Chương 1: Giới thiệu. Chương 2: Tổng quan về lý thuyết và các nghiên cứu trước. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu. Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận.
Chương 5: Kiến nghị và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại tại Việt Nam. 3 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC 2.1 Khái niệm về ngân hàng thương mại Theo Luật các tổ chức tín dụng Việt Nam 2018, ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật các tổ chức tín dụng nhằm mục tiêu lợi nhuận. Nói cách khác, ngân hàng là các tổ chức tài chính cung cấp đa dạng các dịch vụ tài chính với nghiệp vụ cơ bản là nhận tiền gửi, cho vay, cung ứng các dịch vụ thanh toán và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kì một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế. Ngân hàng là tổ chức thu hút tiết kiệm lớn nhất trong hầu hết mọi nền kinh tế.
Hàng triệu cá nhân, hộ gia đình và các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế xã hội đều gửi tiền tại ngân hàng. Ngân hàng đóng vai trò thủ quỹ cho toàn xã hội. Ngân hàng là tổ chức cho vay chủ yếu đối với các doanh nghiệp, các nhân, hộ gia đình và một phần đối với nhà nước. Đối với các doanh nghiệp, ngân hàng thường là tổ chức cung cấp tín dụng để phục vụ cho việc mua hàng hóa dự trữ hoặc xây dựng nhà máy, mua sắm trang thiết bị,… Khi doanh nghiệp và người tiêu dùng phải thanh toán cho các khoản mục mua hàng hóa và dịch vụ, họ thường sử dụng séc, ủy nhiệm chi, thẻ tín dụng hay tài khoản điện tử và khi họ cần thông tin tài chính hay lập kế hoạch tài chính, họ thường đến các ngân hàng để nhận được lời tư vấn.
Các khoản tín dụng của ngân hàng cho chính phủ là nguồn tài chính quan trọng để đầu tư phát triển.2 Khái niệm về hiệu quả hoạt động Hiệu quả là một phạm trù được sử dụng rộng rãi trong tất cả các lĩnh vực để đánh giá năng lực của một tổ chức trong việc tối đa hóa đầu ra trong điều kiện chi phí đầu vào cho trước. Hiệu quả hoạt động phản ánh các mối quan hệ giữa lợi nhuận và chi phí của một tổ chức. Hiệu quả hoạt động càng lớn thì lợi nhuận của tổ chức càng cao. Nói cách khác, hiệu quả hoạt động thể hiện khả năng tạo ra lợi nhuận bền vững, lợi 4 nhuận thu được đầu tiên dùng dự phòng cho các khoản lỗ bất ngờ và tăng cường vị thế về vốn và cải thiện lợi nhuận trong tương lai thông qua đầu tư từ các khoản lợi nhuận giữ lại.
Thông qua các quan điểm trên, có thể đúc kết hiệu quả hoạt động là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực hay các biến số đầu vào( các yếu tố sản xuất như vốn, nhân lực, khoa học công nghệ, tài nguyên thiên nhiên,.) để đạt được các kết quả đầu ra hay mục tiêu mà doanh nghiệp đã xác định. Khái niệm về hiệu quả hoạt động là phản ánh trình độ khai thác các nguồn lực và trình độ chi phí nguồn lực đó trong quá trình tái sản xuất nhằm thực hiện mục tiêu kinh doanh. Hiệu quả sản xuất kinh doanh ngày nay càng trở lên quan trọng đối với tăng trưởng kinh tế và là chỗ dựa cơ bản để đánh giá việc thực hiện mục tiêu kinh tế của doanh nghiệp trong từng thời kỳ. Nói cách khác nó phản ánh những lợi ích đạt được từ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trên cơ sở so sánh kết quả thu được (doanh thu, lợi nhuận,.) với chi phí bỏ ra trong suốt quá trình kinh doanh của doanh nghiệp.
Do đó, đánh giá hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại (hay hiệu quả hoạt động kinh doanh ngân hàng) trong bài nghiên cứu này chính là đánh giá khả năng sử dụng các nguồn lực của ngân hàng (nguồn vốn, nhân lực, công nghệ), khả năng quản lý để đạt được kết quả đầu ra tốt nhất, hay khả năng tạo ra lợi nhuận của ngân hàng.3 Các phương pháp đánh giá hiệu quả hoạt động 2.1 Phương pháp đánh giá truyền thống Phương pháp phân tích các chỉ số tài chính là phương pháp được các nhà phân tích sử dụng phổ biến nhất trong việc đánh giá hiệu quả hoạt động của ngân hàng. Ở phương pháp này, hiệu quả hoạt động của ngân hàng sẽ được đo lường thông quá các chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lời; các chỉ tiêu phản ánh thu nhập, chi phí và các chỉ tiêu phản ánh rủi ro tín dụng (Nguyễn Việt Hùng, 2008). Nhóm chi tiêu phản ánh khả năng sinh lời: Nhóm chỉ tiêu này phản ánh tính hiệu quả của một đồng vốn kinh doanh. Bao gồm các chỉ tiêu như sau: thu lãi biên ròng (NIM), thu ngoài lãi biên ròng (NOM), thu nhập hoạt động biên 5 (TNHĐB), hệ số thu nhập trên cổ phiếu (EPS), thu nhập ròng trên tổng tài sản (ROA), thu nhập ròng trên tổng vốn chủ sở hữu (ROE).
𝑇ổ𝑛𝑔 𝑡ℎ𝑢 𝑛ℎậ𝑝 − 𝑡ổ𝑛𝑔 𝑐ℎ𝑖 𝑝ℎí NIM = 𝑇ổ𝑛𝑔 𝑡à𝑖 𝑠ả𝑛 𝑐ó sinh 𝑙ờ𝑖 ( 𝑇ổ𝑛𝑔 𝑡à𝑖 𝑠ả𝑛 𝑐ó) Tỷ lệ thu lãi biên ròng (NIM) đo lường mức chênh lệch giữa thu từ lãi và chi phí trả lãi mà ngân hàng có thể đạt được thông qua các hoạt động kiểm soát chặt chẽ các tài sản sinh lời và theo đuổi nguồn vốn có chi phí thấp nhất. Nếu tỷ lệ NIM cao cho thấy ngân hàng đang thành công trong việc quản lí tài sản và nợ. Và ngược lại, nếu tỷ lệ NIM thấp thì chứng tỏ ngân hàng đang gặp khó khăn trong việc tạo ra lợi nhuận. 𝑇ổ𝑛𝑔 𝑡ℎ𝑢 𝑛ℎậ𝑝 𝑛𝑔𝑜à𝑖 𝑙ã𝑖 −𝑡ổ𝑛𝑔 𝑐ℎ𝑖 𝑝ℎí 𝑛𝑔𝑜à𝑖 𝑙ã𝑖 NOM = 𝑇ổ𝑛𝑔 𝑡à𝑖 𝑠ả𝑛 𝑐ó Tỷ lệ thu ngoài lãi biên ròng (NOM) đo lờng mức chênh lệch giữa nguồn thu ngoài lãi.
chủ yếu là nguồn thu phí từ các dịch vụ và các chi phí mà ngân hàng phải chịu như tiền lương, chí phí sửa chữa, bảo hành và chi phí tổn thất tín dụng. 𝐿ợ𝑖 𝑛ℎ𝑢ậ𝑛 𝑠𝑎𝑢 𝑡ℎ𝑢ế EPS = 𝑇ổ𝑛𝑔 𝑐ổ 𝑝ℎ𝑖ế𝑢 𝑡ℎờ𝑛𝑔 ℎ𝑖ệ𝑛 ℎà𝑛ℎ Hệ số thu nhập trên cổ phiếu (EPS) phản ánh thu nhập của có cổ đông tính trên mỗi cố phiếu hiện đang lưu hành. 𝐿ợ𝑖 𝑛ℎ𝑢ậ𝑛 𝑠𝑎𝑢 𝑡ℎ𝑢ế ROA = 𝑇ổ𝑛𝑔 𝑡à𝑖 𝑠ả𝑛 Thu nhập ròng trên tổng tài sản (ROA) đo lường khả năng của hội đồng quản trị ngân hàng trong quá trình sử dụng các nguồn lực nói chung và nuồn lực tài chính của ngân hàng nói riêng để tạo ra lợi nhuận. Theo Ngân hàng dự trữ liên bang thành phố Kansas (Forest E.Myers, Division of Supervision and Risk Management Federal Reserve Bank of Kansas City, 2005) “ROA là một trong những cách đo lường thường được sử dụng nhất để đánh giá hiệu quả hoạt động ngân hàng”.
𝐿ợ𝑖 𝑛ℎ𝑢ậ𝑛 𝑠𝑎𝑢 𝑡ℎ𝑢ế ROE = 𝑉ố𝑛 𝑐ℎủ 𝑠ở ℎữ𝑢 Thu nhập ròng trên tổng vốn chủ sở hữu (ROE) là chỉ tiêu đo lờng tỷ lệ thu nhập cho các cổ đông của ngân hàng. Nếu ngân hàng có tỷ lệ ROE thấp hơn so với 6 các ngân hàng khác thì sẽ ảnh hưởng đến việc thu hút vốn đầu tư mới để mở rộng cũng như duy trì vị thế cạnh tranh của ngân hàng trên thị trường. Nhóm chỉ tiêu phản ảnh thu nhập, chi phí Với mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận, các ngân hàng thương mại thường nâng cao hiệu quả hoạt động bằng cách tối thiểu hoá các chi phí, tăng năng suất lao động và nâng cao trình độ nhân viên. Bao gồm các chỉ tiêu sau: - Tổng chi phí hoạt động/ tổng thu từ hoạt động: là thước đo phản ánh mối quan hệ giữa đầu vào và đầu ra.
Nói cách khác thì chỉ tiêu này phản ánh khả năng bù đắp chi phí trong hoạt động của ngân hàng. - Năng suất lao động ( Thu nhập hoạt động/ số nhân viên làm việc đầy đủ thời gian): cho thấy hiệu quả sử dụng lao động của ngân hàng. - Tổng thu hoạt động/ Tổng tài sản: cho thấy hiệu quả sử dụng tài sản của ngân hàng. Nếu tỷ lệ này lớn thì chứng tỏ ngân hàng đã phân bổ tài sản một cách hợp lý nhằm nâng cao lợi nhuận của ngân hàng.
Nhóm chỉ tiêu phản ánh rủi ro - Tỷ lệ nợ xấu (tổng nợ xấu/ tổng dư nợ): chỉ tiêu này phản ánh chất lượng của tín dụng, chỉ tiêu này càng nhỏ thể hiện chất lượng tín dụng càng cao. - Tỷ lệ cho vay ( cho vay/ tổng tài sản): chỉ tiêu này phản ánh phần tài sản có được phân bổ vào những loại tài sản có thanh khoản kém. Tỷ lệ này cho thấy việc tăng cường vốn vay cũng có khả năng gây ra rủi ro thanh khoản nếu nhu cầu rút tiền của người dân tăng lên cũng như chất lượng của các khoản vay bị giảm. - Tỷ lệ đòn bẩy tài chính ( tổng tài sản/ tổng vốn chủ sở hữu): chỉ tiêu này thể hiện bao nhiêu đồng giá trị tài sản được tạo ra dựa trên cơ sở 1 đồng vốn chủ sở hữu.
Và ngân hàng phải dựa vào nguồn vay nợ là bao nhiêu. Nếu tỷ lệ càng lớn thì rủi ro phá sản của ngân hàng càng cao. - Tỷ lệ giữa tài sản nhạy cảm với lãi suất và nguồn vốn nhạy cảm với lãi suất: khi quy mô tài sản nhạy cảm với lãi suất vượt quá nguồn vốn nhạy cảm với lãi suất trong một thời gian nhất định, ngân hàng đó có khả năng rơi vào tình trạng bất lợi và thua lỗ nếu lãi suất giảm. Ngược lại, nếu quy mô nguồn vốn nhạy cảm với lãi suất vượt quá tài sản nhạy cảm với lãi suất ,ngân hàng chắc chắn sẽ bị thua lỗ nếu lãi suất tăng.
7 Nhìn chung, phương pháp đánh giá truyền thống này có ưu điểm là đơn giản, dễ hiểu. Đa phần các chỉ số tài chính này đều được tính toán từ các thông tin trên báo cáo tài chính của ngân hàng. Tuy nhiên, mỗi tỷ số chỉ cho biết hoặc đánh giá mối quan hệ tỷ lệ giữa 2 biến số cụ thể, không có một tỷ số nào có thể đánh giá tổng quan về tình trạng hoạt động của ngân hàng. Đối với tình hình hoạt động ngày càng đa dạng và phức tạp của ngân hàng, các nhà quản lí đang cố gắng đưa ra một bức tranh tổng thể khi kết hợp nhiều mặt, nhiều khía cạnh hoạt động khác nhau của ngân hàng.
Nếu chỉ xem xét các tỷ số trên thì sẽ có nguy cơ gây ra nhầm lẫn trong việc đánh giá hiệu quả hoạt động của ngân hàng do có quá nhiều tỷ số cần đánh giá và các tỷ số này đa phần đều mang tính chất thời điểm.