Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Cây lúa giữ vị trí trọng tâm trong cơ cấu sản xuất nông nghiệp Việt Nam, vừa đảm bảo an ninh lương thực quốc gia vừa tạo nguồn nông sản xuất khẩu chủ lực. Tại khu vực Miền Đông Nam Bộ nói chung và tỉnh Tây Ninh nói riêng, năng suất và sản lượng lúa đóng góp đáng kể vào thị trường lúa gạo. Tuy nhiên, tập quán canh tác truyền thống của nông dân vẫn tồn tại nhiều hạn chế: gieo sạ quá dày (mật độ phổ biến từ 200 – 220 kg/ha), bón phân mất cân đối (đặc biệt là lạm dụng phân đạm), và lạm dụng thuốc bảo vệ thực vật (BVTV), nhất là việc phun thuốc trừ sâu quá sớm trong giai đoạn đầu vụ. Những thói quen này làm gia tăng chi phí đầu vào, đẩy giá thành sản xuất lên cao, làm giảm phẩm chất lúa gạo xuất khẩu, đồng thời gây suy thoái hệ sinh thái đồng ruộng và ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe cộng đồng.

Nhằm khắc phục tình trạng trên, từ sáng kiến tại Hội nghị nông nghiệp tháng 5/2002 tại Philippines của Viện Lúa Quốc tế (IRRI), Viện Lúa Đồng bằng sông Cửu Long và Cục Bảo vệ Thực vật, chương trình "3 giảm 3 tăng" (3G3T) đã được hình thành. Ngày 14/10/2004, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn chính thức phát động chương trình trên toàn vùng phía Nam, tiếp nối bằng Công văn số 995/BNN-PTNT ngày 18/2/2005. Tại Tây Ninh – địa phương có diện tích lúa lớn nhất Miền Đông Nam Bộ – Chi cục Bảo vệ Thực vật đã triển khai diện rộng mô hình 3G3T từ vụ Hè Thu và vụ Mùa năm 2005.

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Võ Thị Mỹ Chiêu được thực hiện nhằm giải quyết các mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu sau:

Mục tiêu nghiên cứu:

  1. Tìm hiểu hiệu quả của chương trình "3 giảm, 3 tăng" mang lại cho người dân, đánh giá tính khả thi và mức độ chấp nhận của nông dân tại địa phương.
  2. Xác định những thuận lợi và khó khăn trong quá trình triển khai chương trình "3 giảm, 3 tăng" trên địa bàn tỉnh Tây Ninh.
  3. Xem xét khả năng và tiềm năng mở rộng của chương trình trong thực tiễn sản xuất.
  4. Đề xuất các nhóm giải pháp nhằm nhân rộng diện tích ứng dụng chương trình "3 giảm, 3 tăng" trên địa bàn tỉnh.

Các giả thiết và nhiệm vụ nghiên cứu:

  • Đánh giá thực trạng triển khai và tiến trình hoạt động của chương trình 3G3T tại tỉnh.
  • Đánh giá hiệu quả tổng hợp trên ba phương diện: kinh tế, môi trường sinh thái và xã hội.
  • So sánh chi tiết các chỉ tiêu kỹ thuật, chi phí đầu tư và kết quả sản xuất giữa nhóm hộ nông dân tham gia chương trình và nhóm hộ canh tác theo tập quán truyền thống.
  • Khảo sát nhận thức, mức độ hài lòng cùng nhu cầu, nguyện vọng của nông dân về vốn và tập huấn kỹ thuật.
  • Phân tích rào cản và đề xuất giải pháp kỹ thuật, tổ chức để nhân rộng mô hình.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Nông dân trực tiếp sản xuất lúa trên địa bàn tỉnh Tây Ninh.
  • Phạm vi không gian: Nghiên cứu tập trung tại 4 huyện có diện tích canh tác lúa trọng điểm của tỉnh Tây Ninh gồm Trảng Bàng, Gò Dầu, Bến Cầu và Châu Thành.
  • Phạm vi thời gian: Số liệu thứ cấp và sơ cấp phục vụ đánh giá trong giai đoạn 2005 – 2006; thời gian thực hiện đề tài từ ngày 09/07/2007 đến ngày 27/10/2007.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận xây dựng hệ thống cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu chuyên ngành Phát triển Nông thôn và Khuyến nông:

Cơ sở lý thuyết và khái niệm sử dụng

  • Khái niệm Nông nghiệp bền vững: Tiếp cận theo định nghĩa của TAC/CGIAR (1988), coi nông nghiệp bền vững là sự quản lý các nguồn tài nguyên phục vụ nông nghiệp nhằm thỏa mãn nhu cầu thay đổi của con người, đồng thời duy trì, nâng cao chất lượng môi trường và bảo tồn tài nguyên đất, nước, dưỡng chất và sinh vật.
  • Quản lý tổng hợp dịch hại cây trồng (IPM): Sử dụng định nghĩa của Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hiệp Quốc (FAO), coi IPM là hệ thống quản lý dịch hại kết hợp hài hòa các biện pháp kỹ thuật canh tác, sinh học, cơ giới và hóa học (khi cần thiết) để duy trì mật độ dịch hại dưới ngưỡng gây hại kinh tế mà không phá vỡ cân bằng sinh thái.
  • Nông dân tham gia nghiên cứu (FPR - Farmer Participatory Research): Khái niệm về phương pháp khuyến nông có sự tham gia, cụ thể là thí nghiệm không phun thuốc trừ sâu trong giai đoạn 0 – 40 ngày sau sạ (NSS) dựa trên khả năng tự đền bù chồi, lá của cây lúa ở giai đoạn đẻ nhánh.
  • Cơ chế tác động "3 giảm 3 tăng":
    • 3 giảm: Giảm lượng hạt giống gieo sạ (xuống 70 – 100 kg/ha với sạ hàng hoặc 100 – 120 kg/ha với sạ thưa), giảm lượng phân đạm (bón cân đối NPK dựa trên bảng so màu lá lúa và nhu cầu sinh trưởng), giảm số lần phun thuốc bảo vệ thực vật (áp dụng nguyên tắc 4 đúng, không phun thuốc sâu trước 40 NSS).
    • 3 tăng: Tăng năng suất lúa, tăng chất lượng nông sản (đạt tiêu chuẩn 4 không: không dư lượng thuốc BVTV, không nhiễm kim loại nặng, không tồn dư Nitrat, không nhiễm khuẩn), tăng hiệu quả kinh tế/lợi nhuận cho nông hộ.
  • Hệ thống chỉ tiêu kinh tế: Chi phí vật chất, chi phí lao động, thủy lợi phí, tổng chi phí sản xuất (TCP), doanh thu, lợi nhuận (LN), thu nhập (TN), tỷ suất lợi nhuận trên tổng chi phí (LN/TCP), tỷ suất thu nhập trên tổng chi phí (TN/TCP) và giá thành sản xuất 1 kg lúa.

Phương pháp nghiên cứu

  • Phương pháp điều tra chọn mẫu: Khảo sát trực tiếp $n = 100$ hộ nông dân sản xuất lúa trên địa bàn 4 huyện trọng điểm, chia đều thành 2 nhóm đối chứng độc lập:
    • Nhóm 1: 50 hộ có áp dụng quy trình "3 giảm 3 tăng".
    • Nhóm 2: 50 hộ canh tác theo tập quán truyền thống (không tham gia 3G3T).
    • Phân bổ địa bàn: Huyện Trảng Bàng (30 hộ), huyện Châu Thành (30 hộ), huyện Bến Cầu (20 hộ), huyện Gò Dầu (20 hộ).
  • Phương pháp thu thập dữ liệu:
    • Dữ liệu sơ cấp: Thu thập thông qua bảng câu hỏi phỏng vấn trực tiếp chủ hộ nông dân và tham vấn ý kiến kỹ thuật viên khuyến nông, cán bộ BVTV tại địa bàn.
    • Dữ liệu thứ cấp: Thu thập từ Niên giám Thống kê tỉnh Tây Ninh (2005 – 2006), báo cáo sản xuất của Cục Trồng trọt, Sở Nông nghiệp và PTNT tỉnh Tây Ninh, Chi cục Bảo vệ Thực vật và Trung tâm Khuyến nông Tây Ninh.
  • Phương pháp phân tích và xử lý số liệu: Sử dụng phương pháp thống kê mô tả, phương pháp so sánh tuyệt đối ($\Delta$) và so sánh tương đối ($%$). Dữ liệu được tính toán và tổng hợp trên phần mềm Microsoft Excel và Microsoft Word.

Nội dung chính theo từng chương

Chương I: Mở đầu

Chương này trình bày tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ yêu cầu chuyển đổi tập quán canh tác lúa tại Tây Ninh nhằm hạ giá thành, nâng cao phẩm chất nông sản trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế. Tác giả xác định rõ 4 mục tiêu nghiên cứu, 5 giả thiết/nhiệm vụ công tác, phạm vi thời gian (2005 – 2006), không gian khảo sát (4 huyện Trảng Bàng, Gò Dầu, Bến Cầu, Châu Thành) và cấu trúc 5 chương của khóa luận.

Chương II: Tổng quan tài liệu nghiên cứu

Chương II tổng quan bối cảnh văn bản chỉ đạo chương trình 3G3T từ cấp Bộ đến địa phương, đồng thời phân tích toàn diện các điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội của tỉnh Tây Ninh:

  • Điều kiện tự nhiên: Vị trí cầu nối TP. Hồ Chí Minh – Phnôm Pênh; khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa cận xích đạo với nhiệt độ trung bình năm 27°C, lượng mưa tập trung 85,6 – 90% vào mùa mưa (tháng 5 – 11). Tài nguyên nước phụ thuộc hệ thống sông Sài Gòn (135 km qua tỉnh), sông Vàm Cỏ Đông, hồ Dầu Tiếng (diện tích 27.000 ha, dung tích 1,5 tỷ m³, tưới cho 172.000 ha đất sản xuất).
  • Thổ nhưỡng: Tổng diện tích tự nhiên 403.765 ha, phân thành 5 nhóm đất chính: đất xám chiếm ưu thế tuyệt đối với 339.833 ha (84,21%), đất phèn 27.653 ha (6,85%), đất đỏ vàng 7.670 ha (1,90%), đất phù sa 1.775 ha (0,44%), đất than bùn 1.072 ha (0,27%).
  • Kinh tế - xã hội: Dân số năm 2005 là 1.034.400 người; lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên là 760.296 người (trong đó hoạt động kinh tế thường xuyên chiếm 76,37%). Đất nông nghiệp chiếm 278.520 ha (68,98% diện tích tự nhiên). Năng suất lúa bình quân toàn tỉnh năm 2006 đạt 4,27 tấn/ha. Toàn tỉnh có hệ thống thủy nông gồm 1.782 km kênh tưới và 325 km kênh tiêu, phục vụ diện tích tưới năm 2006 đạt 93.000 ha.
+-----------------------------------------------------------------------+
|                 CƠ CẤU ĐẤT ĐAI TỈNH TÂY NINH NĂM 2006                 |
+------------------------------------+----------------+-----------------+
| Loại đất                           | Diện tích (ha) | Tỷ lệ (%)       |
+------------------------------------+----------------+-----------------+
| Tổng diện tích đất tự nhiên        | 403.765        | 100,00          |
| Đất nông nghiệp                    | 278.520        | 68,98           |
| Đất lâm nghiệp                     | 69.713         | 17,26           |
| Đất chuyên dùng                    | 18.655         | 4,62            |
| Đất khu dân cư                     | 8.717          | 2,15            |
| Đất sông và mặt nước chuyên dùng   | 25.600         | 6,34            |
| Đất nuôi trồng thủy sản            | 1.213          | 0,30            |
| Đất chưa sử dụng và các loại khác  | 1.347          | 0,35            |
+------------------------------------+----------------+-----------------+

Chương III: Nội dung và phương pháp nghiên cứu

Trình bày khung lý thuyết về nông nghiệp bền vững, các quy luật sinh thái học trong quản lý dịch hại IPM và FPR. Khóa luận phân tích cơ sở sinh lý của cây lúa khi giảm mật độ sạ và giảm đạm (cây đanh dảnh, cứng cây, tế bào biểu bì dày, hạn chế bốc thoát hơi nước và sâu bệnh xâm nhập).

Chương này cũng cụ thể hóa quy trình kỹ thuật chuẩn của mô hình 3G3T:

  • Kỹ thuật chọn và xử lý giống (độ thuần >99,75%, tỷ lệ nảy mầm >80-90%).
  • Quy trình bón phân đợt 1 (7 – 10 NSS), đợt 2 (18 – 20 NSS) và bón đón đòng đợt 3 (40 – 50 NSS) theo nguyên tắc "không ngày không số" dựa trên mức độ chuyển vàng của lá lúa và bảng so màu lá lúa.
  • Phương pháp điều tra 100 mẫu và hệ thống công thức tính toán hiệu quả tài chính của nông hộ.

Chương IV: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Chương IV tập trung phản ánh dữ liệu khảo sát và phân tích thực nghiệm tại 4 huyện nghiên cứu:

  • Đặc điểm tổ chức khuyến nông và sản xuất lúa: Trung tâm Khuyến nông Tây Ninh (thành lập 4/1994) phối hợp cùng Chi cục BVTV thiết lập hệ thống chuyển giao từ tỉnh đến 9 trạm huyện/thị và mạng lưới khuyến nông viên cơ sở. Vụ Đông Xuân 2006 – 2007, diện tích lúa Tây Ninh đạt 40.009 ha, lớn nhất vùng Miền Đông Nam Bộ.
  • Đặc điểm nhóm hộ điều tra: Trình độ học vấn của chủ hộ tập trung ở bậc Tiểu học và THCS; quy mô canh tác chủ yếu từ 0,5 đến 2 ha/hộ.
  • So sánh hiệu quả kỹ thuật và kinh tế giữa 2 nhóm hộ:
    • Lượng giống: Hộ 3G3T gieo sạ trung bình 100 – 120 kg/ha, giảm rõ rệt so với mức 200 – 220 kg/ha của hộ ngoài chương trình, giúp tiết kiệm 308.700 đồng tiền giống/ha.
    • Phân đạm: Hộ 3G3T bón 70 – 80 kg N/ha kết hợp bảng so màu lá, giảm chi phí phân bón 280.200 đồng/ha so với việc bón >100 kg N/ha ở hộ đối chứng.
    • Thuốc BVTV: Hộ 3G3T giảm được 2,1 lần phun thuốc/vụ, không phun thuốc trừ sâu trước 40 NSS, giảm chi phí thuốc BVTV được 237.000 đồng/ha. Mật số rầy nâu trên ruộng 3G3T duy trì dưới 1.000 con/m², trong khi ruộng đối chứng bón thừa đạm bị nhiễm trên 4.000 con/m².
    • Hiệu quả kinh tế tổng hợp: Tổng chi phí đầu tư bình quân giảm hơn 1.000.000 đồng/ha, lợi nhuận và thu nhập nông hộ tăng thêm khoảng 1.200.000 đồng/ha.
  • Khảo sát nhận thức và nhu cầu nông dân: 78% hộ có nhu cầu mở thêm lớp tập huấn chuyển giao kỹ thuật 3G3T; 68% cần tập huấn phòng trừ sâu bệnh; 54% đề nghị tổ chức điểm trình diễn. Có 76% nông hộ có nhu cầu vay vốn sản xuất (chủ yếu vay từ Ngân hàng Nông nghiệp chiếm 36,44%, Ngân hàng Công thương 12,75%, Quỹ tín dụng địa phương 15,33%).
  • Đề xuất giải pháp: Nhóm giải pháp tổ chức (cam kết bao tiêu, đào tạo cộng tác viên không kiêm nhiệm quá nhiều việc, chọn hộ nòng cốt IPM); nhóm giải pháp thông tin tuyên truyền (đưa vào chỉ tiêu thi đua cấp ấp/xã, hội thảo đầu bờ); nhóm giải pháp kỹ thuật (cày trục san phẳng mặt ruộng, hoàn thiện thủy lợi nội đồng, chuẩn hóa nguồn giống xác nhận).

Chương V: Kết luận và kiến nghị

Tóm tắt các kết quả đạt được về 4 mặt: kỹ thuật, kinh tế, môi trường và xã hội. Tác giả đưa ra các kiến nghị cụ thể đối với Chi cục BVTV (tăng cường dự tính dự báo, tổ chức điểm trình diễn), các viện trường (nghiên cứu chuyển giao tiến bộ mới), Sở Nông nghiệp và PTNT (xây dựng hệ thống nhân giống xác nhận và thương hiệu lúa gạo 3G3T), cùng các khuyến nghị đối với người nông dân.


Kết quả và đóng góp

Kết quả định lượng chính từ dữ liệu khảo sát

Chỉ tiêu kỹ thuật & kinh tế Ruộng áp dụng 3G3T Ruộng đối chứng (tập quán cũ) Mức chênh lệch / Hiệu quả đạt được
Lượng giống gieo sạ (kg/ha) 100 – 120 200 – 220 Giảm 80 – 120 kg/ha
Chi phí giống (đồng/ha) Thấp hơn Cao hơn Tiết kiệm 308.700 đồng/ha
Lượng đạm nguyên chất (kg N/ha) 70 – 80 > 100 Giảm phân đạm dư thừa
Chi phí phân bón (đồng/ha) Thấp hơn Cao hơn Tiết kiệm 280.200 đồng/ha
Số lần phun thuốc BVTV (lần/vụ) Giảm đáng kể Cao Giảm bình quân 2,1 lần/vụ
Chi phí thuốc BVTV (đồng/ha) Thấp hơn Cao hơn Tiết kiệm 237.000 đồng/ha
Mật số rầy nâu (con/m²) < 1.000 > 4.000 Giảm áp lực bộc phát dịch hại
Tổng chi phí sản xuất (đồng/ha) Thấp hơn Cao hơn Giảm > 1.000.000 đồng/ha
Thu nhập nông hộ (đồng/ha) Cao hơn Thấp hơn Tăng khoảng 1.200.000 đồng/ha

Đóng góp thực tiễn và giải pháp đề xuất

  • Hiệu quả môi trường và sức khỏe: Giảm thiểu số lần tiếp xúc với hóa chất độc hại của nông dân, hạn chế tồn dư thuốc bảo vệ thực vật trong đất và nguồn nước mặt, bảo tồn quần thể thiên địch tự nhiên trên đồng ruộng.
  • Hiệu quả xã hội: Tiết kiệm ngày công lao động, nâng cao năng lực quản lý đồng ruộng của nông dân, củng cố mối liên kết giữa nông dân với cán bộ khuyến nông và hệ thống bảo vệ thực vật địa phương.
  • Hệ thống giải pháp nhân rộng:
    • Thiết lập cơ chế bảo hiểm sản xuất hoặc tổ chức bảo trợ kỹ thuật để nông dân an tâm ứng dụng 100% diện tích thay vì chỉ làm thử nghiệm một phần ruộng.
    • Hoàn thiện mạng lưới cộng tác viên khuyến nông cấp ấp/xã, tránh bố trí cán bộ kiêm nhiệm quá nhiều công tác hành chính.
    • Lồng ghép tiêu chí thực hiện chương trình 3G3T vào phong trào thi đua cơ sở; mở rộng sự tham gia của lao động nữ trong các lớp tập huấn kỹ thuật.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của khóa luận:
    • Khảo sát giới hạn trong cỡ mẫu 100 hộ tập trung tại 4 huyện (Trảng Bàng, Gò Dầu, Bến Cầu, Châu Thành), chưa bao quát toàn bộ 9 huyện/thị của tỉnh Tây Ninh.
    • Phần lớn các hộ tham gia mô hình mới chỉ áp dụng 3G3T trên một phần diện tích canh tác của gia đình do tâm lý e ngại rủi ro và chưa có đơn vị đứng ra cam kết bảo hiểm thiệt hại.
    • Tỷ lệ nông dân sử dụng giống xác nhận còn thấp do giá giống cao, tập quán trao đổi giống tự để vẫn còn phổ biến.
    • Thành phần học viên tham gia tập huấn chủ yếu là nam giới, trong khi phụ nữ chiếm tỷ trọng lớn trong lao động chăm sóc và cấy dặm lúa tại địa phương.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Mở rộng điều tra đánh giá trên các vùng sinh thái đất phèn nặng ven sông Vàm Cỏ Đông và vùng đất xám bạc màu phía Bắc tỉnh.
    • Nghiên cứu mô hình liên kết chuỗi giá trị, bao tiêu sản phẩm và xây dựng thương hiệu lúa gạo an toàn đạt chuẩn 3G3T cho tỉnh Tây Ninh.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng tham khảo:
    • Sinh viên, học viên chuyên ngành Khuyến nông, Phát triển Nông thôn, Kinh tế Nông nghiệp và Khoa học Cây trồng.
    • Cán bộ kỹ thuật tại các Trung tâm Khuyến nông, Chi cục Bảo vệ Thực vật, Phòng Nông nghiệp và PTNT các huyện.
  • Nội dung giá trị:
    • Bộ công cụ bảng hỏi điều tra nông hộ (Phụ lục 2) với cấu trúc chi tiết về chi phí sản xuất, kỹ thuật bón phân, phòng trừ sâu bệnh và nhận thức môi trường.
    • Hướng dẫn kỹ thuật canh tác lúa theo 3G3T (Phụ lục 3), bao gồm bảng quy trình bón phân cho từng loại đất (đất phù sa ven sông, đất xám, đất phèn nhẹ, đất phèn nặng) và kỹ thuật bón đón đòng "không ngày không số".

Câu hỏi thường gặp

1. Chương trình "3 giảm 3 tăng" trong khóa luận bao gồm những nội dung kỹ thuật cụ thể nào?
Chương trình gồm: Giảm lượng giống gieo sạ (xuống 70 – 100 kg/ha với sạ hàng hoặc 100 – 120 kg/ha với sạ thưa); Giảm lượng phân bón (chủ yếu giảm đạm, bón cân đối NPK theo bảng so màu lá lúa); Giảm thuốc BVTV (không phun thuốc trừ sâu trong 40 ngày đầu sau sạ, áp dụng nguyên tắc 4 đúng). Kết quả mang lại là: Tăng năng suất, Tăng chất lượng lúa gạo (đạt chuẩn 4 không), và Tăng lợi nhuận cho người trồng lúa.

2. Khóa luận tiến hành khảo sát thực tế với dung lượng mẫu bao nhiêu và tại những địa bàn nào?
Tác giả tiến hành điều tra chọn mẫu trực tiếp trên 100 hộ nông dân sản xuất lúa (gồm 50 hộ tham gia 3G3T và 50 hộ đối chứng không tham gia) tại 4 huyện có diện tích trồng lúa lớn nhất tỉnh Tây Ninh: Trảng Bàng (30 hộ), Châu Thành (30 hộ), Gò Dầu (20 hộ) và Bến Cầu (20 hộ).

3. Áp dụng 3G3T giúp nông hộ tại Tây Ninh tiết kiệm các khoản chi phí sản xuất cụ thể như thế nào?
Số liệu điều tra cho thấy hộ áp dụng 3G3T tiết kiệm được 308.700 đồng tiền giống/ha, tiết kiệm 280.200 đồng tiền phân bón/ha, giảm 2,1 lần phun thuốc BVTV/vụ giúp tiết kiệm 237.000 đồng tiền thuốc/ha. Tổng chi phí sản xuất giảm trên 1.000.000 đồng/ha và thu nhập tăng thêm khoảng 1.200.000 đồng/ha.

4. Khảo sát nông hộ chỉ ra nhu cầu lớn nhất của người trồng lúa tại địa phương là gì?
Khảo sát cho thấy 78% nông dân có nhu cầu mở lớp tập huấn chuyển giao kỹ thuật 3G3T, 68% có nhu cầu tập huấn phòng trừ sâu bệnh, 54% đề nghị tổ chức điểm trình diễn. Về tín dụng, 76% nông hộ có nhu cầu vay vốn sản xuất, trong đó nguồn vay từ Ngân hàng Nông nghiệp chiếm tỷ lệ cao nhất (36,44%).


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Võ Thị Mỹ Chiêu đã hệ thống hóa cơ sở lý luận và đánh giá thực chứng hiệu quả của chương trình "3 giảm 3 tăng" đối với sản xuất lúa tại 4 huyện trọng điểm tỉnh Tây Ninh giai đoạn 2005 – 2006. Kết quả nghiên cứu chứng minh mô hình 3G3T giúp nông dân giảm đáng kể lượng giống, phân đạm và số lần phun thuốc BVTV, qua đó hạ giá thành sản xuất, tăng thu nhập bình quân khoảng 1,2 triệu đồng/ha và bảo vệ môi trường sinh thái đồng ruộng. Các đề xuất về tổ chức mạng lưới cộng tác viên khuyến nông, bảo hiểm rủi ro sản xuất và cung ứng giống xác nhận có giá trị thực tiễn cao cho việc nhân rộng mô hình canh tác lúa bền vững tại địa phương.