CHƯƠNG 1.TỔNG QUAN VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. Sinh viên đánh giá hiệu quả môn học Trong lịch sử của giáo dục đại học, sinh viên đã góp phần đáng kể vào công việc đánh giá hiệu quả giảng dạy của giảng viên Vào thời kỳ Trung cổ thì các trường đại học ở Châu Âu dựa vào sinh viên để kiểm tra việc giảng dạy của giảng viên. Hiệu trưởng chỉ định một hội đồng sinh viên, Hội đồng này có nhiệm vụ ghi chép xem giảng viên có giảng dạy theo đúng lịch trình giảng dạy quy định của trường không, nếu có sự thay đổi nhỏ nào ngoài quy đinh chung, Hội đồng sinh viên báo cáo ngay cho Hiệu trưởng. Hiệu trưởng sẽ phạt giảng viên về những vi phạm đó.
Sinh viên đóng tiền học trực tiếp cho giảng viên và lương của họ được tính theo số lượng sinh viên dự giờ học (Rashdall,1936) Vào thời kỳ thực dân thì Hội đồng quản trị và Hiệu trưởng dự giờ và quan sát việc giảng dạy của giảng viên thông qua đặt cậu hỏi kiểm tra kiến thức cả năm học của sinh viên. Việc dự giờ này không thể đánh giá được kiến thức sinh viên tích lũy được trong một năm học và cũng không thể đánh giá được hiệu quả giảng dạy, vì theo nghiên cứu của Smallwood (trích dẫn Rudolph, trang 146, 1977) và các giảng viên chỉ hỏi các câu hỏi dễ dàng trả lời. Chương trình sinh viên đánh giá chất lượng môn học đã được thực hiện tại Hoa Kỳ từ giữa những năm 1920, ở đại học Havard, đại học Washington, đại học Texas và các trường đại học khác. Sự chia sẻ thông tin này sẽ cung cấp nền tảng để nhìn nhận thực tế rằng sự trao đổi này sẽ đáp ứng những nhu cầu đa dạng của SV, cuối cùng là nâng cao chất lượng giảng dạy trong các khóa học, tạo môi trường thuận lợi nhất cho SV, (Marsh, H.
[30] Từ năm 1925 đến 1960, dùng bảng đánh giá chuẩn để sinh viên đánh giá hoạt động giảng dạy. Từ những năm 70 của thế kỷ 20, dùng các phương pháp đánh 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com giá như “Đồng nghiệp đánh giá”, “Chủ nhiệm khoa đánh giá”, “sinh viên đánh giá” và “tự đánh giá”. Từ năm 1960, giảng viên các trường đại học và cao đẳng đã nhận thức rõ mục đích và ý nghĩa của các bảng đánh giá giảng dạy và đã tình nguyện sử dụng Bảng đánh giá chuẩn với mục đích cải tiến điều chỉnh việc giảng dạy của mình trên cơ sở phân tích các kết quả thu được của Bảng đánh giá. Theo nghiên cứu của Central (1979), vào cuối thập kỷ 70 hầu hết các trường đại học ở Châu Âu và Hoa Kỳ đã sử dụng 3 phương pháp đánh giá hiệu quả giảng dạy đó là: đồng nghiệp đánh giá, chủ nhiệm khoa đánh giá và sinh viên đánh giá, trong đó các thông tin từ bảng đánh giá của sinh viên được công nhận là quan trọng nhất.
Giai đoạn 1980 đến nay, hầu hết các chuyên gia đều cho rằng đánh giá của sinh viên có giá trị và nên được đánh giá rộng rãi.[8] Năm 1997 trong nghiên cứu của mình Greenwald đã đúc kết lại rằng các đánh giá của sinh viên về chất lượng môn học đã được cân nhắc và xem xét rất nghiêm ngặt khi định sử dụng trong giai đoạn những năm 1970, nhưng vào đầu những năm 1980 thì hầu hết các chuyên gia đều cho rằng đánh giá của sinh viên là có giá trị và nên được sử dụng rộng rãi. Trên thế giới, đã có nhiều công trình nghiên cứu về việc lấy ý kiến phản hồi từ sinh viên. Hầu hết các chuyên giá đều đánh giá cao giá trị ý kiến phản hồi từ sinh viên. So với các nguồn đánh giá khác, nguồn sinh viên đánh giá chiếm ưu thế hơn.[9] Lê Văn Hảo đã cho ra năm lý do nên sử dụng ý kiến của sinh viên[10]: Thứ nhất, để cung cấp các phản hồi có tính cảnh báo và dự đoán cho GV về mức độ hiệu quả của việc giảng dạy và có được thông tin hữu ích nhằm cải tiến việc giảng dạy.
Thứ hai, giúp cho nhà quản lý đánh giá mức độ hiệu quả của việc giảng dạy và đưa ra các quyết đinh đúng mực. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Thứ ba, giúp SV lựa chọn các khóa học và GV. Thứ tư, đánh giá chất lượng các khóa học nhằm cải tiến và phát triển chương trình học. Thứ năm, giúp cho các nghiên cứu về vấn đề.
Những đánh giá về hoạt động giảng dạy từ phía sinh viên là thông tin quan trọng đánh giá trực tiếp hoạt động giảng dạy của GV. Marsh (1992) đã công bố kết quả nghiên cứu là 80% GV đại học tham gia vào công trình nghiên cứu đồng ý rằng ý kiến của SV có ích cho họ như các phản hồi về chất lượng. Nguyễn Kim Dung (2005) đã kết luận rằng ý kiến của sinh viên, dù vẫn còn được đánh giá ở mức khiêm tốn, nhưng có thể đóng một vai trò khá quan trọng trong việc cải tiến chất lượng giảng dạy[11] Nhiều công trình nghiên cứu trên thế giới đã chứng mình kết quả sinh viên đánh giá hiệu quả môn học khá khách quan; các thông tin thu được từ sinh viên không chỉ giúp gảng viên tự điều chỉnh phương pháp giảng dạy mà còn giúp nhà trường xem xét lại nội dung và chương trình đào tạo.Gray (2007) cho biết: Ở Mỹ trong 20 năm gần đây, việc sinh viên đánh giá giảng viên đã trở thành phương pháp đánh giá giảng dạy phổ biến nhất trong các trường đại học. Giảng viên được đánh giá thường xuyên bởi sinh viên, đồng nghiệp, cấp trên và các tổ chức chuyên đánh giá chất lượng độc lập được mời từ bên ngoài, về các mặt như việc chuẩn bị bài giảng, phương pháp giảng dạy, và những đóng góp cho sự phát triển của khoa, của trường.
Đồng thời, các trường cũng thường xuyên tổ chức tập huấn về phương pháp giảng dạy cho đội ngũ giảng viên. Không chỉ là một hình thức mang tính tự nguyện, việc thu thập ý kiến sinh viên từ lâu đã trở thành một quy định bắt buộc tại nhiều nơi trên thế giới. Khi vào trang web của một trường đại học bất kỳ nào thuộc một nước nói tiếng Anh, cũng có thể tìm được cuốn cẩm nang hướng dẫn chi tiết về việc thực hiện thu thập ý kiến sinh viên sau mỗi môn học nhằm lấy thông tin phản hồi về các hoạt động giảng dạy 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com ngay tại các khu vực có phong trào đảm bảo chất lượng muộn màng nhất thế giới như Đông Nam Á, cũng tấy việc sử dụng ý kiến góp ý của sinh viên để nâng cao chất lượng ngày càng trở thành một xu thế chung tại các nước rất gần gũi với Việt Nam về địa lý như Singapore, Malaysia, Thai Lan v. Theo Beran và Rokosh (2009), trong trường đại học, dữ liệu về đánh giá của SV được nhiều đối tượng khác nhau sử dụng với những mục đích khác nhau: là một trong những kênh thông tin chính thức (Trần Xuân Bách,, 2007) giúp cải tiến hoạt động giảng dạy (từ mục tiêu, nội dung, phương pháp, tài liệu tham khảo đến kiểm tra đánh giá môn học).[31] Nghiên cứu của Bộ Giáo dục Mỹ năm 1991 dựa trên khảo sát của 40.000 GV đại học thì 97% các GV cho rằng cần sử dụng đánh giá của SV để thẩm định công tác hoạt động giảng dạy (Michele Marincovic, 1999).[32] Theo tiến sĩ Peter J.Gray - Học viện Hải quân Hoa Kỳ : Ở Mỹ trong 20 năm gần đây, việc SV đánh giá GV đã trở thành phương pháp đánh giá giảng dạy phổ biến nhất trong các trường ĐH.
Hiện nay, việc đánh giá HĐGD của GV ở các nước tiên tiến trên thế giới được thực hiện thông qua kiểm định chất lượng giáo dục đại học. Nếu ở các nước phát triển, việc sinh viên đánh giá hiệu quả giảng dạy có lịch sử hơn nửa thế kỷ và đã đạt đến độ hoàn thiện mang tính tổng hợp, toàn diện thì ở Việt Nam hoạt động này chỉ mới được các trường chính thức triển khai những năm gần đây và vẫn còn khá mới mẻ về cả lý luận lẫn thực tiễn. Đây là vấn đề chưa được áp dụng rộng rãi và chưa triệt để vì việc đánh giá hoạt động giảng dạy qua ý kiến của sinh viên vẫn chưa được sử dụng chính thức trong giáo dục đại học vì những lý do khác nhau. Có hai lý do phổ biến nhất: Thứ nhất: Theo truyền thống văn hóa của người Việt Nam, vai trò của người thầy được đề cao.
Bởi vậy, đối với nhiều người, việc để cho “trò đánh giá thầy” như các nước phương Tây hiện nay là điều hoàn toàn không thể chấp nhận được. 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Thứ hai: Quan trọng hơn, quan niệm cho rằng những ý kiến góp ý của sinh viên thường có giá trị rất hạn chế, do sinh viên chưa được xem đủ trình độ để đưa ra những nhận xét chính xác về các hoạt động giảng dạy. Vì vậy, việc thu thập ý kiến của sinh viên nếu có vẫn chỉ mang tính hình thức, nhằm mục đích làm cho giàng viên và sinh viên cảm nhận được sự chặt chẽ trong quản lý của nhà trường và có thái độ nghiêm túc trong việc dạy và học.[15] Tháng 3-2002, công trình nghiên cứu đề tài cấp Nhà nước “Nghiên cứu xây dựng bộ tiêu chí đánh giá chất lượng đào tạo dùng cho các trường đại học Việt Nam” đã được Hội đồng khoa học nhà nước nghiệm thu chính thức.[16] Ở Việt Nam, đánh giá hoạt động giảng dạy qua ý kiến sinh viên mới được Bộ Giáo dục và đào tạo cụ thể hóa bằng văn bản và thựuc hiện trong các trường đại học từ năm 2008. Tuy nhiên, một số trường Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh đã thực hiện từ năm học 2004-2005.
Trần Xuân Kiên (2009) có nghiên cứu về “Đánh giá sự hài lòng của SV về chất lượng đào tạo tại Trường Đại học Kinh tế và Quản trị kinh doanh - Đại học Thái Nguyên”. Trong nghiên cứu này, tác giả sử dụng mô hình SERVQUAL được hiệu chỉnh gồm năm thành phần gồm: “cơ sở vật chất”, “sự nhiệt tình của cán bộ và GV”, “đội ngũ GV”, “khả năng thực hiện cam kết” và “sự quan tâm của Nhà trường”. Trong đó có thể nhận thấy thành phần “sự nhiệt tình của cán bộ và GV” và “đội ngũ GV” có liên quan gần nhất đến hoạt động giảng dạy. Thành phần “sự nhiệt tình của cán bộ và GV” được giải thích là mức độ sẵn sàng đáp ứng và phục vụ SV kịp thời.
Thành phần “đội ngũ GV” được giải thích là gồm kiến thức, chuyên môn và phong cách của GV, khả năng làm cho SV tin tưởng.