Luận án tiến sĩ đánh giá hiệu quả của phác đồ lọc máu tích cực phối hợp ethanol đường uống trong điều trị ngộ độc cấp methanol

Luận án tiến sĩ đánh giá hiệu quả phác đồ lọc máu tích cực kết hợp ethanol đường uống trong điều trị ngộ độc cấp methanol, mang lại giải pháp tối ưu.

Trường đại học

Trường Đại học Y Hà Nội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ y học

Không rõ

188
2
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1. Sơ lược về tình hình ngộ độc cấp methanol trên thế giới và Việt Nam

1.2. Đại cương về methanol

1.2.1. Độc động học

1.2.2. Liều gây độc

1.2.3. Chuyển hóa trong cơ thể và cơ chế gây độc của methanol

2. CHƯƠNG 2: ĐẶT VẤN ĐỀ

2.1. Sơ lược về tình hình ngộ độc cấp methanol trên thế giới và Việt Nam

3. CHƯƠNG 3: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. Đối tượng nghiên cứu

3.2. Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân

3.3. Tiêu chuẩn loại trừ

3.4. Phương pháp nghiên cứu

3.5. Địa điểm và thời gian nghiên cứu

3.6. Thiết kế nghiên cứu

3.7. Phương tiện nghiên cứu

3.8. Tiến hành nghiên cứu

3.9. Các biến số nghiên cứu

3.10. Phương pháp thu thập số liệu

3.11. Một số tiêu chuẩn và định nghĩa

3.12. Xử lí số liệu

3.13. Đạo đức trong nghiên cứu

4. CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

4.1. Đặc điểm chung của nhóm bệnh nhân nghiên cứu

4.2. Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và một số yếu tố liên quan đến tổn thương thần kinh thị giác và tử vong ở bệnh nhân ngộ độc cấp methanol

4.3. Đánh giá hiệu quả phác đồ lọc máu tích cực phối hợp với ethanol đường uống trong điều trị ngộ độc cấp methanol

4.3.1. Hiệu quả trên lâm sàng của phác đồ phối hợp lọc máu tích cực và ethanol đường uống

4.3.2. Hiệu quả trên xét nghiệm của phác đồ lọc máu tích cực phối hợp với ethanol đường uống trong điều trị ngộ độc cấp methanol

4.4. Một số đặc điểm liên quan lọc máu

4.5. Một số đặc điểm của phác đồ ethanol đường uống

4.6. Hạn chế của đề tài

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

1. DANH MỤC BẢNG

2. DANH MỤC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ

3. DANH MỤC HÌNH

Tóm tắt

I. Phác đồ lọc máu tích cực

Phác đồ lọc máu tích cực là một phương pháp điều trị quan trọng trong ngộ độc methanol cấp. Phương pháp này nhằm loại bỏ methanol và các chất chuyển hóa độc hại như acid formic ra khỏi cơ thể, đồng thời điều chỉnh tình trạng toan chuyển hóa. Lọc máu tích cực bao gồm thẩm tách máu kéo dài 8 giờ cho bệnh nhân huyết động ổn định và lọc máu liên tục cho bệnh nhân nguy kịch. Phác đồ này được áp dụng tại Trung tâm Chống độc Bệnh viện Bạch Mai dựa trên hướng dẫn của Bộ Y tế và các nghiên cứu quốc tế. Hiệu quả phác đồ được đánh giá thông qua cải thiện triệu chứng lâm sàng và kết quả xét nghiệm.

1.1. Cơ chế hoạt động

Lọc máu tích cực hoạt động bằng cách loại bỏ methanol và các chất chuyển hóa độc hại thông qua quá trình thẩm tách máu. Phương pháp này giúp giảm nồng độ methanol trong máu, ngăn chặn sự hình thành acid formic, chất gây toan chuyển hóa và tổn thương thần kinh. Lọc máu tích cực cũng giúp điều chỉnh pH máu, cải thiện tình trạng toan chuyển hóa, từ đó giảm nguy cơ tử vong và di chứng nặng.

1.2. Chỉ định và thời gian lọc máu

Lọc máu tích cực được chỉ định cho bệnh nhân có nồng độ methanol máu trên 20 mg/dl hoặc có triệu chứng toan chuyển hóa nặng. Thời gian lọc máu phụ thuộc vào tình trạng huyết động của bệnh nhân. Bệnh nhân ổn định được lọc máu kéo dài 8 giờ, trong khi bệnh nhân nguy kịch được lọc máu liên tục. Hiệu quả phác đồ được đánh giá thông qua việc giảm nồng độ methanol và cải thiện các chỉ số toan chuyển hóa.

II. Ethanol uống trong điều trị ngộ độc methanol

Ethanol uống là một chất giải độc đặc hiệu được sử dụng trong điều trị ngộ độc methanol. Ethanol có ái lực cao với enzym alcohol dehydrogenase (ADH), ngăn chặn quá trình chuyển hóa methanol thành acid formic. Ethanol uống được sử dụng kết hợp với lọc máu tích cực để tăng hiệu quả điều trị. Phác đồ này được áp dụng tại Trung tâm Chống độc Bệnh viện Bạch Mai và cho thấy hiệu quả trong việc giảm tỷ lệ tử vong và di chứng.

2.1. Cơ chế tác dụng của ethanol

Ethanol uống hoạt động bằng cách ức chế enzym ADH, ngăn chặn quá trình chuyển hóa methanol thành acid formic. Điều này giúp giảm sự tích tụ acid formic, chất gây toan chuyển hóa và tổn thương thần kinh. Ethanol uống cũng giúp kéo dài thời gian bán thải của methanol, tạo điều kiện cho lọc máu tích cực loại bỏ methanol hiệu quả hơn.

2.2. Liều lượng và cách dùng

Liều lượng ethanol uống được tính toán dựa trên trọng lượng cơ thể và nồng độ methanol trong máu. Ethanol được dùng đường uống với liều khởi đầu 0,6 g/kg, sau đó duy trì liều 0,1-0,15 g/kg/giờ. Hiệu quả phác đồ được đánh giá thông qua việc đạt được nồng độ ethanol điều trị trong máu và giảm nồng độ methanol.

III. Đánh giá hiệu quả phác đồ điều trị

Đánh giá hiệu quả phác đồ lọc máu tích cực kết hợp ethanol uống được thực hiện thông qua việc theo dõi các chỉ số lâm sàng và cận lâm sàng. Kết quả cho thấy phác đồ này giúp giảm tỷ lệ tử vong và di chứng nặng ở bệnh nhân ngộ độc methanol cấp. Hiệu quả phác đồ được thể hiện qua cải thiện triệu chứng lâm sàng, giảm nồng độ methanol, và điều chỉnh tình trạng toan chuyển hóa.

3.1. Hiệu quả trên lâm sàng

Hiệu quả phác đồ được đánh giá thông qua cải thiện các triệu chứng lâm sàng như hôn mê, suy hô hấp, và tổn thương thần kinh thị giác. Bệnh nhân được điều trị bằng lọc máu tích cực kết hợp ethanol uống có tỷ lệ tử vong thấp hơn và di chứng nhẹ hơn so với các phương pháp điều trị khác.

3.2. Hiệu quả trên cận lâm sàng

Hiệu quả phác đồ cũng được thể hiện qua việc giảm nồng độ methanol trong máu, điều chỉnh pH máu, và giảm khoảng trống anion. Các chỉ số này cho thấy lọc máu tích cực kết hợp ethanol uống giúp loại bỏ methanol và các chất chuyển hóa độc hại hiệu quả, từ đó cải thiện tiên lượng bệnh.

01/03/2025
Luận án tiến sĩ đánh giá hiệu quả của phác đồ lọc máu tích cực phối hợp ethanol đường uống trong điều trị ngộ độc cấp methanol

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN 1. Sơ lược về tình hình ngộ độc cấp methanol trên thế giới và Việt Nam Thế giới: Theo thống kê của Tổ chức y tế thế giới trong những năm gần đây có nhiều vụ ngộ độc cấp methanol xảy ra ở nhiều quốc gia như Campuchia, Indonesia, Ấn Độ, Pakistan, Na Uy, Cộng hòa Séc, Estonia, Thổ Nhĩ Kỳ, Ecuador, Libya, Kenya, Nicaragus, Uganda. Các vụ dịch này có từ 20 đến hơn 800 bệnh nhân, với tỷ lệ tử vong lên tới hơn 30%. Vụ ngộ độc methanol ở Na Uy từ 2002 đến 2004 có 17 bệnh nhân tử vong sau khi uống rượu lậu chứa 20% methanol7.

Từ 2005 đến 2012 Trung tâm chống độc Hà Lan đã tư vấn khoảng 800 trường hợp tiếp xúc với methanol chủ yếu qua đường tiêu hóa. Trong năm 2007, các trung tâm chống độc Mỹ tiếp nhận 2283 trường hợp nghi ngờ ngộ độc methanol8. Năm 2010 có hơn 9000 bệnh nhân ngộ độc methanol và ethylenglycol9. Vụ ngộ độc methanol nghiêm trọng tại Cộng hòa Séc năm 2012 có tổng số 121 bệnh nhân, 20 bệnh nhân tử vong trước khi đến bệnh viện, 20 bệnh nhân di chứng về thị lực và thần kinh trung ương, có 21 bệnh nhân tử vong tại bệnh viện10.

Tại Tripoli, Libya hơn 1000 bệnh nhân bị nhiễm độc với tử vong khoảng 10% (101/1066). Tại Kenya, kết quả thống kê hai vụ dịch có khoảng 341 và 126 bệnh nhân, với tỷ lệ tử vong tương ứng là 29% và 21%11. Một nghiên cứu tại viện trường Ostfold, Na Uy trong 2 năm (2002-2004) có 59 bệnh nhân, nhập viện 51, tử vong trước viện 8, trong số 51 bệnh nhân đều được điều trị bằng bicarbonat, fomepizole và lọc máu tỉ lệ tử vong 18%, di chứng 10%7. Tại Iran trong vòng 1 năm (2009-2010) có 46 bệnh nhân ngộ độc methanol được điều trị bằng lọc máu ngắt quãng và bicarbonat, không sử dụng fomepizole, tỉ lệ tử vong 11%12.

Tác giả Ruhksana nghiên cứu trong 4 năm tại Karachi của Pakistan có tổng số 188 bệnh nhân, tỉ lệ tử vong rất cao 38,83%, di chứng 35,64%13 4 Ở Đài Loan tác giả Lee và cộng sự báo cáo trong 9 năm (2000-2008) có 32 bệnh nhân ngộ độc cấp methanol, 59,4% điều trị bằng ethanol, 58,1% lọc máu ngắt quãng, tỉ lệ tử vong 34,4%, di chứng 46,9%14. Việt Nam: Nước ta do tập quán uống rượu tự pha chế, nấu rượu lậu, sử dụng rượu không rõ nguồn gốc, các chế phẩm cồn sát khuẩn giả là những yếu tố tiềm ẩn liên quan đến ngộ độc methanol. Một số nghiên cứu về ngộ độc methanol tại TTCĐ Bệnh viện Bạch Mai cho thấy ngộ độc cấp methanol ngày càng gia tăng và tỷ lệ tử vong và di chứng cao. Tác giả Nguyễn Đàm Chính nghiên cứu trên 30 bệnh nhân từ năm 2011-2013 tỉ lệ tử vong trong nhóm nặng phải lọc máu là 41%2.

Tác giả Lưu Thị Liên nghiên cứu các yếu tố liên quan tử vong trên 107 bệnh nhân ngộ độc cấp methanol trong 4 năm thấy tỉ lệ tử vong rất cao 41,1%, một số yếu tố nguy cơ liên quan đến tử vong là thời gian đến viện muộn > 24 giờ, hôn mê sâu (điểm Glasgow < 8), toan chuyển hóa pH < 7,0, tổn thương thận cấp, tăng đường máu và tụt HA15. Đại cương về methanol Methanol hay còn gọi là methyl alcohol có công thức hóa học là CH 4O hay CH3OH được người Hy Lạp cổ tình cờ phát hiện khi thủy phân gỗ, tuy nhiên sản phẩm methanol lúc đó tồn tại dưới dạng tạp chất, lẫn với các chất khác. Methanol nguyên chất được tổng hợp lần đầu tiên bởi Robert Boyle vào năm 1661 bằng cách thủy phân gỗ Hoàng Dương. Đến nay methanol được sản xuất trong công nghiệp bằng phản ứng hóa học với cơ chất sử dụng phổ biến là carbon monoxide (CO), carbon dioxide (CO 2) và khí hydro (H2).

Methanol là một dung dịch không màu, bay hơi ở nhiệt độ phòng, trọng lượng phân tử 32dalton, điểm sôi là 64,7°C, trọng lượng riêng là 0,8116. Trong tự nhiên tồn tại một số loại vi khuẩn sinh ra methanol thông qua phản ứng chuyển hóa kỵ khí nhưng sau đó methanol lại phản ứng với oxy chuyển hóa thành khí CO2 và nước. Do đó lượng methanol sinh ra do phản ứng lên men của vi khuẩn tự nhiên có số lượng không đáng kể. Độc động học * Hấp thu: Methanol hấp thu nhanh sau khi uống với thời gian hấp thu trung bình là 5 phút17 tùy thuộc sự có mặt thức ăn hay không, nồng độ đỉnh đạt được sau 30- 60 phút18,19.

Methanol hấp thu tương đối tốt qua da20. Methanol hấp thu tốt ở đường hô hấp vì nó tan trong nước và hấp phụ một phần bởi chất nhầy đường hô hấp, ước tính hấp thu qua phổi khoảng 65-75%21. * Phân bố: Methanol tan trong nước, thể tích phân bố khoảng 0,6-0,7 l/kg, không gắn protein huyết tương, thời gian bán thải trung bình là 14-30 giờ, nếu uống cùng ethanol thời gian này là 43-96 giờ22. Liều gây độc Hầu hết các chuyên gia đều thống nhất bắt đầu điều trị giải độc khi nồng độ methanol máu từ 20mg/dl vì đây là nồng độ bắt đầu có tổn thương thị giác và toan chuyển hóa.

Uống 30-100 ml methanol nguyên chất gây tử vong, liều nhỏ hơn 4 ml gây suy giảm thị lực thậm chí gây mù23,24. Chuyển hóa trong cơ thể và cơ chế gây độc của methanol Chuyển hóa methanol Sơ đồ 1. Chuyển hóa methanol và vị trí tác động một số thuốc25 6 Methanol vào cơ thể qua đường tiêu hóa, hô hấp, qua da, hoặc trực tiếp qua đường tĩnh mạch, trải qua quá trình hấp thu nhanh sau đó tới tất cả các tạng và mô26. Quá trình chuyển hóa methanol chủ yếu xảy ra ở tế bào gan (97%), lượng nhỏ bị thải trừ ở dạng nguyên chất qua nước tiểu (1%) và khí thở ra (2,5%)22.

Chuyển hóa methanol qua 2 giai đoạn27. Giai đoạn 1: chuyển hóa methanol thành formaldehyd nhờ 3 hệ thống enzym: acohol dehydrogenase (ADH), hệ thống oxy hóa rượu ở microsom (microsome alcohol oxidizing system- MEOS) và catalase. Giai đoạn 2: formaldehyd được hình thành là một chất độc sẽ nhanh chóng được enzym formaldehyd dehydrogenase (FDH) chuyển thành acid formic. Phần lớn methanol chuyển hóa nhờ ADH.

Khoảng 10% methanol được chuyển hóa nhờ hệ thống MEOS28. Hoạt động của MEOS tăng mạnh ở những người lạm dụng rượu và ngộ độc đồng thời ethanol. Ở người lạm dụng rượu hệ thống MEOS, đặc biệt là enzym Cytochrom P450 CYP2E1 và CYP2E1 có vai trò quan trọng vì chúng được cảm ứng tăng hoạt động lên 10 lần. Khi đó lượng methanol sẽ được chuyển hóa nhiều hơn, nhanh hơn tạo thành sản phẩm độc là acid formic gây toan chuyển hóa, gắn vào màng tế bào gây tổn thương tế bào.

CYP2E1 không chỉ có vai trò trong chuyển hóa methanol mà còn tham gia vào hệ thống giáng hóa nhiều chất của cơ thể cũng như chất lạ từ bên ngoài như các loại thuốc, thuốc lá. Đây chính là lí do tại sao chuyển hóa methanol ngoài phụ thuộc vào hệ thống enzym còn phụ thuộc vào gen, tình trạng dinh dưỡng, hút thuốc lá và lạm dụng rượu30. Nghiên cứu tại cộng hòa Séc đã tiến hành phân tích gen của 50 trường hợp sống sót sau 3-8 tháng trong vụ ngộ độc methanol thấy rằng gen mã hóa enzym CYP2E1 có thể có vai trò trong ngộc độc cấp methanol. Những trường hợp CYP2E1 có biến thể alen ít gặp (xác định bởi phản ứng với enzym PstI, so với alen thường gặp được xác định bởi enzym RsaI) sẽ có triệu chứng lâm sàng tốt hơn, di chứng ít hơn, kết cục tốt hơn31.

7 Acid formic là độc tố chính gây toan chuyển hóa, ức chế hô hấp tế bào, tổn thương thần kinh thị giác, thần kinh trung ương. Acid formic chuyển hóa thành format và ion hydro sau đó chuyển hóa đến sản phẩm cuối cùng là CO 2 và H2O nhờ tetrahydrofolat, 10-formy H4 folat synthetase và 10-formy H4 folat dehydrogenase. Các biểu hiện của ngộ độc có thể giảm hoặc được ngăn chặn bằng cách sử dụng ethanol là chất có ái lực cao với enzym ADH hoặc fomepizole là chất ức chế enzym ADH để ngăn chặn chuyển hóa methanol32. Cụ thể như sau: - Trong cơ thể người ethanol cũng được chuyển hóa tương tự methanol.

Ethanol có ái lực cao với enzym ADH (gấp 7-10 lần so với methanol), nếu cùng tồn tại với methanol thì enzym ADH sẽ chuyển hóa ethanol trước thành acetaldehyd sau đó nhờ aldehyd dehydrogenase chuyển hóa thành acid acetic là sản phẩm không độc và chuyển hóa đến sản phẩm cuối cùng là CO2 và H2O, kéo dài thời gian bán thải của methanol cũng như kéo dài sự có mặt của methanol trong máu 33, chờ các biện pháp lọc máu để loại bỏ methanol. - Fomepizole (4MP) là chất có tác dụng ức chế hoạt động của enzym ADH do đó ngăn cản việc chuyển hóa methanol thành formaldehyd từ đó ngăn cản việc hình thành acid formic. Không hình thành sản phẩm độc là acid formic sẽ không gây ra triệu chứng ngộ độc. Tương tự ethanol, 4-MP không làm methanol mất đi trong máu mà chỉ kéo dài sự tồn tại của methanol ở dạng không độc, chờ lấy ra bằng biện pháp lọc máu34.

- Acid formic chuyển hóa thành format sau đó thành CO 2 và H2O, acid fonilic có tác dụng đẩy nhanh chuyển hóa format, ngăn ngừa format tích tụ trong các tạng, tuy nhiên quá trình này phụ thuộc vào sự xúc tác của vitamin B12 và S-adenosylmethionin35. - Bản thân acid formic gây toan máu cộng thêm với quá trình chuyển hóa methanol cần NAD+ sinh ra NADH, sau đó NADH tham gia chuyển pyruvat thành acid lactic, như vậy càng làm tình trạng toan máu nặng hơn, dẫn đến hình thành nhiều acid formic không phân ly càng ngấm sâu vào mắt, 8 thần kinh trung ương gây độc 26. Do đó cần dùng bicarbonat và lọc máu để điều chỉnh tình trạng toan hóa máu36. Tốc độ oxy hóa methanol trong máu chậm hơn nhiều so với ethanol và phụ thuộc nồng độ, không bị ảnh hưởng bởi đường vào.

Khi một lượng nhỏ methanol (< 0,1g/kg) vào cơ thể, kết quả nồng độ trong máu khoảng 2-10 mg/dl và giảm xuống theo mô hình bậc một (first order kinetics: tốc độ thải trừ phụ thuộc vào nồng độ của chất), thời gian bán thải khoảng 2-3 giờ, 96,9% methanol được chuyển hóa25. Khi một lượng lớn methanol (>1g/kg) vào cơ thể, kết quả nồng độ trong máu >300mg/dl và giảm xuống theo mô hình bậc 0 (zero-order kinetics: tốc độ thải trừ không đổi, không phụ thuộc nồng độ), thời gian bán thải tăng lên 24 giờ, thậm chí là hơn và chỉ khoảng 78% methanol được chuyển hóa. Vì ở nồng độ cao như vậy hệ thống enzym ADH, FDH, MEOS, catalase bị bão hòa không đủ để chuyển hóa methanol37. Cơ chế gây độc của methanol Acid formic gây toan chuyển hóa Methanol được chuyển hóa thành formaldehyd.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Đánh giá hiệu quả phác đồ lọc máu tích cực kết hợp ethanol uống trong điều trị ngộ độc methanol cấp là một nghiên cứu quan trọng tập trung vào việc cải thiện kết quả điều trị cho bệnh nhân ngộ độc methanol, một tình trạng nguy hiểm có thể dẫn đến tử vong nếu không được xử lý kịp thời. Nghiên cứu này nhấn mạnh hiệu quả của việc kết hợp lọc máu tích cực với ethanol uống, giúp giảm thiểu độc tính và tăng tỷ lệ sống sót cho bệnh nhân. Đây là một hướng tiếp cận tiên tiến, mang lại hy vọng lớn trong việc điều trị các ca ngộ độc cấp tính.

Để mở rộng kiến thức về các phương pháp điều trị hiệu quả trong y học, bạn có thể tham khảo thêm Luận án tiến sĩ nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng và kết quả điều trị dị vật đường thở bằng nội soi ống cứng trực tiếp, nghiên cứu này cung cấp cái nhìn sâu sắc về việc ứng dụng kỹ thuật nội soi trong điều trị các vấn đề hô hấp. Ngoài ra, Luận án nghiên cứu đáp ứng xơ hóa gan ở bệnh nhân viêm gan virus c mạn kiểu gen 1 6 điều trị bằng sofosbuvir phối hợp ledipasvir cũng là một tài liệu đáng chú ý, giúp hiểu rõ hơn về các phương pháp điều trị bệnh gan mãn tính. Cuối cùng, Luận án nghiên cứu ứng dụng kỹ thuật kiểm soát chọn lọc cuống glisson trong cắt gan điều trị ung thư tế bào gan sẽ mang đến thông tin chi tiết về kỹ thuật phẫu thuật tiên tiến trong điều trị ung thư gan.

Các tài liệu này không chỉ bổ sung kiến thức chuyên sâu mà còn mở rộng góc nhìn về các phương pháp điều trị hiện đại, giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn trong lĩnh vực y học.