MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Nông nghiệp giữ vai trò rất quan trọng trong việc phát triển kinh tế, nhất là ở các nước đang phát triển. Tuy nhiên, ngay cả những nước có nền công nghiệp phát triển cao, mặc dù tỷ trọng sản phẩm nông nghiệp không lớn nhưng khối lượng sản phẩm nông nghiệp vẫn không ngừng tăng lên và giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân. Thực tiễn lịch sử của các nước trên thế giới đã chứng minh chỉ có thể phát triển kinh tế nhanh chóng mới có sự an toàn lương thực.
Nếu không đảm bảo an toàn lương thực thì khó có thể ổn định về chính trị và thiếu sự đảm bảo cơ sở pháp lý, kinh tế cho sự phát triển. Lúa là một trong năm loại cây lương thực chính của thế giới, cùng với ngô, lúa mì, sắn và khoai tây. Lúa đứng thứ hai về diện tích và sản lượng. Lúa gạo còn là nguồn lương thực cho hơn nửa dân số thế giới.
Trong khi dân số thế giới tiếp tục tăng, diện tích đất nông nghiệp ngày càng giảm theo thời gian thì việc tăng sản lượng lương thực để đáp ứng nhu cầu của con người là một vấn đề cấp bách cần được giải quyết để đảm bảo an ninh lương thực thế giới. Đối với người dân châu Á nói chung hay người dân Việt Nam nói riêng thì cây lúa là cây lương thực hàng đầu. Lúa gạo có vai trò quan trọng trong đời sống con người, gắn liền với bữa ăn hàng ngày của chúng ta. Ngoài ra lúa còn làm thức ăn cho gia súc, làm nguyên liệu cho công nghiệp hay lúa là hàng hóa để xuất khẩu… Từ ngàn đời nay,cây lúa đã gắn bó với con người, làng quê Việt Nam.
Đồng thời cũng trở thành tên gọi cho một nền văn minh - nền văn minh lúa nước, nó đã trở thành một nét đẹp văn hóa truyền thống ở nước ta. Ngày nay với mục tiêu xây dựng đất nước theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa thì ngành nông nghiệp phải chịu một áp lực rất lớn trong việc cung cấp lương thực thực phẩm để giải quyết được vấn đề cấp thiết là đảm bảo an ninh lương thực quốc gia và phát triển nông nghiệp và nông thôn ở Việt Nam. Song song với việc tăng năng suất, chất lượng của các sản phẩm lúa gạo thì việc duy trì, bảo tồn và phát triển các giống lúa đặc sản của địa phương cũng là một trong những nhiệm vụ hàng đầu của nền nông nghiệp 2 nước ta, vì đó là bảo vệ nét đẹp văn hóa phi vật thể nhưng rất quan trọng của đất nước. Để thực hiện mục tiêu bảo vệ, duy trì và phát triển các giống cây trồng vật nuôi địa phương thì nhiều chương trình, dự án đã được thực hiện nhằm bảo vệ nguồn gen động, thực vật trên khắp cả nước.
Xã Đa Thông là một xã khó khăn thuộc huyện miền núi khó khăn người dân sống chủ yếu vào nền nông nghiệp. Trong đó cây lúa đóng vai trò cung cấp lương thực thực phẩm và thu nhập chính cho người dân. Tuy vậy với xu thế phát triển nên kinh tế hiện nay các giống lúa ở địa phương thường cho năng suất và chất lượng thấp không đáp ứng được nhu cầu của người dân. Vậy nên theo chương trình dự án của viên nghiên cứu vào năm 2013 đã cho địa phương trồng thử nghiệm giống lúa BT13.
Xuất phát từ nhu cầu thực tế của địa phương. Tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá hiệu quả mô hình trồng lúa BT13 tại xã Đa Thông, huyên Thông Nông, tỉnh Cao Bằng”. Mục đích Nghiên cứu được hiệu quả của mô hình lúa BT13 tại xã Đa Thông, huyện Thông Nông, tỉnh Cao Bằng. Từ đó đề xuất giải pháp nhằm nâng cao tính bền vững và khả năng nhân rộng cao của mô hình.
Mục tiêu - Tìm hiểu được điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của xã Đa Thông, huyện Thông Nông, tỉnh Cao Bằng. - Đánh giá được thực trạng sản xuất của mô hình lúa BT13 tại xã Đa Thông – Thông Nông – Cao Bằng. - Đánh giá được hiệu quả và mức độ tham gia của người dân đối với mô hình. - Phân tích được tính bền vững và khả năng nhân rộng của mô hình.
- Phân tích được những thuận lợi, khó khăn khi thực hiện mô hình, đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của mô hình trong thực tiễn sản xuất. Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học - Nghiên cứu đề tài giúp sinh viên củng cố lại những kiến thức cơ bản và những kiến thức đào tạo chuyên môn trong quá trình học tập trong nhà 3 trường, đồng thời tạo điều kiện cho sinh viên có cơ hội tiếp cận với những kiến thức ngoài thực tế. - Nghiên cứu đề tài là cơ sở cho sinh viên vận dụng sáng tạo những kiến thức đã học vào thực tiễn và là tiền đề quan trọng để sinh viên thấy được những kiến thức cơ bản cần bổ sung để phù hợp với thực tế công việc sau này.
- Nghiên cứu đề tài nhằm phát huy cao tính tự giác, chủ động học tập, nghiên cứu của sinh viên. Nâng cao tinh thần tìm tòi, học hỏi, sáng tạo và khả năng vận dụng kiến thức vào tổng hợp, phân tích, đánh giá tình hình và định hướng những ý tưởng trong điều kiện thực tế. - Nghiên cứu đề tài là cơ hội đề mỗi sinh viên có cơ hội để vân dụng những kiến thức đã học vào trong nghiên cứu khoa học và là cơ sở để hình thành các ý tường sau này. Ý nghĩa thực tiễn - Từ kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ đưa ra được một số bảng tổng hợp về tình hình sản suất lúa BT13 tại địa phương.
- Từ đó đưa ra những nhận xét về hiệu quả, tiềm năng, thế mạnh và những khó khăn, trở ngại trong quá trình sản xuất lúa BT13 và đưa ra các giải pháp để nâng cao hiệu quả của mô hình. - Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể làm tài liệu tham khảo cho sinh viên của các lớp khóa sau. 4 PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 2. Cơ sở lý luận về mô hình 2.
Lý luận chung về mô hình * Khái niệm mô hình Thực tiễn hoạt động của đời sống, kinh tế, xã hội rất phong phú, đa dạng và phức tạp, người ta có thể sử dụng nhiều công cụ và phương pháp nghiên cứu để tiếp cận. Mỗi công cụ và phương pháp nghiên cứu đều có những ưu điểm riêng được sử dụng trong điều kiện và hoàn cảnh cụ thể. Mô hình là một trong những phương pháp nghiên cứu được sử dụng rộng rãi, đặc biệt trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học. Theo các cách tiếp cận khác nhau thì mô hình có những quan niệm, nội dung và cách hiểu riêng.
Góc độ tiếp cận về mặt vật lý học thì mô hình là cùng hình dạng nhưng thu nhỏ lại. Khi tiếp cận sự vật để nghiên cứu thì coi mô hình là sự mô phỏng cấu tạo và hoạt động của một vật để trình bày và nghiên cứu[1]. Khi mô hình hóa đối tượng nghiên cứu thì mô hình sẽ được trình bày đơn giản về một vấn đề phức tạp, giúp cho ta dễ nhận biết được đối tượng nghiên cứu [10]. Khi mô hình hóa đối tượng nghiên cứu thì mô hình sẽ được trình bày đơn giản về một vấn đề phức tạp, giúp cho ta dễ nhận biết được đối tượng nghiên cứu[3].
Mô hình còn được coi là hình ảnh quy ước của đối tượng nghiên cứu về một hệ thống các mối quan hệ hay tình trạng kinh tế. Như vậy, mô hình có thể có các quan niệm khác nhau, sự khác nhau đó tùy thuộc vào góc độ tiếp cận và mục đích nghiên cứu, nhưng khi sử dụng mô hình người ta đều có chung một quan điểm là dùng để mô phỏng đối tượng nghiên cứu. Trong thực tế, để khái quát hóa các sự vật, hiện tượng, các quá trình, các mối quan hệ hay một ý tưởng nào đó, người ta thường thể hiện dưới dạng mô hình. Có nhiều loại mô hình khác nhau, mỗi loại mô hình chỉ đặc trưng cho một điều kiện sinh thái hay sản xuất nhất định nên không thể có mô hình chung cho tất cả các điều kiện sản xuất khác nhau.
5 Do đó, ở mỗi góc độ tiếp cận và mục đích nghiên cứu riêng, tùy thuộc vào quan niệm và ý tưởng của người nghiên cứu mà mô hình được sử dụng để mô phỏng và trình bày là khác nhau. Song khi sử dụng mô hình để mô phỏng đối tượng nghiên cứu, người ta thường có chung một quan điểm và đều được thống nhất đó là: Mô hình là hình mẫu để mô phỏng hoặc thể hiện đối tượng nghiên cứu, nó phản ánh những đặc trưng cơ bản nhất và giữ nguyên được bản chất của đối tượng nghiên cứu. * Mô hình sản xuất Sản xuất là một hoạt động có ý thức, có tổ chức của con người nhằm tạo ra nhiều của cải vật chất cho xã hội bằng những tiềm năng, nguồn lực và sức lao động của chính mình. Lịch sử phát triển của xã hội loài người đã chứng minh sự phát triển của các công cụ sản xuất - yếu tố không thể thiếu trong nền sản xuất.
Từ những công cụ thô sơ nay đã được thay thế bằng những công cụ sản xuất hiện đại làm giảm hao phí về sức lao động trên một đơn vị sản phẩm, đó là mục tiêu quan trọng của nền sản xuất hiện đại. Trong sản xuất, mô hình sản xuất là một trong những nội dung kinh tế của sản xuất, nó thể hiện được sự tác động qua lại của các yếu tố kinh tế, ngoài những yếu tố kỹ thuật của sản xuất, do đó mà mô hình sản xuất là hình mẫu trong sản xuất thể hiện sự kết hợp của các điều kiện sản xuất trong điều kiện sản xuất cụ thể, nhằm đạt được mục tiêu về sản phẩm và lợi ích ích kinh tế. * Mô hình trồng trọt[1] Mô hình trồng trọt là mô hình tập trung vào các đối tượng cây trồng trong sản xuất nông nghiệp, là mô hình trình diễn các tiến bộ khoa học kỹ thuật mới về cây trồng như: lúa, ngô, rau, khoai tây, lạc… Mô hình trồng trọt giúp hoàn thiện quá trình nghiên cứu của nhà khoa học trong lĩnh vực nông nghiệp. Mà nông dân vừa là chủ thể sản xuất vừa là nhà thực nghiệm, đồng thời nông dân là đối tượng tiếp thu trực tiếp các tiến bộ kỹ thuật mới vào sản xuất, và họ cũng là người truyền bá kỹ thuật này cho các nông dân khác cùng làm theo.