ĐẶT VẤN ĐỀ Rừng đƣợc coi là nguần tài nguyên thiên nhiên vô cùng quý giá, bởi những lợi ích mà rừng đem lại cho con ngƣời là rất lớn. Rừng không những đem lại hiêu quả về mặt kinh tế thông qua việc cung cấp gỗ và lâm sản ngoài gỗ, duy trì cân bằng sinh thái mà rừng còn có tác dụng phòng hộ, bảo vệ đất, điều tiết nguần nƣớc, duy trì cân bằng sinh thái và bảo vệ môi trƣờng sống. Bên cạnh đó rừng còn là nơi thăm quan, du lịch giải trí và nghiên cứu khoa học. Nhƣng trong những năm vừa qua do áp lực của sự bùng nổ dân số, kéo theo đó là những hoạt động phát triển kinh tế diễn ra mạnh mẽ, sự đô thị hóa nhanh chóng đã làm cho rừng bị thu hẹp diện tích, giảm sút chất lƣợng và môi trƣờng bị suy thoái nghiêm trọng, thiên tai, lũ lụt,.
xẩy ra liên tục ảnh hƣởng nhiều tới đời sống của ngƣời. Đứng trƣớc tình hình đó nhiều quốc gia, nhiều tổ chức quốc tế đã và đang nghiên cứu để đƣa ra những giải pháp, phƣơng án để giải quyết vấn đề “ làm sao để phát triển kinh tế xã hội mà khôn làm tổn hại đến môi trƣờng sinh thái”. Chính vì vậy, mà mỗi hoạt động sản xuất kinh doanh nào cũng đều tác động đến môi trƣờng xung quanh, mỗi hoạt động đều tác động đến cả ba mặt kinh tế_ xã hội_ môi trƣờng sinh thái. Phải xem xét toàn diện và tổng hợp trên cả ba mặt: thứ nhất về kinh tế : Hoạt động sản xuất đó phải mang lại lợi nhuận cao, tăng thu nhập cho ngƣời dân.
Thứ hai về xã hội: Hoạt động sản xuất đó phải giải quyết đƣợc công ăn việc làm cho ngƣời dân, xóa đói, giảm nghèo, phù hợp với phong tục tập quán của ngƣời dân và đƣợc ngƣời dân chấp nhận. Thứ ba về môi trƣờng sinh thái: Hoạt động đó sản xuất phải duy trì và bảo vệ tìa nguyên thiên nhiên, bảo vệ nguần nƣớc, bảo vệ đất, suy trì cân bằng sinh thái và đa dạng sinh học. Những việc đánh giá hiệu quả của mô hình trồng rừng là một vấn đề khá phức tạp, vì giữa ba mặt kinh tế_ xã hội_ môi trƣờng sinh thái có mối quan hệ khăng khít và ảnh hƣởng lẫn nhau. Nếu ta coi trọng vấn đề này thì sẽ ảnh hƣởng và xem nhẹ mặt khác, vậy nên tìm ra điểm gặp và hài hòa của ba mặt trên là điều cần thiết, là điều kiện cần thiết để đảm bảo cho việc phát triển bền vững.
Đồng thời từ việc đánh giá này làm cơ sở để lựa chọn loài cây trồng, mô hình rừng trồng tốt nhất phù hợp với điều kiện khu vực nghiên cứu. Do đặc thù của hoạt 1 động sản xuất lâm nghiệp là lấy rừng và đất rừng làm đối tƣợng và tƣ liệu sản xuất, hơn nữa nghê rừng là nghề mang tính xã hội sau sắc nên ngoài việc tổ chức sản xuất kinh doanh nhằm phát triển kinh tế xã hội, sản xuất lâm nghiện còn mang lại giá trị cao về môi trƣờng. Những giữa phát triển kinh tế xã hội và bảo vệ môi trƣởng sinh thái luôn tồn tại mâu thuẩn. Vì vây để giải quết vấn đề này trong sản xuất lâm nghiệp cần đƣa ra những phƣơng thức canh tác thích hợp nhằm giải quyết hài hòa các lợi ích kinh tế - xã hội – môi trƣờng sinh thái, đảm bảo cho việc phát triển lâm nghiệp theo hƣớng bên vững.
Đặc biệt là trồng rừng, hiện nay việc lựa chọn cây trồng, lựa chọn mô hinh rừng trồng không những thu nhập đƣợc hiệu quả kinh tế - xã hội cao mà còn cải thiện và bảo vệ môi trƣờng sinh thái tốt đang là giải pháp có ý nghĩa chiến lƣợc và mang tính khả thi nhất. Thạch Cẩm là một xã miền núi của huyện Thạch Thành, khu vực này có diện tích lâm nghiệp khá lớn diện tích đất canh tác nông nghiệp ở khu vực này nhìn chung là ít và ảnh hƣởng xấu đến việc thâm canh tăng năng xuất cây trồng, thu thập có đƣợc từ nông nghiệp không đủ đảm bảo cuộc sống ngƣời dân. Vì vậy, cuộc sống của ngƣời dân còn dựa vào những khu rừng và đi làm ăn xa là chính. Cùng với nhu cầu củi gỗ và các lâm sản ngoài gỗ khác từ rừng ngày càng tăng , kiểu canh tác lạc hậu của ngƣời dân địa phƣơng miền núi đã làm giảm nhanh chóng diện tích rừng, đồng thời ảnh hƣởng xấu tới nguần nƣớc, tăng độ xói mòn, giảm độ phì suy giảm tài nguyên rừng.
Xuất phát từ vấn đề này mà trong những năm gần đây, công tác trông rừng theo các dự án để phát triển sản xuất và bảo vệ môi trƣởng đƣợc các xã, các huyện quan tâm, nhiều mô hình sản xuất đã đƣợc áp dụng và phát huy hiệu quả cao. Chính vì những lý do trên mà tôi tiến hành thực hiện nghiên cứu khóa luận: “ Đánh giá hiệu quả của một số mô hình rừng trồng tại xã Thạch Cẩm, huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa” nhằm đƣa ra những đƣợc mô hình mang lại hiệu quả cao cả về kinh tế - xã hội – môi trƣờng sinh thái. 2 Chƣơng 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Trên thế giới Quá trình phát triển lâm nghiệp trên thế giới đã trải qua bốn giai đoạn: giai đoạn củi gỗ, giai đoạn công nghiệp khai thác vận chuyển, giai đoạn rừng phát triển toàn diện và giai đoạn kinh doanh rừng tổng hợp.
Ngày nay, lâm nghiệp thế giới đang bƣớc sang giai đoạn thứ năm đó là kinh doanh rừng bền vững với các tiêu chí bền vững về kinh tế - xã hội và môi trƣờng sinh thái. Giai đoạn gỗ, củi rừng đƣợc coi là loại tài nguyên vô tận, cung cấp cho loài ngƣời tất cả những gì cần thiết cho cuộc sống nhƣ ( lƣơng thực, thực phẩm,. Trong giai đoạn này do dân số thế giới thấp, khai thác rừng bằng phƣơng pháp thủ công và do chặt phá rừng khi chỉ lấy đất canh tác, lấy gỗ phục vụ nhƣ cầu tại chỗ nên sức tàn phá rừng chƣa lớn. Vì vậy, rừng vẫn còn khả năng hồi phục và những tác động đến môi trƣờng sinh thái chƣa lớn, nhƣ vậy tác động kinh t- xã hội của rừng đã đƣợc khai thác từ khi con ngƣời chƣa xuất hiện và có vai trò quan trọng đối với lịch sử phát triển nhân loại.
Tuy nhiên khi đó con ngƣời nhận thức đƣợc vai trò của rừng đối với việc cân bằng sinh thái. Giai đoạn 2 và 3 đƣợc bắt đâu từ thời kỳ chủ nghĩa tƣ bản phát triển ở châu Âu và Bắc Mỹ. Lúc này, nhu cầu gỗ tăng cao để phục vụ ghành lâm nghiệp khai thác rừng thúc đẩy tiến bộ khoa học chuyển giao công nghệ từ khai thác thủ cồng sang quy mô công nghiệp. Đây là giai đoạn mà rừng bị tàn phá nhiều nhất trong lịch sử loài ngƣời, hậu quả của việc tàn phá rừng cũng thƣờng xuyên hơn.
Loài ngƣời bắt đầu nhận ra đƣợc vai trò to lớn của rừng đối với môi trƣờng sống trên trái đất. Gunter trƣờng đại học tổng hợp thuộc bang Michigan - Mỹ đã xuất bản giáo trình: “Những vấn đề cơ bản trong đánh giá đầu tƣ lâm nghiệp”. Trong đó, chủ yếu tác giả đƣa ra các cơ sở để đánh giá hiệu quả rừng trồng nhƣ các công thức tính lãi, giá trị thu nhập trên chi phí, tỷ lệ thu hồi vốn nội bộ,… Đây là một giáo trình tƣơng đối hoàn chỉnh để giới thiệu hệ thống 3 chi tiêu và cơ sở để đánh giá hiệu quả từ đơn giản đến phức tạp, các chỉ tiêu cho phép đánh giá hiệu quả kinh doanh rừng trồng về mặt kinh tế - xã hội và môi trƣờng, một số chỉ tiêu đơn giản đã và đang đƣợc vận dụng trong đánh giá hiệu quả kinh doanh (dẫn theo Trần Hữu Đào, 2001). Năm 1979, Tổ chức nông nghiệp và lƣơng thực thế giới (FAO) đã xuất bản giáo trình: “Phân tích các dự án lâm nghiệp”, do Hans – Maregersen và Amoldo H.
Contresal biên soạn. Tài liệu này đƣợc FAO dùng để giảng dạy tại các nƣớc có đầu tƣ dự án trồng rừng và phát triển lâm nghiệp. Giáo trình đã đề cập đến các nội dung sau: Tiếp cận các phân tích dự án lâm nghiệp, Phƣơng pháp xác định chi phí đầu tƣ vào dự án, Phƣơng pháp đánh giá hiệu quả của dự án. Đây là một tài liệu tƣơng đối đầy đủ và phù hợp với điều kiện đánh giá hiệu quả của dự án lâm nghiệp của nhiều nƣớc trên thế giới.
Hiệu quả của dự án thể hiện trên hai mặt: Phân tích tài chính là sự đánh giá, mô tả tính sinh lời thƣơng mại tự động của dự án. Phân tích kinh tế và phân tích xã hội thu đƣợc từ vốn đầu tƣ các nguồn lực cho dự án. Ở đây hiệu quả kinh tế đƣợc hiểu theo nghĩa bao hàm cả hiệu quả về mặt xã hội và môi trƣờng (dẫn theo Trần Hữu Đào, 2001). Năm 1992, hội nghị quốc tế về môi trƣờng ở Rio - Dejanerio đã đi tới tiếng nói chung: Phải kết hợp hài hòa giữa phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trƣờng, hƣớng tới phát triển bền vững phạm vi quốc gia và trên thế giới”.
Cũng vào năm này, R.Rhoadr đã vận dụng phƣơng pháp PRA để xây dựng phƣơng pháp “từ nông dân đến nông dân”, phƣơng pháp này đã có nhiều ƣu điểm. Các thông tin đƣợc kiểm tra chéo nhiều lần qua đánh giá của ngƣời dân. Vì vậy, hiệu quả trong đánh giá tƣơng đối chính xác. Hiện nay phƣơng pháp này đang đƣợc sử dụng để điều tra đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội và môi trƣờng ở nhiều nƣớc trên thế giới.
Năm 1979, Tổ chức Nông nghiệp và Lƣơng thực thế giới (FAO) đã xuất hiện bản giáo trình” phân tích dự án lâm nghiệp”. Cuốn sách đã đề cập đến cac nội dung: tiếp cận, phân tích dự án, phƣơng pháp phân tích chi phí đầu vào và ra, phƣơng pháp phân tích hiệu quả dự án. Hiệu quả kinh tế của dự án trồng rừng 4 bao hàm các hiệu quả về mặt xã hội và sinh thái. Trong nhiều năm, FAO đã nghiên cứu vấn đề canh tác trên đất dốc và đƣa ra các mô hình cach tác hiệu quả nhƣ sau: SALT 1, SALT 2 và SALT 3.
Nhƣ vậy, đánh giá hiệu quả kinh doanh rừng trồng về mặt phƣơng pháp luận, cho tới nay đã tƣơng đối hoàn chỉnh và ngày càng đƣợc phổ cập rộng rãi trên thế giới.