CHƯƠNG 1 TỎNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN, THUC TIEN VE ĐÁNH GIÁ HIỆU QUÁ HOAT ĐỘNG SAN XUẤT KINH DOANH 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Nghiên cứu ngoài nước Behn (2003) chi ra rang, HQKD có thể chịu tác động bởi nhiều nhân tố khác nhau như: Mục tiêu kinh doanh, quy mô hay tuéi đời doanh nghiệp.Có nhiều chỉ tiêu đo lường HQKD của doanh nghiệp nhưng các chỉ tiêu được sử dụng nhiều nhất trong các nghiên cứu với các hệ số giá trị kế toán (Còn gọi là các hệ số về lợi nhuận) như: Tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên doanh thu thuần (ROS), tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên tổng tài sản (ROA) hay tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên vốn chủ sở hữu (ROE). Shah và cộng sự (2011), Le và cộng sự (2011), Shahid (2003) đều cho rằng, chỉ tiêu đo lường HQKD (ROS hay ROA.) cũng gần tương tự như ROE.
ROE phản ánh với một đồng vốn mà chủ sở hữu đầu tư sẽ mang về bao nhiêu lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh và đây là vấn đề mà chủ sở hữu quan tâm nhất khi đầu tư. Fernando và cộng sự (2018), nghiên cứu 143 trường hợp về đổi mới mô hình kinh doanh dé sử dụng hiệu quả nguồn lực. Các biện pháp sử dụng hiệu quả nguồn lực xuất phát từ cả phía cung và phía cầu có mối quan hệ với mô hình kinh doanh - các thay đổi trong chuỗi cung ứng, quy trình nội bộ, giao diện khách hàng, mô hình tài chính và đề xuất giá trị. Những thay đổi về mô hình kinh doanh bị tác động bởi các yếu tố thé chế, công nghệ, hành vi, thị trường.
Kazuhiko Mikami (2018) nghiên cứu các công ty hợp tác phát hành cô phiếu thành viên có thể giao dịch và cho thấy về nguyên tắc, những công ty này hoạt động hiệu quả, khả thi về mặt tài chính như các công ty tư bản. Yunxiao Liu và cộng sự (2021) nghiên cứu các công ty ngoài tập đoàn từ năm 1987 đến 2010 và nhận thấy, các công ty này phải chịu nhiều ảnh hưởng từ việc đầu tư kém hiệu quả nếu hoạt động trong các ngành thuộc tập đoàn bởi thiếu hut vốn, khả năng cầm có dòng tiền đối với các nhà đầu tư thấp, hạn chế tài chính, kém hiệu quả trong đầu tư của tập đoàn. Johan Brandstrom và Ola Eriksson (2022) nghiên cứu kinh tế tuần hoàn nhằm cải thiện sự phát triển bền vững bằng cách giảm sự phụ thuộc vào tài nguyên và ảnh hưởng xấu tới hệ sinh thái, nhận thấy sự thiếu kết nối giữa định lượng độ tuần hoàn và hiệu suất môi trường, các số liệu không năm bắt được tất cả các vòng lặp và chuỗi giá trị về dòng nguyên liệu. Tác giả thấy rằng ngày càng nhiều công ty áp dụng lý thuyết này vào các chiến lược thiết kế mô hình kinh doanh.
Ben Lahou và cộng sự (2022) dựa trên lý thuyết của các bên liên quan cho thấy tính bền vững về môi trường của một công ty có thể cải thiện lợi thế cạnh tranh của họ. Nghiên cứu điều tra tác động của tính bền vững môi trường đến khả năng cạnh tranh của 28 hãng hàng không quốc tế giai đoạn 2010-2018. Các tác giả sử dụng phân tích dữ liệu mạng động để ước tính hiệu quả hoạt động như một thước đo khả năng cạnh tranh. Sau đó, sử dụng mô hình hồi quy để kiểm tra tính phi tuyến và hành vi chuyển đổi chế độ giữa các biến.
Các kết qua thực nghiệm chỉ ra rằng mối quan hệ giữa tính bền vững môi trường và khả năng cạnh tranh có hình chữ U ngược, nghĩa là có mức độ bền vững môi trường tối ưu mà khả năng cạnh tranh giảm đi. Tác động tiêu cực trong việc đầu tư lớn cho hoạt động bền vững là hàm ý các công ty cần nghiên cứu. Peter Wanke và cộng sự (2020) nghiên cứu mối quan hệ giữa hiệu quả và môi trường kinh doanh của các doanh nghiệp ngành năng lượng Trung Quốc. Nghiên cứu chi ra rằng: Việc tăng hiệu quả của ngành năng lượng có thé đạt được bằng cách tăng mức tồn kho và tài sản có định cũng như chi phí nghiên cứu và phát triển.
Tác giả nhắn mạnh, hiệu quả ngành năng lượng Trung Quốc bị ảnh hưởng bởi môi trường kinh doanh, và răng, phát triển sự cạnh tranh trong lĩnh vực tài chính rất hữu ích nâng cao hiệu quả của các công ty năng lượng. Yu En Lin và cộng sự (2021) nghiên cứu chiến lược kinh doanh điều chỉnh ảnh hưởng của trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp với đầu tư quá mức. Các tác giả cung cấp cơ sở về tác động điều tiết của chiến lược kinh doanh giữa trách nhiệm xã hội và sự đầu tư quá mức. Nghiên cứu cho thấy chiến lược kinh doanh có vai trò quan trọng trong việc hình thành hành vi và hiệu quả đầu tư của doanh nghiệp.
Whalen (2019) phân tích 56 công ty với 03 loại mô hình kinh doanh mở rộng giá trị sản phâm và phản ánh những đóng góp về hiệu quả nguồn lực của chúng. Nghiên cứu cho thấy các tác động môi trường khác nhau có liên quan đến từng loại hình doanh nghiệp và sự tương tác giữa doanh nghiệp với sản phẩm càng cao thi tiềm năng hiệu quả tài nguyên của mô hình kinh doanh càng lớn. Tác giả cũng đề xuất các đặc điểm cần được xem xét nếu các mô hình kinh doanh như vậy muốn đóng góp vào một nền kinh tế tuần hoàn hiệu quả hơn về tài nguyên. Rolf Fare và Valentin Zelenyuk (2020) đưa ra các kết quả lý thuyết mới cho thấy rằng hiệu quả lợi nhuận Nerlovian là một trường hợp đặc biệt của hiệu quả lợi nhuận chung, tạo ra một phân tích mới của hiệu quả lợi nhuận và phác thảo một cách đơn giản dé ước tính thước đo hiệu quả lợi nhuận tổng quát.
Kasim và cộng sự (2018) nghiên cứu xem xét khả năng tăng hiệu quả và hiệu lực của các công ty trong nước, cải tiến quy trình kinh doanh thông qua quản lý, cải tiến, tái cấu trúc quy trình kinh doanh. Isabel Maria Garcia Sanchez (2010) phân tích tác động của cấu trúc bảng đối với hiệu quả kỹ thuật của doanh nghiệp nhằm xác định hiệu quả của quản trị công ty. Tác giả sử dụng phương pháp phân tích bao dữ liệu với các hồi quy rút gọn được ước tính để xác định ảnh hưởng của năm đặc điểm của hội đồng quản trị: Kích thước, tính độc lập, danh tiếng, sự đa dạng và hoạt động. Kết quả nghiên cứu thực nghiệm cho thấy: Hiệu quả kỹ thuật kinh doanh tăng lên với một hội đồng quản trị không đồng nhất với một số chức vụ hạn chế cho mỗi giám đốc và với một hoạt động hạn chế được chỉ định, giảm sỐ lượng các cuộc họp hàng năm với số lượng chuyên gia cao hơn ủy ban.
Nghiên cứu trong nước Nguyễn Xuân Thắng và Nguyễn Sinh Khang (2013) trên cơ sở khái quát một số vấn đề về quản trị doanh nghiệp, đã đi sâu phân tích cơ cấu, tổ chức hệ thống quản trị tại Tập đoàn Dầu khí Việt Nam trong đó đặc biệt nhân mạnh yếu tố quản trị rủi ro. Phạm Thị Vân Anh (2017) cho rằng, để nâng cao hiệu quả SXKD, phát triển vững mạnh, bên cạnh cần môi trường kinh doanh thông thường, bình đăng với sự đồng hành của cơ quan, chính quyền các cấp trong cắt giảm chi phí đầu vào thì bản thân mỗi doanh nghiệp cần có giải pháp cắt giảm chi phí hoạt động của mình. Tác giả đã phân tích thực trạng va đề xuất một số giải pháp dé doanh nghiệp tham khảo. Phạm Đức Cường va Tran Xuân Quân (2018) sử dụng mô hình hồi quy dữ liệu bảng của 30 doanh nghiệp vật liệu xây dựng niêm yết để đánh giá các nhân tố ảnh hưởng tới HQKD từ đó đề xuất các biện pháp nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp.
Nguyễn Văn Ít và cộng sự (2018) đã tiến hành xác định mối quan hệ và đo lường ảnh hưởng của yếu tố năng lực marketing, hình ảnh thương hiệu, năng lực cạnh tranh đến HQKD của doanh nghiệp du lịch trên cơ sở khảo sát 490 lãnh đạo doanh nghiệp nội địa và doanh nghiệp có yếu tố nước ngoài. Phân tích dữ liệu bang mô hình phân tích nhân tố khám phá EFA, mô hình cấu trúc SEM. Kết quả nghiên cứu giúp đưa ra hàm ý quản trị phù hợp giúp các doanh nghiệp du lịch kinh doanh đạt hiệu quả tốt hơn. Dao Duy Huân và Nguyễn Dũng Tâm (2019) sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính, số liệu dựa trên các báo cáo thứ cấp từ năm 2016 đến năm 2018 và điều tra 250 hộ kinh doanh lĩnh vực chế biến, chế tạo.
Tác giả dùng ROS làm chỉ tiêu đánh giá HQKD và chỉ ra các nhân tố bên trong và bên ngoài ảnh hưởng đến HQKD. Từ kết quả phân tích, tác giả đề xuất giải pháp nâng cao HQKD: Nâng cấp cơ sở hạ tầng và giảm tác động của điều kiện tự nhiên; phát triển thị trường: chính sách về thuế; tăng cường cải cách thủ tục hành chính trong hoạt động kinh doanh; phát triển các dịch vụ hỗ trợ; tăng cường chính sách hỗ trợ tiếp cận nguồn vốn và tín dung; nâng cao chat luong nguồn nhân lực; hỗ trợ những hộ kinh doanh lâu năm. Phạm Minh Đức (2019) tiến hành phân tích thực nghiệm để nghiên cứu đánh giá tác động của cơ cấu nguồn vốn đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của 25 doanh nghiệp ngành vật liệu xây dựng niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam giai đoạn 2009-2017. Bằng phương pháp hồi quy với dữ liệu bảng, kết quả cho thấy việc sử dụng đòn bẩy tài chính ở mức cao có ảnh hưởng tiêu cực đến hiệu quả hoạt động kinh doanh.
Nguyễn Trọng Kiên (2019) nghiên cứu hệ thống chỉ tiêu phân tích hiệu qua SXKD trong doanh nghiệp dựa trên khía cạnh: Phân tích hiệu quả SXKD không phải chỉ dừng lại ở từng chỉ tiêu riêng lẻ mà là sự kết hợp tổng hòa của một nhóm chỉ tiêu. Từ đó, giúp cho các nhà quản lý có thể lựa chọn phương án kinh doanh, xác định đúng mục tiêu và chiến lược kinh doanh để nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Ngô Thị Kim Hòa (2019) sử dụng phần mềm STATA 12 để phân tích lựa chon mô hình hồi quy, kiểm định và ước lượng mô hình hồi quy dữ liệu bang để nghiên cứu tác động của cơ cấu nguồn vốn đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp xây dựng niêm yết. Mẫu nghiên cứu được chọn bao gồm 75 doanh nghiệp xây dựng niêm yết trong giai đoạn 2010-2017.