Mở đầu. Chương nay nêu lên sự cần thiết chọn đề tài, mục đích, các giả thiết của vấn đề và phạm vi nghiên cứu của dé tài. Chương 2: Tổng quan. Chương nầy mô tả những đặc trưng cơ bản về điều kiện tự nhiên, đặc điểm tình hình kinh tế xã hội trên địa bàn tỉnh Tây Ninh.
Chương 3: Nội dung và phương pháp nghiên cứu. Chương này trình bày một số khái niệm có liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu, các chỉ tiêu, công thức tính toán và phương pháp phân tích xử lý số liệu. Chương 4: Kết quả và thảo luận. Đánh giá các kết quả, hiệu quả của chương trình “3 giảm, 3 tăng” đã được thực hiện và thành qua đạt được đối với cây lúa trong giai đọan 2005 — 2006.
Tình hình tham gia sản xuất lúa của nông hộ và sau khi tham gia chương trình. Đánh giá những thuận lợi, khó khăn trong sản xuất khi áp dụng tiến bộ khoa học và các giải pháp nhân rộng chương trình “3 giảm, 3 tăng” đối với cây lúa. Chương 5: Kết luận và đề nghị. Tóm tắt lại những kết quả nghiên cứu chương trình “3 giảm, 3 tăng” đối với cây lúa ở Tây Ninh.
Từ đó làm cơ sở cho việc đề xuất nhân rộng chương trình trong thời gian tới. CHƯƠNG 2 TONG QUAN 2. Tổng quan tài liệu nghiên cứu. Trước xu thế phát triển của thời đại và thời điểm hội nhập quốc tế, đòi hỏi nền kinh tế Việt Nam phải thật vững chắc mới có thé sánh vai với các nước trong khối ASEAN nói riêng và cá thế giới nói chung.
Chính vì vậy, không riêng ngành công nghiệp mà ngành nông nghiệp cũng phải phan đấu không ngừng nâng cao về chất lượng, mẫu mã và lợi nhuận. Đây là vấn đề Chính phủ Việt Nam đang đắn đo, cân nhắc sao cho việc hội nhập được thuận lợi và phát triển bền vững. Tại Hội nghị tổng kết sản xuất nông nghiệp năm 2004 các tỉnh phía Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 14/10/2004 Bộ Nông nghiệp & Phát triển nông thôn đã chính thức phát động day mạnh chương trình 3 giảm 3 tăng trên cây lúa và các cây trồng khác trong phạm vi phù hợp với tập quán canh tác, điều kiện sinh thái của từng vùng. Như chúng ta đã biết, Việt Nam là một nước sản xuất chính là nông nghiệp, trong đó diện tích canh tác cây lúa chiếm diện tích lớn nhất trong các cây trồng khác.
Về biện pháp canh tác, phần lớn nông dân vẫn còn thói quen canh tác theo tập quán cũ như: sạ dày, sử dụng nhiều phân hóa học (nhất là nhiều phân đạm), phun nhiều thuốc bảo vệ thực vật (nhất là thuốc trừ sâu) gây nhiều tốn kém làm tăng giá thành sản phẩm, đồng thời tác động xấu đến sức khỏe cộng đồng và môi trường. Theo công văn số 995/BNN-PTNT ngày 18/2/2005 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về việc triển khai chương trình 3 giảm 3 tăng trên cây lúa, theo chỉ đạo của Cục Bảo vệ Thực vật, Sở Nông nghiệp & Phát triển nông thôn tính Tây Ninh và đáp ứng yêu cầu sản xuất thực tế, trong vụ Hè thu, vụ Mùa năm 2005, Chi cục Bao vệ Thực vật tô chức triển khai rộng mô hình “3 giảm 3 tăng” trên cây lúa ở khắp các huyện trong tỉnh Tây Ninh. Mô hình 3 giảm 3 tăng là một giải pháp phù hợp trong thâm canh cây lúa và đã đạt hiệu quả tốt ở Đồng bằng sông Cửu Long trong vài năm qua. Mục tiêu chung nhất là giúp tăng năng suất, chất lượng gạo, làm giảm giá thành trên một đơn vị điện tích, đồng thời phần nào giúp nông dan đối phó với biến động của giá cA vật tư, bảo vệ tính ổn định và bền vững của môi trường sinh thái.
- Biện pháp chuyến giao chủ yếu là tổ chức, hướng dan và khuyến khích nông dân tham gia trực tiếp thực hiện dé kiêm chứng những biện pháp mới, vừa học vừa thực hành, tự rút ra kinh nghiệm và xử lý trên đồng ruộng của chính mình. Các biện pháp mới sẽ mang lại lợi ích kinh tế thiết thực cho nông dân khi áp dụng và phô biến rộng cho các nông dân khác. - Nội dung chính của biện pháp này là làm thay đổi nhận thức va tập quán canh tác kém hiệu quả như: sạ dày, bón thừa phân đạm, phun thuốc bảo vệ thực vật chưa hợp lý, chuyển sang sa hàng hay sa thưa với chất lượng lúa giống tốt, bón phân theo nhu cầu của cây lúa, cân đối NPK. Riêng phân đạm bón dựa theo bảng so màu lá lúa, sử dụng thuốc nông được theo nguyên tắc 4 đúng và khuyến cáo nông dân không phun thuốc sâu trong giai đoạn 40 ngày sau sạ nhưng cuối vụ vẫn đạt được năng suất, hiệu quả kinh tế cao, mang lại lợi ích cho người sản xuất và cả cộng đồng.
Điều kiện tự nhiên 2. Vị trí địa lý. Tây Ninh là tỉnh nằm sát biên giới Tây Nam — Campuchia, thuộc Miền Đông Nam Bộ. Phía Bắc và phía Tây của Tây Ninh giáp Vương quốc Campuchia, phía Đông giáp 2 tỉnh Bình Phước, Bình Dương, phía Nam giáp TP.
Hồ Chí Minh và tỉnh Long An. Với vị trí trên, Tây Ninh đóng vai trò là cầu nối giữa TP. Hồ Chí Minh — Phôm Pênh, đây là 2 trung tâm kinh tế lớn của 2 nước Việt Nam — Campuchia. Khí hậu và thời tiết Tây Ninh có khí hậu nhiệt đới 4m — gió mùa, do nằm ở vùng vĩ độ thấp của nội chí tuyến Bắc bán cầu nên thể hiện rõ tính chất cận xích đạo.
Tây Ninh có 2 mùa rõ rệt đó là mùa mưa và mùa khô. Mùa khô được bắt đầu từ tháng 12 năm trước đến tháng 4 năm sau, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng I1. 5 Một trong những tính chất căn bản của khí hậu Tây Ninh là nền nhiệt độ cao. Nhiệt độ trung bình cả năm của Tây Ninh khá cao (khoảng 27°C), biên độ giao động nhiệt thấp (3,9°C), nhiệt độ tối cao trung bình cả năm đạt 32,3°C, nhiệt độ tối thấp trung bình cả năm đạt 23,3°C.
Đặc biệt trong năm không có tháng nào nhiệt độ trung bình đưới 20°C. Thời gian chiếu sáng trong ngày khá đài, lượng bức xạ đồi đào với hơn 130 kcal/cm”/ năm. Gió mùa làm nảy sinh chế độ mưa mùa, lượng mưa và độ âm có mối quan hệ chặt chẽ giữa các mùa trong năm. Nhìn chung độ ẩm tương đối cả năm khá cao, khoảng 78,4%.
Độ ẩm giữa các tháng không đều, thấp nhất thường là các tháng 12 đến tháng 4 (muta khô). Lượng mưa trung bình cả năm của Tây Ninh khá cao, khoảng1. Số ngày mưa bình quân cả năm khoảng 116 ngày. Lượng mưa phân bố không đều giữa các mùa trong năm: mùa mưa chiếm từ 85,6 — 90% lượng mưa cả năm, mùa khô lượng mưa rất ít, thấp nhất là các tháng 1, 2.
Tây Ninh chịu ảnh hưởng của 2 lọai gió chủ yếu là gió mùa mùa khô (gió Bắc — Đông Bắc) và gió mùa mùa mưa (gió Tây — Tây Nam), tốc độ gió trung bình khoảng 1,7m/s. Tài nguyên nước. Tài nguyên nước của Tây Ninh khá đổi đào, nguồn nước mặt chủ yếu dựa vào hệ thống kênh rạch trên địa bàn toàn tỉnh với tông chiều dài khoảng 617km, trung bình 0,11km/km” và chủ yếu dựa vào 2 sông chính đó là sông Sài Gòn và Sông Vàm Cỏ Đông. Sông Sài Gòn bắt nguồn từ Sroc Buten (huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước), đoạn thượng lưu và trung lưu chảy theo hướng Đông Bắc — Tây Nam (đây là ranh giới tự nhiên giữa Tây Ninh với tỉnh Bình Phước và tỉnh Bình Dương), đoạn hạ lưu chảy theo hướng Tây Bắc — Đông Nam, đến Tân Thuận (TP.
HCM) hợp với sông Đồng Nai chảy ra biển, chiều đài của sông qua tỉnh là 135km. Sông Vàm Cỏ Đông bắt nguồn từ thôn Suông tỉnh Kong Pong Chàm (Campuchia) chảy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam đến Quảng Xuyên (Long An) hợp với sông Vàm Có Tây đồ ra biển. Độ dài của sông qua tính là 15km, đi qua các huyện Tân Biên, Châu Thành, Hòa Thành, Bến Cầu, Gò Dầu, Trang Bàng. = mas = ae = — = Tây Ninh có khoảng1.184ha diện tích ao hồ, chủ yếu là ao hồ nhỏ tha cá trong gia đình, được phân bố rải rác trong tỉnh.
Bên cạnh đó, Tây Ninh còn có điện tích đầm lầy khá lớn (3.599ha) nằm ở vùng triing ven sông Vàm Cỏ Đông. Ngoài ra Tây Ninh còn có hồ Dầu Tiếng, có diện tích 27.000 ha (3/4 diện tích hồ thuộc Tây Ninh) và dung tích 1,5 tỉ mỶ. Với 2 hệ thống kênh chính là hệ thống kênh Đông (dai 44km) và hệ thống kênh Tây (dài 39km), hồ Dầu Tiếng có khả năng cung cấp nước tưới tiêu cho 172.000 ha đất nông nghiệp ở Tây Ninh, một phần TP Hồ Chí Minh, Bình Dương và tỉnh Long An. Tây Ninh còn có nguồn nước ngầm khá phong phú, phân bố rộng khắp trên địa bàn, có thé khai thác tổng lưu lượng 50 — 100 nghìn mỶ/h.
Độ sâu của mạch nước ngầm trung bình từ 4 — 11m (độ sâu của mạch nước nhỏ dần từ phía Bắc xuống phía Nam tỉnh). Đây là nguồn nước rất quan trọng đối với sinh họat và sản xuất, nhất là vào mùa khô. Địa hình và đất đai. Tây Ninh nằm trong vùng chuyên tiếp giữa các cao nguyên Nam Trung Bộ với đồng bằng sông Cửu Long nên vừa mang đặc điểm của một cao nguyên, vừa có dang dap của vùng đồng bằng.
Tuy là vùng chuyển tiếp nhưng địa hình ít phức tạp, tương đối bằng phẳng và độ đốc không lớn. Địa hình nhìn chung thấp dan từ Đông Bắc xuống Tây Nam. Ở phía Bắc của tỉnh ké từ Thị Xã trở lên có nhiều đổi núi với độ cao phổ biến từ 20 — 50m, núi Bà Đen cao 986m. Phần trung tâm của tỉnh có độ cao 10 — 20m từ đó giảm dan về phía Nam (khu vực huyện Bến Cầu) còn 1- 2m.
Day là khu vực thấp nhất nên có nhiều chỗ bị ngập úng trong mùa mưa. Địa hình Tay Ninh có thé chia thành 4 dang chính như sau: Địa hình núi. Chủ yếu thuộc khu vực khối núi Bà Den với diện tích khoảng 15km”. Dinh cao nhất đạt 986m.
- Địa hình đồi. Dạng địa hình này phân bế khá phổ biến ở Tây Ninh, tập trung ở thượng nguồn sông Sài Gòn, doc theo ranh giới hai tỉnh Tây Ninh — Bình Phước. Địa hình đồi dốc thoải. Độ cao thay déi từ 15 — 20m, có nơi cao 30m so với mặt nước biển.
Dạng địa hình này có một ít ở phía Nam huyện Tân Biên và xuất hiện nhiều ở các huyện : Dương Minh Châu, Hòa Thành, Trang Bàng, Gò Dầu và một ít ở Bến Cầu. - Địa hình đồng bang.