CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1. Khái niệm NCT và thực trạng dân số NCT ở Việt nam 1. Khái niệm người cao tuổi Ngày 4/12/2009 Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết ký lệnh công bố luật số 16/2009-L-CTN ban hành Luật người cao tuổi : NCT được quy định là công dân Việt Nam từ 60 tuổi trở lên, không phân biệt nam, nữ. Thực trạng già hóa dân số ở Việt nam Tính tới cuối năm 2010, Việt Nam đã có hơn 8 triệu NCT (9,4% dân số).
Tỷ lệ NCT trong tổng dân số đã tăng từ 6,9% (1979) lên 9,45% (2007), xấp xỉ ngưỡng dân số già theo quy định của thế giới. Tỷ lệ này dự kiến là 11,24% vào năm 2020 và sẽ tăng lên tới 28,5% năm 2050 [5]. Thời gian để Việt Nam chuyển từ giai đoạn "lão hóa" sang cơ cấu dân số "già" sẽ ngắn hơn và nhanh hơn nhiều so với các nước phát triển: giai đoạn này khoảng 85 năm ở Thụy Điển, 26 năm ở Nhật Bản, 22 năm ở Thái Lan, trong khi dự kiến ở Việt Nam là 20 năm. Năm 2011 Việt Nam đã chính thức bước vào giai đoạn già hóa dân số [6],[7].
Theo số liệu từ 3 cuộc Tổng điều tra dân số của Tổng cục thống kê Việt Nam: chỉ trong vòng 20 năm trở lại đây, số lượng NCT đã tăng gấp 2 lần. Tuổi thọ trung bình năm 1999 là 67,4, dự kiến trong vòng 30 năm tới (1999- 2029) nam sẽ là 72,6 và nữ là 78,6. Số lượng tăng từ 6,2 triệu người lên 16,5 triệu người chiếm 17,8% dân số [8]. Đặc điểm giải phẫu nhóm răng hàm nhỏ hàm trên Răng hàm nhỏ (RHN) là răng chuyển tiếp về hình thể và chức năng từ răng cửa sang răng hàm.
Khi mất các răng hàm lớn phía sau, các RHN sẽ thay thế về chức năng nhai. Có 2 RHN, răng số 4 và răng số 5 luan an 4 1. Đặc điểm giải phẫu ngoài răng hàm nhỏ hàm trên (RHNHT). RHNT1HT bắt đầu ngấm vôi từ 1,5 tuổi đến gần 2 tuổi.
Hoàn thành men lúc 5 - 6 tuổi. Tuổi mọc răng trung bình là 10 - 11 tuổi. Răng đóng kín chóp vào lúc 12 - 13 tuổi. Thân RHNT1HT có 2 núm, núm ngoài thường cao và lớn hơn núm trong.
Có nhiều răng núm bị mòn và tỷ lệ thuận với tuổi thọ của người, do đã tham gia chức năng nhai nhiều năm [9]. Thân răng có các đường góc, cạnh. Mặt ngoài lồi hơn mặt trong. Thân RHNT1HT ngắn hơn thân răng nanh là 1,5 – 2 mm.
Diện tiếp xúc với răng nanh và RHNT2HT ở ngang mức nhau. Khi chưa mòn, sườn gần múi ngoài dài hơn sườn xa (ngược với răng nanh). Bề gần xa chân RHNT1HT hẹp hơn răng nanh. Đa số RHNT1HT có 1 chân răng, tuy nhiên cũng có những trường hợp có 2 chân [9],[10],[11].
Nếu có 1 chân răng thì thường có rãnh nằm ở mặt gần và mặt xa (rãnh phát triển), rãnh này làm chân răng có xu hướng chia thành hai chân răng. Tỷ lệ RHNT1HT có 3 chân thay đổi phụ thuộc vào chủng tộc người. Tỷ lệ cao nhất được ghi nhận ở người Kosovo và người Thổ nhĩ kỳ lên tới trên 10% [12]. Hình ảnh mặt ngoài RHNT1HT phải [4] luan an 5 Hình 1.
Hình ảnh mặt gần RHNT1HT phải [4] Hình 1. Hình ảnh RHNT1HT phải đã nhổ với 3 chân răng [4] RHNT2HT cùng chức năng ăn nhai như RHNT1HT nên tương tự về hình thể. RHNT2HT hình thù ít góc cạnh hơn và chỉ có một chân. Trên bộ răng một người kích thước RHNT2HT có thể bằng hay nhỏ hoặc to hơn RHNT1HT chút ít.
Chân răng thì dài hơn [4],[12]. luan an 6 Hình 1. Hình ảnh mặt ngoài RHNT2HT phải [4] Hình 1. Hình ảnh mặt gần RHNT2HT phải [4] 1.
Đặc điểm giải phẫu HTOT răng hàm nhỏ hàm trên Dựa trên những phương tiện hiện đại, đặc điểm hình thái của răng và tủy răng được phát hiện ngày càng đa dạng. Việc hiểu biết về sự phức tạp của HTOT là cần thiết để ứng dụng những nguyên tắc trong việc làm sạch, tạo hình, xác định giới hạn và kích thước của việc sửa soạn OT [13],[14]. Một tỷ lệ lớn thất bại trong điều trị nội nha là do sự phức tạp của HTOT [15]. Đặc điểm giải phẫu buồng tủy: Buồng tủy (BT) của RHNHT rộng theo chiều trong ngoài hơn chiều gần xa.
Sừng tủy ngoài cũng lớn hơn sừng tủy trong. Trần và sàn BT rộng tương đương nhau. Miệng OT trong hơi rộng hơn miệng OT ngoài. Sự can xi hoá BT là một hiện tượng thường gặp ở răng luan an 7 NCT, 90% răng lứa tuổi trên 40 xuất hiện can xi hoá BT làm thể tích BT hẹp lại.
Ở người cao tuổi trần và sàn BT sát nhau, canxi hóa có thể lấp kín miệng lỗ OT [11],[12],[13]. Quá trình canxi hoá gây ra mất hoàn toàn thần kinh tủy, can xi hoá vùng chóp răng làm giảm số lượng các nhánh thần kinh trong BT so với người trẻ tuổi. Can xi hoá bắt đầu từ thành phần liên kết bao quanh thần kinh sau đó là chính các dây thần kinh [16],[17],[18]. Đặc điểm giải phẫu hệ thống ống tủy RHNHT là một trong những răng có HTOT phức tạp nhất và có nhiều dạng bất thường, thấy được cả 8 biến thể OT theo phân loại của Vertuci.
Theo Ingle, nhóm răng này có tỉ lệ điều trị thất bại cao do hạn chế trong việc tiếp cận đến toàn bộ các ống tủy. Trên lát cắt ngang, OT RHNHT thường có dạng hình oval, dạng dẹt, hoặc bất thường hơn là dạng tròn đơn thuần, Tỉ lệ OT có dạng oval ở nhóm RHN là 63%, theo nghiên cứu của Wu MK và cộng sự. Dọc theo chiều dài OT, cấu trúc OT có thể có thay đổi mà khó nhận biết được trên phim Xquang thường qui [19]. Cấu trúc eo OT liên kết giữa các OT cùng chung 1 chân răng, đây là yếu tố giải phẫu làm tăng độ khó trong sửa soạn theo chu vi OT, đã được đề xuất để tạo hình những dạng OT không đối xứng để lấy bỏ toàn bộ mô nhiễm khuẩn trên thành OT [20].
Trên các lát cắt dọc, hình thái HTOT chân RHN rất phức tạp, nhất là ở các chân răng dẹt theo chiều gần xa, trong 1 chân răng không đơn thuần chỉ có 1 OT mà tỷ lệ có 2 OT rất cao. Hai OT trong cùng 1 chân răng có thể riêng rẽ hoàn toàn hoặc có sự kết nối hoặc có sự phân chia hay sát nhập. RHNHT có thể có một, hai hoặc ba OT. Răng ba chân thường có hai OT ngoài và một OT trong, mỗi chân răng có một OT riêng biệt.
Nửa trên OT hình oval tương đối rộng nhưng nó thay đổi độ thuôn rất nhanh, tới 1/3 chóp OT thường rất hẹp và cong [12],[19]. luan an 8 Hình 1. Hình thể trong RHNT1HT trên phim CBCT với 1,2 và 3 OT [13] Hình 1. Hình thể trong RHNT2HT trên phim CBCT với 1,2 và 3OT [13] 1.
Phân loại HTOT theo Vertucci Ở răng vĩnh viễn, HTOT rất phức tạp, có nhiều OT trong một răng, mỗi OT phân chia thành nhiều nhánh, sau đó hợp lại thành một OT. Vertucci và cộng sự đã phân thành 8 dạng hình thái khác nhau của HTOT [19] luan an 9 Hình 1. Phân loại HTOT theo Vertucci [19] Loại I (1): Một ống tủy đi từ buồng tủy đến chóp răng, có mô ̣t lỗ chóp răng. Loại II (2-1): Hai ống tủy tách nhau từ buồng tủy sau đó chập lại làm một, có một lỗ chóp răng.
Loại III (1-2-1): Một ống tủy đi từ buồng tủy, sau tách thành hai, cuối cùng lại chập lại làm một, có một lỗ cuống răng. Loại IV (2-2): Hai ống tủy tách ra riêng biệt từ buồng tủy, có hai lỗ chóp riêng biệt. Loại V (1-2): Một ống tủy đi từ buồng tủy, sau tách thành hai ống tủy riêng biệt với hai lỗ chóp răng. Loại VI (2-1-2): Hai ống tủy từ buồng tủy, chập vào nhau ở giữa và tách đôi ở chóp răng, có hai lỗ chóp riêng biệt Loại VII (1-2-1-2): Một ống tủy đi từ buồng tủy, sau tách thành hai, rồi lại chập làm một, cuối cùng tách đôi và có hai lỗ chóp răng.
Loại VIII (3): Ba ống tủy đi từ buồng tủy và ra khỏi răng với ba lỗ chóp riêng biệt. Thay đổi ở răng và hệ thống ống tủy ở NCT Lão hóa là quá trình thay đổi về sinh lý, tâm lý và xã hội. Theo Carranza, lão hóa là quá trình tan rã về mặt mô học cũng như sinh lý chức năng, phân định từ lúc mới sinh, thời thơ ấu và khi trưởng thành bởi đặc trưng giữa quá trình phân hủy và tổng hợp [21]. Một số giả thuyết về quá trình lão hóa Có nhiều giả thuyết về quá trình lão hóa tự nhiên của cơ thể.
Chúng được chia làm 4 nhóm lớn: Nhóm đồng hồ sinh học, nhóm miễn dịch học, nhóm biến đổi DNA và nhóm biến đổi các thành phần của tế bào. Chúng tôi sẽ điểm qua một số giả thuyết có nhiều điểm liên quan tới sự thay đổi của khoang miệng NCT [22]: Thuyết clinker cho rằng theo tuổi tác thì sắc tố nâu (ví dụ lipofuscin hay ceroid) ngày càng tích tụ nhiều hơn trong các tế bào không phân chia ở tim, não và thần kinh và một vài các cơ quan khác, can thiệp và làm tắc nghẽn hoạt động của các tế bào có liên quan. Thuyết falling domino cho rằng có một số chất độc hại nhất định tích lũy trong tế bào, lượng chất bị ức chế này nhiều lên theo tuổi tác. Khi một cấu trúc bên trong tế bào bị ức chế hoặc “sụp đổ”, thì các cấu trúc khác bên trong tế bào đó cũng có xu hướng bị ức chế.
Thuyết thermal denaturation cho rằng quá trình biến chất chậm do nhiệt làm bất động các protein. Kéo theo sự gián đoạn và cuối cùng là giết chết các tế bào liên quan. Thuyết cellular loss cho rằng tế bào mất đi là một trong những nguyên nhân cơ bản gây ra quá trình lão hóa ở người. Tế bào chết đi có thể gây ra suy giảm chức năng và sự co lại của các cấu trúc liên quan.
Thuyết enzyme/hormon/glycoprotein cho rằng biểu hiện thông thường của lão hóa chính là suy giảm hoạt động của enzyme, hormon và glycoprotein. Hormon tiêu thụ ô-xi giảm dần, mà một số người coi là hormon gây lão hóa, hoặc hormon “tử thần”, tăng lên cùng với tuổi tác. Thuyết genetic timetable còn được biết đến với tên gọi là thuyết đồng hồ gen hay thuyết tiến hóa sinh thái học. Thuyết này cho rằng với mỗi loài đều tồn tại một tuổi thọ tối đa được quy định bằng một gen cụ thể.
luan an 11 Thuyết miễn dịch giả định rằng cùng với quá trình lão hóa, hệ miễn dịch ngày càng không phân biệt được protein bình thường và protein lạ và do đó các protein bình thường cũng bị phá hủy.