở lên bị mất ngủ [20]. Ở Hoa kỳ: 10-20% ngƣời mất ngủ đáng kể, trong đó đa số các trƣờng hợp không đƣợc quan tâm đúng mức và điều trị thích hợp [21]. Theo TCYTTG, nghiên cứu 15 khu vực khác nhau trên thế giới ƣớc tính 26,8% ngƣời trên thế giới bị mất ngủ đƣợc khám và điều trị tại các trung tâm chăm sóc sức khoẻ ban đầu [7]. 7 Ở Việt nam, các nghiên cứu về dịch tễ học mất ngủ còn hạn chế.
Theo nghiên cứu của bác sỹ Bùi Quang Huy năm 2016, khoảng 30 đến 45% bệnh nhân ở lứa tuổi trƣởng thành bị mất ngủ hàng năm [10]. Về tuổi, nhiều nghiên cứu cho rằng tuổi cao là một yếu tố nguy cơ của mất ngủ vì độ trễ của giấc ngủ tăng dần theo tuối sau 35 và giấc ngủ bị gián đoạn tăng theo độ tuổi đặc biệt ở tuổi 75 trở lên [22][23]. Về giới, kết quả của nhiều nghiên cứu cho thấy tỷ lệ mất ngủ ở nữ cao hơn ở nam và tỷ lệ này thƣờng là 1,5/1 [24]. Lƣơng Hữu Thông (1995) khảo sát trên 100 bệnh nhân cho thấy tỷ lệ mất ngủ khác nhau ở 2 giới: nam 34,5 - 40%, nữ 60 - 65,5%.
Mặc dù phụ nữ thƣờng đi ngủ sớm hơn nam giới và thức dậy muộn hơn nhƣng hiệu quả giấc ngủ thấp hơn ở phụ nữ. Điều này là do tần suất thức giấc ban đêm ở phụ nữ nhiều hơn nam giới [23], [25],[22]. Nghiên cứu của Zhang B, Wing YK cũng cho thấy tỷ lệ mất ngủ ở nữ giới cao hơn nam giới [26]. Nguyên nhân - Mất ngủ là một triệu chứng phổ biến của các rối loạn tâm thần khác nhƣ: rối loạn cảm xúc, tâm căn, thực tổn và ăn uống, nghiện độc chất và tâm thần phân liệt, của các rối loạn giấc ngủ khác nhƣ ác mộng - Do tâm lý: Mất ngủ thƣờng xảy ra sau một sang chấn tâm lý (SCTL) hoặc xảy ra sau một loạt những sự kiện bất lợi trong cuộc sống.
- Có một số trƣờng hợp bị mất ngủ mạn tính ngay từ khi còn nhỏ. - Yếu tố gia đình, cũng nhƣ vai trò của nhân cách: chƣa có tài liệu nào khẳng định cụ thể. - Các nguyên nhân thông thƣờng: thay đổi công việc, rối loạn nhịp thức ngủ, buồn rầu, suy nhƣợc… [3]. Chẩn đoán mất ngủ trên lâm sàng Các triệu chứng về giấc ngủ: 8 - Thời lƣợng giấc ngủ giảm: thời lƣợng ngủ của tất cả các bệnh nhân đều giảm, nhiều bệnh nhân chỉ ngủ đƣợc 3 - 4 giờ/ ngày, thậm chí có bệnh nhân thức trắng đêm.