CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1. Định nghĩa năng lượng Có nhiều định nghĩa về năng lượng như sau: Theo Tập đoàn Điện lực Việt Nam: [1] “Năng lượng là khả năng để làm một việc gì, năng lượng có trong mọi thứ xung quanh chúng ta và cần thiết cho tất cả các khía cạnh đời sống. Cơ thể chuyển thức ăn thành năng lượng để duy trì cuộc sống cho chúng ta.
Nhiên liệu cung cấp năng lượng cho xe chạy. Năng lượng cũng tạo ra điện, cấp điện cho các hộ gia đình và doanh nghiệp”. Theo Bộ Tài nguyên và Môi trường Việt Nam: [2] “Năng lượng là một dạng tài nguyên vật chất xuất phát từ hai nguồn chủ yếu: Năng lượng mặt trời và năng lượng lòng đất”. Các dạng năng lượng - Năng lượng tái tạo: • Năng lượng sinh khối: sinh khối bao gồm cây cối, cây trồng công nghiệp, tảo và các loài thực vật khác, hoặc là những bã nông nghiệp và lâm nghiệp (rơm rạ, bã mía, vỏ, xơ bắp, lá khô, vụn gỗ v.), giấy vụn, mêtan từ các bãi chôn lấp, trạm xử lý nước thải, phân từ các trại chăn nuôi gia súc và gia cầm.
[6] • Năng lượng gió: là động năng của không khí di chuyển trong bầu khí quyển Trái Đất. Năng lượng gió là một hình thức gián tiếp của năng lượng mặt trời. [7] • Năng lượng thủy triều: là một dạng của thủy năng có thể chuyển đỗi năng lượng thu được từ thuỷ triều thành các dạng năng lượng hữu ích khác, chủ yếu là điện. [8] • Năng lượng mặt trời: là năng lượng của dòng bức xạ điện từ xuất phát từ Mặt Trời, cộng với một phần nhỏ năng lượng của các hạt hạ nguyên tử khác phóng ra từ ngôi sao này.
[9] 6 do an • Năng lượng địa nhiệt: là năng lượng được tách ra từ nhiệt trong tâm Trái Đất. Năng lượng này có nguồn gốc từ sự hình thành ban đầu của hành tinh, từ hoạt động phân hủy phóng xạ của các khoáng vật, và từ năng lượng mặt trời được hấp thụ tại bề mặt Trái Đất. [10] • Năng lượng Hydro: năng lượng từ nguyên tử Hydro - Năng lượng không tái tạo: • Năng lượng hóa thạch: năng lượng sinh ra trong quá trình đốt than đá, dầu mỏ, khí tự nhiên,… • Năng lượng hạt nhân: là một loại công nghệ hạt nhân được thiết kế để tách năng lượng hữu ích từ hạt nhân nguyên tử thông qua các lò phản ứng hạt nhân có kiểm soát. Nhiên liệu để sinh ra năng lượng là uranium.
Tình hình sử dụng năng lượng ở nước ta Trong 25 năm qua, tăng trưởng kinh tế của Việt Nam đạt hơn 6% mỗi năm kéo theo nhu cầu năng lượng tăng nhanh gấp đôi so với GDP. Với nhu cầu năng lượng tăng liên tục làm cho thực trạng sử dụng năng lượng ở Việt Nam nhiều hơn, ngành năng lượng đối mặt với nhiều thách thức như nguồn nguyên liệu hạn chế, ô nhiễm môi trường và biến đổi khí hậu. [3] Một nguồn cung cấp năng lượng ổn định là yêu cầu quan trọng đối với một thị trường mới nổi như Việt Nam. Đến cuối năm 2014, công suất phát 34 GW đã được lắp đặt, sản xuất khoảng 146 TWh điện.
Giả định của Kế hoạch phát triển năng lượng VII (PDP VII) dự đoán nhu cầu điện năng tăng lên gần 2,4 lần trong 5 năm tới, đạt nhu cầu 350 TWh vào năm 2020, với công suất lắp đặt là 75 GW. 7 do an (Viện những vấn đề phát triển, 2017) Biểu đồ 1. Thực trạng sử dụng năng lượng ở Việt Nam trong các lĩnh vực Theo PDP, các nhà máy điện than sẽ chủ yếu đóng góp vào việc mở rộng công suất thiết yếu, vượt qua thủy điện làm nguồn tài nguyên chính cho phát điện. Hiện tại, sản xuất điện vẫn bị chi phối bởi thủy điện với tỷ lệ 41% trong sản xuất điện, tiếp theo là khí đốt tự nhiên với 31% và than đá với 26%.
Do nguồn than và khí đốt trong nước hạn chế, phụ thuộc nhập khẩu nhiên liệu hóa thạch Việt Nam sẽ tăng lên. Ngoại trừ thủy điện, các thị trường cho năng lượng tái tạo như năng lượng gió và mặt trời đang ở giai đoạn phát triển rất sớm. Kiến thức và thông tin đáng tin cậy về phát triển dự án hoặc quy trình quy định là rất hạn chế. Tình hình phát triển năng lượng quốc gia 1.
Tổng quan về năng lượng Việt Nam Nền kinh tế Việt Nam đã thay đổi nhanh chóng trong vài thập kỷ qua với việc chuyển từ một nền kinh tế nông nghiệp sử dụng năng lượng chủ yếu dựa trên các loại nhiên liệu sinh khối truyền thống sang một nền kinh tế sử dụng các dạng năng lượng tổng hợp và hiện đại. Tổng giá trị sản phẩm quốc nội (GDP) đầu người đã tăng từ 114 USD vào năm 1990 đến 2.587 USD vào năm 2018 như là một dấu mốc quan trọng đưa Việt Nam trở thành một quốc gia thu nhập trung bình. Chính phủ luôn coi tăng trưởng kinh tế là một ưu tiên hàng đầu, tuy nhiên các chiến lược của Chính phủ đều nhấn mạnh rằng tăng trưởng nhanh phải song song với phát triển bền vững, gắn liền với công bằng và hòa nhập xã hội. 8 do an Việt Nam có nhiều loại nguồn năng lượng sơ cấp nội địa như dầu thô, than đá, khí, thủy điện và năng lượng phi thương mại (năng lượng sử dụng trong sinh hoạt như củi gỗ, các chất phế thải từ sản xuất nông nghiệp, rác) là những nguồn năng lượng được khai thác trong nước.
Trong những năm gần đây, tổng năng lượng khai thác có xu hướng ổn định, chủ yếu là do sản lượng khai thác các sản phẩm thương mại không có sự đột biến lớn về lượng. Với mức độ tăng cao về nhu cầu năng lượng sơ cấp phục vụ cho phát triển kinh tế, đảm bảo an ninh năng lượng, Việt Nam đã trở thành nước nhập khẩu tịnh năng lượng từ năm 2015. Tổng cung cấp năng lượng sơ cấp của Việt Nam năm 2017 là 71.903 KTOE, tăng 1,98% so với năm 2016. Trong cơ cấu cung năng lượng sơ cấp, năng lượng thương mại chiếm 89,0% và năng lượng phi thương mại chiếm 11,0%.
Chi tiết về dạng nhiên liệu thương mại, than chiếm vị trí dẫn đầu với 37,8%, tiếp đến Dầu thô và các sản phẩm dầu chiếm 28,3%, Khí tự nhiên ở vị trí thứ 3 với 12,3%, Thủy điện kết hợp lượng tịnh xuất nhập khẩu điện và các dạng phát điện từ nguồn năng lượng sạch ở vị trí cuối cùng với 10,5%. Cũng theo số liệu thống kê, lượng năng lượng phải thông qua quá trình chuyển đổi là gần 40 ngàn KTOE, tương đương 55,5% tổng cung năng lượng sơ cấp. Sự chuyển dịch sang năng lượng hóa thạch đã và đang tham gia vào việc tăng phát thải khí nhà kính. Tổng tiêu thụ năng lượng cuối cùng (TFC) ước tính của năm 2017 là 55.659 KTOE, tăng 3,49% so với năm 2016.
Có thể thấy mức tăng này chỉ bằng một nửa so với tăng trưởng GDP cùng kỳ. Trong cơ cấu tiêu thụ, các sản phẩm xăng dầu ở vị trí dẫn đầu với 37,1%, kế tiếp là Điện với 27%, Than 20,1%, Biomass và năng lượng mặt trời 14,2%, Khí tự nhiên chủ yếu dùng cho sản xuất phân đạm và một số ứng dụng nhiệt trong sản xuất thép, sứ và làm CNG trong giao thông chỉ chiếm 1,6% trong tổng tiêu thụ năng lượng cuối cùng. Năm 2017, tổng điện sản xuất và mua đạt 192,45 tỷ kWh, tăng 8,6% so với năm 2016, điện thương phẩm đạt 174,05 tỷ kWh, tăng 8,92% so với năm 2016. Trong giai đoạn 2011- 2015 tổng công suất đặt nguồn điện toàn quốc tăng bình quân 12,8%/năm, cao hơn mức tăng trưởng phụ tải cực đại cùng giai đoạn là 9,6%/năm, trong đó công suất đặt nguồn điện 9 do an năm 2015 đạt 39.350 MW (tăng 1,8 lần so với năm 2010) đứng thứ 2 trong các nước ASEAN.
Tình hình nhập khẩu năng lượng Việt Nam Với hiện trạng xuất nhập khẩu năng lượng của năm 2017, số liệu cho thấy Việt Nam tiếp tục là quốc gia nhập khẩu năng lượng kể từ 2015. Lượng tịnh nhập khẩu là 13.189 KTOE, tương đương 18,3% tổng cung năng lượng sơ cấp. Về mặt giá trị, tổng kim ngạnh nhập khẩu là 10,65 tỷ USD tăng đột biến 44,5% so với năm 2016. Như vậy, chi phí nhập khẩu năng lượng chiếm tương đương với 6,1% của GDP, trong khi đó ở năm 2016 giá trị này chỉ là 4,5%.
Nếu xét về lượng, tổng năng lượng nhập khẩu của năm 2017 là 24.019 KTOE chỉ tăng 12% so với năm 2016. Tuy nhiên, giá trung bình nhập khẩu của tất cả các sản phẩm đều tăng đáng kể, ở mức xấp xỉ 100 USD trên mỗi tấn sản phẩm xăng dầu, riêng than tăng từ 73 USD lên 104 USD/tấn. Nếu xem xét lại xu thế nhập khẩu từ năm 2015 sẽ thấy giá năng lượng nhập khẩu sau 1 năm giảm đáng kể, đã tăng trở lại vào năm 2017. Trong cơ cấu nhập khẩu, các sản phẩm xăng dầu chiếm 63,5%, than chiếm 34,2%, kế đến là Dầu thô và Điện tương ứng 1,4% và 0,8% của tổng năng lượng nhập khẩu.
Mặc dù là quốc gia xuất khẩu dầu thô, nhưng trong năm 2017 Việt Nam đã nhập hơn 330 ngàn tấn dầu thô nhằm cung cấp nguyên liệu cho nhà máy lọc dầu. Theo cập nhật mới nhất từ Tổng cục Hải Quan, trong 6 tháng đầu năm 2018, Việt Nam đã nhập khẩu 1,25 triệu tấn dầu thô trị giá hơn 600 triệu USD, tăng tới gần 346% so với cùng kỳ năm 2017. Dự báo nhu cầu năng lượng Việt Nam Theo kết quả nghiên cứu của Viện Năng lượng - Bộ Công Thương, dự báo về nhu cầu năng lượng cho thấy, đến năng 2035, tổng nhu cầu năng lượng cuối cùng tăng gần gấp 2,5 lần so với năm 2015. Năng lượng cuối cùng có thể tăng từ 54 triệu TOE ở năm 2015 lên đến khoảng 90 triệu TOE ở năm 2025.
Năng lượng cuối cùng có thể đạt mức 134,5 triệu TOE vào năm 2035. Trong giai đoạn 2016-2025, năng lượng cuối cùng tăng khoảng 5,1%/năm và có xu hướng giảm xuống mức 4,2%/năm ở giai đoạn 2026-2035 phù hợp với mức tăng dần của tăng trưởng GDP và sự chuyển đổi cơ cấu kinh tế. 10 do an Trong cả giai đoạn 2016-2035, hệ số đàn hồi nhu cầu năng lượng cuối cùng so với GDP là 0,67 lần. Hệ số này có xu hướng giảm dần trong các giai đoạn 10 năm, ở giai đoạn 2016- 2025 là 0,68 sau đó giảm xuống mức 0,64 cho giai đoạn 2026-2035.
Vào năm 2035, mức tiêu thụ năng lượng trong giao thông vận tải (chiếm tỷ trọng 27,5%) được dự báo sẽ gia tăng nhanh nhất (5,7%/năm), lĩnh vực công nghiệp (chiếm tỷ trọng 45,3%) có tốc độ tăng 5,0%/năm trong giai đoạn 2016-2035.