Chương 1 TỎNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Tông quan về cây cà chua 1.1 Nguồn gốc và phân loại Ca chua (Lycopersicon esculentum Mill) thuộc họ cà Solanaceae, bộ Solanales. Theo Tạ Thu Cúc (2003), cà chua là cây trồng nhiệt đới có nguồn gốc từ Nam Mỹ trên các cao nguyên của người Azetec ở Peru. Cà chua du nhập vào châu Âu nhờ những đoàn thám hiểm người Tây Ban Nha và sau đó trở thành loại cây thương mại ở vào những năm 1890. Cà chua có thời gian sinh trưởng ngắn, trồng được nhiều vụ trong năm với năng suất khá cao, có thời gian sinh trưởng và phát triển nhanh thường có thời gian từ khi gieo trồng đến thu hoạch là 85 — 90 ngày.
Loại cây nhiệt đới nay phát triển tốt nhất trong khoảng nhiệt độ từ 18°C — 28°C, với độ am từ 75 — 80%. Có tên khoa học là Lycopersicon lycopersicum hoặc Lycopersicon esculentum Mill. Theo Somraj va ctv (2017), cà chua là một loại cây rau quan trong, phé biến và được trồng rộng rãi khắp nơi trên thế giới, đặc biệt là ở các vùng nhiệt đới, cận nhiệt đới và ôn đới.2 Tình hình sản xuất cà chua Theo tô chức nông lương thế giới (FAO, 2020), diện tích trồng cà chua trên thé giới vào khoảng 5.983 ha với sản lượng 186. Là cây rau có giá trị, có sản lượng chiếm 1/6 tổng sản lượng rau hàng năm trên thế giới và luôn đứng ở vị trí số 1 về sản lượng.
Cà chua có tầm quan trọng chỉ sau khoai tây ở nhiều quốc gia và đứng thứ nhất về rau được bảo quản, chế biến và cả mục đích sử dụng tươi. Trong đó dan đầu sản lượng là Trung Quốc với 68,24 triệu tan chiếm 36,67% tổng sản lượng toàn thế giới, tiếp đến là An Độ là 20,94 triệu tan chiếm 11,12% tổng sản lượng toàn thé giới, Thổ Nhĩ Ky là 13,00 triệu tan, Mỹ là 10,2 triệu tan, Ai Cập là 6,27 triệu tan, Ý là 6,13 triệu tan, Mexico là 4,2 triệu tan, Brazil là 3,8 triệu tấn, Nigeria là 3,68 triệu tấn, Tây Ban Nha là 3,65 triệu tấn. Tại Việt Nam, cà chua được trồng và tiêu thụ phô biến, diện tích cà chua trong những năm gần đây dao động trong khoảng 23 — 25 ngàn ha, ước chừng 40% ở phía Nam với điện tích khoảng 9.000 ha, trong đó Lâm Đồng có diện tích lớn nhất khoảng 7000 ha/năm (N.2 Tổng quan về bệnh lở cỗ rễ trên cà chua Bệnh lở cô rễ trên cây cà chua chủ yếu do các loại nam như Pythium spp., Fusarium solani, Rhizoctonia solani, Fusarium oxysporum. Bệnh chủ yếu do nam Rhizoctonia solani gây ra, tuy nhiên cũng có các dòng nam cùng thuộc chi Rhizoctonia spp.
gây bệnh lở cô ở cây cà chua (Oberwinker và ctv, 2013). Bệnh lây lan trong môi trường nước và xâm nhập qua các vết thương cơ giới hoặc các lỗ khí không của lá, phát sinh, phát triển mạnh trong điều kiện độ âm cao, nhiệt độ cao hoặc mưa, nắng, rét, nóng thất thường. Bệnh phá hoại xuất hiện thời kỳ sinh trưởng của cây nhưng chủ yếu là vào thời kỳ cây con gây thiệt hại lớn cho nguồn nông sản nước ta (Võ thị Thu Oanh, 2007). Cé và thân trên cây con bị teo lại và héo dan, cây ngã ngang và lá còn xanh tươi.
Triệu chứng dé bị nhầm với bệnh héo xanh do vi khuẩn gây ra. Nắm bệnh phát triển mạnh vào giai đoan 5 đến 10 ngày sau gieo trồng. Trên cây trưởng thành nam chủ yếu tan công vào thân làm mô vỏ bị thối nâu hoặc nâu đen, viền vùng thối màu nâu đỏ hoặc không có, vết bệnh lõm vào, sau đó nút ra, lá héo khô rồi rụng dần. Rễ bị thối nhũn, mat khả năng nhận chất dinh đưỡng nuôi cây, khiến cây héo dần rồi chết.1 Tổng quan về Fusarium oxyporum Nam Fusarium oxysporum là thuộc chỉ nam Fusarium sp.
là chi lớn nhất trong Tuberculariaceae, thuộc lớp nam bat toàn (Deuteromycetes), chúng hoại sinh hoặc ky sinh thực vật và là nguyên nhân chính làm héo rũ cây trồng. Fusarium oxysporum được đánh giá là đứng thứ 5 trong top 10 loại nắm bệnh hàng đầu trên cây trồng (Dean và ctv, 2012). Hệ sợi nắm phân nhánh, có vách ngăn, sợi nắm thường không màu, chuyền màu nâu khi già. Cơ thé dinh dưỡng dang sợi đa bào, phân nhánh phức tạp, vách ngăn có lỗ thủng đơn giản ở giữa.Trong một tế bào có một nhân hoặc nhiều nhân, vách tế bào bằng chitin, glucan.
Nam song hoại sinh hoặc ký sinh trên thực vật, gặp phổ biến trong đất, cũng gặp trên các vật liệu cellulose. Hệ sợi nam khi xâm nhâp vào thực vật sẽ lan toả khắp mô mạch và lấp kín mạch gỗ. Sự lấp mạch gỗ sẽ cản trở quá trình vận chuyên nước, Fusarium spp. cũng sản xuất một số chất độc tiết vào mach dẫn có thé làm cây chủ chết dan do bị lở cổ rễ với các triệu chứng như héo, toàn cây rũ xuống và thối rễ.
Fusarium oxysporum có thê tồn tại trong đất đưới dang bào tử áo qua thời gian dai, bao tử áo có thé lưu ton trong đất từ 15 — 20 ngày. Nhiệt độ thích hợp cho nam phát triển là 25°C — 30°C (Nguyễn Lân Dũng va ctv, 1982). Fusarium oxysporum phát triển nhanh chóng trên môi trường PDA ở nhiệt độ 25°C và hình thành tản nam có hình thé tơi xốp như bông hoặc bang phang hoặc lan rộng trên môi trường nuôi cấy. Mặt trên của tản nắm có thé có màu trắng, kem, vàng, vàng cam, đỏ, tím hồng hoặc tím.
Mặt dưới nó có thể không màu, vàng cam, màu đỏ, mau tia sam, hay màu nâu (Seifert, 1996).1 Hình thức sinh sản của nắm Fusarium oxysporum có 2 hình thức sinh sản: sinh san sinh dưỡng va sinh sản vô tính. Do thiêu giai đoạn sinh sản hữu tính trong vòng đời nên người ta gọi chung là nam không hoan chỉnh hay nam bat toàn. Sinh san sinh dưỡng Soi nam: Từ 1 sợi nam riêng rẽ, khi gặp điêu kiện thuận lợi sé sinh trưởng và phân nhánh thành hệ sợi nam. Bao tử hậu (bao tử màng day, bảo tử áo): Bào tử hậu là những tế bào hơi tròn, có tế bào chất được cô đặc lại, có thể nằm ở giữa sợi nắm hoặc ở đầu tận cùng của nó (Lin và Heitman, 2005), có màng dày bao bọc, thỉnh thoảng có bào tử hậu với vách tế bào xù xì hoặc có sắc tố, có thể ở dạng đơn lẻ, dang cặp đôi, dạng chuỗi hay dang cụm.
oxysporum, bào tử hậu thường ở dạng đơn, đôi, thỉnh thoảng dang ba và ít khi có dạng cum (Seifert, 1996). Sinh sản vô tính Ở các loài Fusarium bào tử đính thường là bào tử ngoại sinh, có 2 loại: bao tử đính lớn và bào tử đính nhỏ. Bảo tử đính lớn (bào tử lớn): Bào tử trong suốt, được hình thành từ thê bình trên cành bảo tử có nhánh hay không có nhánh. Bao tử lớn có kích thước 3 — 8 x 11 — 70 pm.
Hầu hết các loài Fusarium có bào tử lớn từ 3 — 7 vách ngăn, tuy nhiên có nhiều loài có từ 1 — 3 vách ngăn (F. poae) hoặc nhiều hơn 7 vách ngăn (F. Bào tử lớn có hình lưỡi liềm hay hình trụ. Các loài Fusarium khác nhau có thé phân biệt được tùy theo mức độ cong của bao tử lớn (thang ở bên phải và cong rõ rang ở bên trai); tỷ lệ giữa chiều đài và chiều rộng của bào tử (thon nhọn ở đầu và to ở giữa).
Phần to nhat của bào tử lớn cũng có thê là một đặc điêm đê nhận dạng các loài Fusarium. Bào tử đính nhỏ (bào tử nhỏ): Kích thước 2 — 4 x 4 - 8 um, được hình thành từ cành bào tử phân sinh phân nhánh hoặc không phân nhánh, mọc trực tiếp từ sợi nắm hoặc tụ lại thành dang bọc giả trên đầu cành hoặc hình thành dạng chuỗi (Vũ Triệu Man và Lê Lương Té, 1988). Bao tử có nhiều hình dang khác nhau như: hình cau, hình gần cau, oval, hình cầu với một đầu nhọn, hình thoi, hình qua thận, hình hạt chanh, hình liềm, hình trứng, hình trứng ngược, hình chùy.2 Điều kiện phát triển và gây hại Fusarium oxysporum cũng như chỉ Fusarium sp. phân bố khắp nơi trên thế giới, nhiệt độ tối ưu cho Fusarium oxysporum phát triển là 27°C — 30°C, tối đa là 36°C — 40°C và tối thiểu là 7°C — 8°C, nhưng nhiệt độ thích hợp cho sự xâm nhiễm là 35°C (Ou, 1985).
Bệnh lây lan qua thân rễ, đất bị nhiễm bệnh và truyền qua giống, ngoài bệnh có thé lây lan qua nguồn nước và cơ giới, Fusarium oxysporum thường tân công cây trồng dễ dàng khi bị thiếu ánh sáng. Fusarium oxysporum sống phô biến trong đất, lưu tồn dưới dạng bào tử áo hoặc khuẩn ty sống trên xác bã thực vật dư thừa hay những chất hữu cơ. Một số loài tạo bào tử đính bay trong không khí, đây là nguyên nhân gây ra những bệnh trên thân, lá và bông (Burgess và ctv, 1994). Các tác nhân gây bệnh héo Fusarium oxysporum cũng có thé có mặt ở vỏ rễ một số cây không phải là ký chủ, kể cả cỏ dai và cây trồng.
Bao tử hậu hình thành trong vỏ rễ khi cây chết. Fusarium oxysporum tan công chủ yêu vào bộ rễ. Đặc biệt, bệnh gây hại nặng nề trong điều kiện stress nước, dùng phân bón quá nhiều hay rễ cây bị tôn thương.2 Tổng quan về Rhizoctonia solani Bệnh lở cô rễ hay bệnh thối gốc rễ do nam Rhizoctonia solani ra là chủ yếu. Nguôn nam tôn tại chủ yếu đưới dang sợi mau trắng, lúc mới tại thành hạch nắm màu trắng, sau đó có màu nâu vàng hoặc nâu đen, hạch nam hình cầu có bề mặt trơn láng.
Tuy nhiên, các triệu chứng gây bệnh và cơ chế tác động vi sinh của của chi nam Rhioctonia spp. thì đều tương tự như nhau, các bào tử nắm thường sống trong dat và tàn dư cây trồng khá lâu từ 3 đến 4 năm, nhất là ở những vườn ươm cây giống, những cánh đồng đã từng bị bệnh lở cô rễ (Ajayi-Oyetunde và Bradley, 2017). Khi gặp điều kiện thuận lợi nam sẽ nảy mam hình thành sợi nam từ xâm nhập gây hại cây trồng nếu nhà vườn không được xử lý đất trước khi trồng lại. Các sợi nam có trong tàn dư cây bệnh hoặc có sẵn trong đất sẽ xâm nhiễm trực tiếp vào mô cây, các vết thương hoặc các lỗ khí khống của lá và một số tạo các câu trúc xâm nhiễm đặc biệt khi có điều kiện môi trường thuận lợi.
Bệnh thường phát triển mạnh trong môi trường có độ âm cao hoặc có thời tiết thay đổi thất thường (Abbas và ctv, 2017). Do mức độ nghiệm trọng của bệnh lở cô rễ do chi nam Rhizoctonia spp. Như các chủng Rhizoctonia solani, Rhizoctonia amygdalispora, Rhizoctonia anceps,.