Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Cây xoài (Mangifera indica L.) là một trong những cây ăn quả nhiệt đới có giá trị kinh tế cao, đóng vai trò quan trọng trong cơ cấu sản xuất nông nghiệp tại Việt Nam cũng như trên thế giới (Paull và Daurate, 2011). Nhiều vùng chuyên canh xoài nổi tiếng đã được hình thành như xoài cát Hòa Lộc hay xoài tượng Tiền Giang, phục vụ nhu cầu tiêu thụ nội địa và xuất khẩu thu ngoại tệ. Tuy nhiên, sự mở rộng diện tích canh tác cũng đi kèm với áp lực dịch bệnh gia tăng. Trong đó, bệnh thán thư do nấm thuộc chi Colletotrichum gây ra là đối tượng dịch hại nguy hiểm và phổ biến nhất. Theo các nghiên cứu quốc tế, tỷ lệ bệnh thán thư hại xoài có thể lên tới 32% tại Nam Phi, 64,6% đến 100% tại Costa Rica trong điều kiện mưa ẩm (Arauz et al., 1994), và làm giảm 30% đến 60% sản lượng xoài thương phẩm đến tay người tiêu dùng (Arauz, 2000). Tại Việt Nam, dịch bệnh gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến năng suất; điển hình như tại tỉnh Hậu Giang năm 2021, sản lượng xoài giảm 1,46% (tương đương 123,56 tấn) so với cùng kỳ do bệnh thán thư và các bệnh hại khác. Nấm bệnh tấn công ở cả giai đoạn trước thu hoạch (gây đen hoa, rụng hoa, rụng và biến dạng quả non) lẫn giai đoạn sau thu hoạch (gây thối đen quả trong quá trình lưu kho và vận chuyển).
Thực tế canh tác hiện nay vẫn phụ thuộc nhiều vào thuốc bảo vệ thực vật hóa học, dẫn đến tình trạng ô nhiễm môi trường đất và nước, suy giảm hệ vi sinh vật có ích, gia tăng tính kháng thuốc của nấm bệnh và để lại dư lượng độc hại trên nông sản. Do đó, việc nghiên cứu ứng dụng các chế phẩm sinh học chứa vi sinh vật đối kháng có khả năng kiểm soát nấm bệnh, an toàn cho hệ sinh thái và kích thích sinh trưởng cây trồng là yêu cầu cấp thiết của nền nông nghiệp sạch. Xuất phát từ thực tiễn trên, đề tài "Nghiên cứu đánh giá hiệu lực phòng trừ bệnh thán thư trên cây xoài của chế phẩm sinh học" được thực hiện.
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài được xác định cụ thể gồm 3 nhiệm vụ:
- Đánh giá hiệu lực phòng trừ nấm gây bệnh thán thư của chế phẩm sinh học ATX1 trong điều kiện phòng thí nghiệm.
- Đánh giá mật độ vi sinh vật đối kháng tồn tại trong chế phẩm sinh học ATX1 phòng trừ bệnh thán thư trên xoài qua các thời gian bảo quản.
- Đánh giá hiệu lực đối kháng nấm gây bệnh thán thư trên cây xoài của chế phẩm sinh học ATX1 trong điều kiện nhà lưới.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Chế phẩm sinh học ATX1 dạng lỏng chứa tổ hợp các chủng vi sinh vật đối kháng; chủng nấm gây bệnh thán thư Colletotrichum acutatum TT.2; cây giống xoài 5-7 tháng tuổi.
- Phạm vi không gian: Nghiên cứu thực nghiệm được thực hiện tại phòng thí nghiệm và nhà lưới thuộc Bộ môn Công nghệ Vi sinh – Viện Di truyền Nông nghiệp.
- Phạm vi thời gian: Đề tài được triển khai từ tháng 1/2022 đến tháng 6/2022.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận về tác nhân gây bệnh thán thư và cơ chế đối kháng sinh học của các nhóm vi sinh vật có ích:
- Tác nhân gây bệnh: Nấm Colletotrichum acutatum và Colletotrichum gloeosporioides thuộc ngành nấm túi (Ascomycota). Nấm C. acutatum có sợi nấm màu trắng xám trên môi trường PDA, hình thành đĩa cành kích thước 120-270 µm mang lông gai cứng dài 53-191 x 5-7 µm, bào tử phân sinh đơn bào hình trụ trong suốt kích thước 9-19 x 3-5,5 µm hoặc khối bào tử màu hồng nhạt 18-25 x 2,5-3,5 µm, giác bám hình ô van hoặc hình chùy kích thước 6-17 x 5-9 µm. Nấm xâm nhiễm qua vết thương cơ giới hoặc qua mô biểu bì non trong điều kiện ẩm độ cao.
- Cơ chế đối kháng của vi sinh vật: Nấm Chaetomium có khả năng sinh tổng hợp các kháng sinh tự nhiên như Chaetoglobosin C, Chaetoviridins A, B và Rotiorinols; tiết hệ enzyme ngoại bào phong phú (cellulase, chitinase, β-1,3-glucanase) phá hủy vách tế bào nấm bệnh; sinh cơ chất ergosterol cải tạo đất và kích thích tính kháng tập nhiễm (IR) của cây thông qua việc sản sinh các dạng oxy hoạt hóa (ROS) và phytoalexin. Chi nấm Trichoderma có cơ chế chiếm chỗ, cạnh tranh dinh dưỡng và ký sinh trực tiếp sợi nấm. Vi khuẩn Bacillus subtilis có khả năng tổng hợp hơn 30 enzyme ngoại bào và các chất ức chế vi sinh vật gây hại.
- Thành phần chế phẩm ATX1: Chế phẩm sinh học dạng lỏng màu xanh đậm, mùi hắc nhẹ, đóng chai 500 ml. Thành phần gồm 4 chủng vi sinh vật đối kháng tuyển chọn: Trichoderma asperellum (Tr.X2), Chaetomium globosum (COL.X1), Chaetomium aureus (CĐ.V2) và Bacillus subtilis (Ba.X1). Chất mang phối trộn gồm rỉ đường, dầu thực vật, nước, khoáng chất và chất bám dính.
Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm bao gồm:
- Phương pháp xác định mật độ vi sinh vật: Thực hiện theo Tiêu chuẩn Quốc gia TCVN 8741:2011. Mẫu chế phẩm pha loãng theo bậc 10 từ $10^{-2}$ đến $10^{-8}$, cấy gạt 30 µl dịch huyền phù nồng độ $10^{-8}$ lên môi trường PDA (cho nấm) và King'B (cho vi khuẩn), ủ 2-4 ngày và đếm khuẩn lạc. Mật độ (CFU/ml) tính theo công thức:
$$N = \frac{C}{d \times (n_1 + 0,1 \times n_2)}$$
(Trong đó: C là tổng số khuẩn lạc đếm được; $n_1, n_2$ là số đĩa ở độ pha loãng thứ nhất và thứ hai; d là hệ số pha loãng).
- Phương pháp đánh giá đối kháng in vitro: Sử dụng 2 phương pháp gồm phương pháp đồng nuôi cấy (theo Soytong, 2005) và phương pháp đổ thạch 2 lớp (theo TCVN 8566:2010) trên đĩa petri thạch PDA đường kính 9 cm. Khảo sát 4 công thức nồng độ ATX1: CT1 (đối chứng, 0 µl), CT2 (25 µl/20 ml môi trường), CT3 (50 µl/20 ml môi trường), CT4 (75 µl/20 ml môi trường), lặp lại 3 lần. Hiệu lực ức chế (HLUC %) được tính theo công thức Abbott:
$$HLUC (%) = \frac{R_1 - R_2}{R_1} \times 100$$
(Trong đó: $R_1$ là đường kính tản nấm đối chứng, $R_2$ là đường kính tản nấm công thức thí nghiệm).
- Phương pháp đánh giá trong nhà lưới (in vivo): Thí nghiệm khối ngẫu nhiên hoàn toàn trên cây xoài 5-7 tháng tuổi trong chậu chứa 3 kg đất vô trùng. Lây nhiễm nhân tạo bằng cách tạo vết thương cơ giới và phun dịch bào tử nấm C. acutatum TT.2 mật độ $10^6$ CFU/ml. Sau 7 ngày lây nhiễm, tiến hành tưới chế phẩm định kỳ 14 ngày/lần liên tục trong 6 tháng. Bố trí 6 công thức: CT1 (đối chứng âm, không bệnh, chỉ tưới nước), CT2 (đối chứng dương, lây bệnh, chỉ tưới nước), CT3 đến CT6 (lây bệnh kết hợp tưới ATX1 ở các liều lượng 10, 20, 30, 40 ml chế phẩm/20 lít nước), lặp lại 3 lần (5 chậu/lần). Đánh giá tỷ lệ bệnh, phân cấp bệnh (cấp 1, 3, 5, 7, 9), tính chỉ số bệnh (CSB %) và hiệu lực phòng trừ (HQ %) theo công thức Abbott:
$$HQ (%) = \left(1 - \frac{T_a}{C_a}\right) \times 100$$
(Trong đó: $T_a$ là CSB công thức thí nghiệm, $C_a$ là CSB công thức đối chứng dương).
- Phương pháp theo dõi sinh trưởng: Đo chiều cao cây và đường kính gốc tại các thời điểm 1, 3 và 6 tháng sau xử lý.
- Phương pháp xử lý số liệu: Số liệu thực nghiệm được xử lý thống kê bằng phần mềm Microsoft Office Excel và IRRISTAT 5.0.
Nội dung chính theo từng chương
Tổng quan nghiên cứu
Chương này hệ thống hóa các tài liệu khoa học liên quan đến bệnh thán thư hại xoài và hiện trạng phát triển chế phẩm sinh học:
- Tác nhân và triệu chứng: Nấm Colletotrichum spp. phát sinh mạnh trong điều kiện độ ẩm cao gần 100%. Vết bệnh ban đầu là các đốm đen nhỏ, lan rộng thành vết hoại tử màu nâu kích thước 20-25 mm có quầng vàng nhạt bao quanh, làm biến dạng phiến lá và thối đen hoa, quả.
- Tình hình nghiên cứu chế phẩm sinh học trên thế giới: Phân tích sự chuyển dịch từ chế phẩm dạng thô xốp (than bùn, cám, mùn cưa độ ẩm 8-10%) sang chế phẩm dạng hạt tinh chế có bổ sung chất bảo vệ chống tia tử ngoại, áp suất thẩm thấu; các cải tiến thiết bị lên men cấp khí tự động (0,75 lít không khí/lít môi trường/phút). Điểm qua các công trình nghiên cứu sử dụng chitosan kết hợp tinh dầu bạc hà Mentha piperita (de Oliveira et al., 2017) và tinh dầu sả chanh Cymbopogon citratus (Lima Oliveira et al., 2018) nhằm ức chế nấm Colletotrichum.
- Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam: Điểm lại các nghiên cứu nấm đối kháng Trichoderma phòng trừ bệnh lở cổ rễ (Sclerotium rolfsii), khô vằn lúa (Rhizoctonia solani); xạ khuẩn Streptomyces kháng khuẩn héo xanh (Ralstonia solanacearum); công nghệ nanochitosan trừ C. acutatum trên cà chua (Lê Thanh Long et al., 2015) và oligochitosan - nano silica trên ớt (Nguyễn Đình Dũng et al., 2017). Đặc biệt, nhấn mạnh các công trình của Viện Di truyền Nông nghiệp từ năm 1999 đến nay về việc định danh và khai thác nấm đối kháng Chaetomium globosum, Chaetomium cupreum (chế phẩm ChaeVDT) có hoạt tính cao chống nấm bệnh hại cây trồng.
Vật liệu, nội dung và phương pháp nghiên cứu
Chương này mô tả chi tiết quy trình bố trí thí nghiệm, nguyên vật liệu và điều kiện kỹ thuật:
- Chuẩn bị giống và chế phẩm: Nấm bệnh C. acutatum TT.2 và chế phẩm ATX1 do Bộ môn Công nghệ Vi sinh cung cấp. Cây giống xoài 5-7 tháng tuổi khỏe mạnh. Môi trường nuôi cấy gồm PDA, King'B và LB.
- Thông số kỹ thuật nhân sinh khối 4 chủng vi sinh vật: Trichoderma asperellum lên men trên môi trường thóc luộc ở 28-30°C trong 5-7 ngày; Chaetomium globosum và Chaetomium aureus nuôi cấy trên môi trường PDA ở 28-30°C trong 10 ngày; Bacillus subtilis nuôi trên môi trường King'B ở 28-32°C trong 3 ngày. Tất cả duy trì pH 7,0, tỷ lệ giống cấp I là 10% và lưu lượng cấp khí 0,75 lít KK/lít MT/phút.
- Chi tiết phương pháp thử nghiệm: Trình bày quy trình pha loãng mẫu kiểm tra mật độ bào tử qua các mốc thời gian (0 giờ, 1 tháng, 3 tháng, 6 tháng); phương pháp thử nghiệm đối kháng in vitro bằng đồng nuôi cấy và đổ thạch hai lớp; phương pháp lây bệnh nhân tạo và phun chế phẩm định kỳ trong nhà lưới.
Kết quả nghiên cứu
Trình bày và phân tích các số liệu thực nghiệm thu được:
- Mật độ vi sinh vật trong ATX1 qua thời gian bảo quản: Chế phẩm dạng lỏng giữ được độ đồng nhất cao, không lắng cặn hay phân tầng. Mật độ ban đầu của 4 chủng dao động từ $5,9 \times 10^8$ đến $6,5 \times 10^8$ CFU/ml. Sau 6 tháng bảo quản ở nhiệt độ phòng, mật độ bào tử vẫn duy trì ở mức cao, đạt $3,5 \times 10^8$ đến $4,6 \times 10^8$ CFU/ml.
- Khả năng ức chế nấm in vitro: Tản nấm C. acutatum ở công thức đối chứng đạt đường kính 8,02-8,15 cm sau 7-10 ngày. Ở các công thức bổ sung ATX1, đường kính tản nấm bị thu hẹp đáng kể. Sau 6 tháng bảo quản, công thức CT3 (50 µl/20 ml) cho hiệu lực ức chế đạt 78,05% và CT4 (75 µl/20 ml) đạt 79,18%. Sự sai khác giữa CT3 và CT4 không có ý nghĩa thống kê lớn, cho thấy nồng độ 50 µl/20 ml môi trường mang lại hiệu quả kinh tế tối ưu.
- Hiệu lực phòng trừ trong nhà lưới: Sau 1 tháng lây nhiễm, cây xoài xuất hiện triệu chứng thán thư cấp 5 (15-25% diện tích lá bị đốm hoại tử). Việc xử lý chế phẩm giúp giảm tỷ lệ bệnh rõ rệt qua 1, 3 và 6 tháng. Sau 6 tháng, tỷ lệ cây nhiễm bệnh ở CT5 (30 ml/20 lít nước) và CT6 (40 ml/20 lít nước) chỉ còn 15,99% và 15,95% (so với 61,31% ở công thức đối chứng bệnh CT1). Hiệu lực phòng trừ thán thư của CT5 đạt 73,94% và CT6 đạt 73,98%.
- Tác động kích thích sinh trưởng: Sau 6 tháng theo dõi, cây xoài ở công thức CT5 đạt chiều cao 76,58 cm và đường kính thân 1,35 cm; công thức CT6 đạt 77,34 cm và 1,39 cm. Các chỉ số này vượt trội so với đối chứng dương lây bệnh (61,65 cm; 0,74 cm) và đối chứng âm không bệnh (68,27 cm; 0,86 cm).
Kết luận và kiến nghị
Tổng kết 3 kết quả chính của đề tài về mật độ bào tử, hiệu lực in vitro, hiệu lực nhà lưới và đề xuất liều lượng ứng dụng tối ưu. Đưa ra 2 kiến nghị đối với Bộ môn Công nghệ Vi sinh nhằm tiếp tục nghiên cứu chuyên sâu công nghệ sinh học trong bảo vệ thực vật và mở rộng đưa chế phẩm ATX1 vào sản xuất thực tế.
Kết quả và đóng góp nghiên cứu
Đề tài đã cung cấp hệ thống số liệu thực nghiệm đầy đủ về khả năng tồn lưu vi sinh vật, hiệu lực ức chế nấm gây bệnh và khả năng kích thích sinh trưởng của chế phẩm ATX1:
| Chỉ tiêu theo dõi |
Thời điểm ban đầu / 1 tháng |
Sau 3 tháng |
Sau 6 tháng |
| Mật độ Trichoderma asperellum Tr.X2 (CFU/ml) |
$6,3 \times 10^8$ (0 giờ) |
$5,1 \times 10^8$ |
$4,0 \times 10^8$ |
| Mật độ Chaetomium globosum COL.X1 (CFU/ml) |
$5,9 \times 10^8$ (0 giờ) |
$4,8 \times 10^8$ |
$3,5 \times 10^8$ |
| Mật độ Chaetomium aureus CĐ.V2 (CFU/ml) |
$6,1 \times 10^8$ (0 giờ) |
$5,0 \times 10^8$ |
$3,8 \times 10^8$ |
| Mật độ Bacillus subtilis Ba.X1 (CFU/ml) |
$6,5 \times 10^8$ (0 giờ) |
$5,6 \times 10^8$ |
$4,6 \times 10^8$ |
| Hiệu lực in vitro nồng độ 25 µl/20ml (%) |
72,52 |
72,74 |
71,82 |
| Hiệu lực in vitro nồng độ 50 µl/20ml (%) |
78,53 |
78,56 |
78,05 |
| Hiệu lực in vitro nồng độ 75 µl/20ml (%) |
79,39 |
79,55 |
79,18 |
| Tỷ lệ bệnh cây xoài công thức ĐC(+) (%) |
41,26 |
52,53 |
61,31 |
| Tỷ lệ bệnh CT tưới ATX1 30 ml/20 lít (%) |
14,57 |
14,15 |
15,99 |
| Hiệu lực phòng trừ CT tưới ATX1 30 ml/20 lít (%) |
64,68 |
73,07 |
73,94 |
| Chiều cao cây CT tưới ATX1 30 ml/20 lít (cm) |
46,25 |
62,73 |
76,58 |
| Đường kính thân CT tưới ATX1 30 ml/20 lít (cm) |
0,87 |
1,12 |
1,35 |
Về giải pháp kỹ thuật, tác giả khuyến nghị:
- Trong phòng thí nghiệm: Sử dụng nồng độ 50 µl chế phẩm/20 ml môi trường PDA để đạt hiệu lực đối kháng tối ưu (trên 78%).
- Trong vườn ươm nhà lưới: Hòa loãng chế phẩm với liều lượng 30 ml chế phẩm/20 lít nước, phun đẫm vùng tán lá và gốc định kỳ 14 ngày/lần. Liều lượng này kiểm soát bệnh thán thư đạt 73,94%, tương đương với liều 40 ml/20 lít (73,98%) nhưng tiết kiệm chi phí vật tư nông nghiệp.
Về đóng góp khoa học, kết quả của đề tài có sự tương đồng và bổ sung cho các công trình trước đây. Nghiên cứu của Trần Ngọc Hùng và Nguyễn Thị Liên Hương (2016) trên nấm đối kháng Trichoderma phòng trừ nấm Colletotrichum hại ớt ghi nhận mật độ $4,2 \times 10^8$ CFU/ml và hiệu lực ức chế 79,6-89,8%. Khóa luận này chứng minh chế phẩm đa chủng ATX1 (kết hợp 4 chủng gồm cả nấm và vi khuẩn) có khả năng duy trì mật độ ổn định trên $10^8$ CFU/ml sau 6 tháng bảo quản lỏng và đạt hiệu lực đối kháng in vitro 78,05% cùng hiệu lực phòng bệnh nhà lưới 73,94%, đồng thời làm tăng trưởng rõ rệt chiều cao và đường kính thân cây xoài giai đoạn vườn ươm.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận chỉ ra một số hạn chế gắn liền với phạm vi triển khai:
- Thử nghiệm chỉ mới dừng lại ở quy mô phòng thí nghiệm và nhà lưới trên cây giống xoài giai đoạn vườn ươm (5-7 tháng tuổi), chưa được khảo nghiệm thực tế trên cây xoài trưởng thành ngoài đồng ruộng trong các giai đoạn mẫn cảm như ra hoa, đậu quả và giai đoạn sau thu hoạch.
- Thời gian theo dõi thực nghiệm gói gọn trong 6 tháng (từ tháng 1 đến tháng 6 năm 2022), chưa đánh giá được độ ổn định mật độ vi sinh vật của chế phẩm khi bảo quản dài hạn trên 9-12 tháng, cũng như chưa khảo sát sự biến động hiệu lực dưới các điều kiện thời tiết thực địa bất lợi.
Hướng nghiên cứu tiếp theo được đề xuất:
- Kiến nghị Bộ môn Công nghệ Vi sinh – Viện Di truyền Nông nghiệp tiếp tục nghiên cứu chuyên sâu về công nghệ sinh học trong bảo vệ thực vật, mở rộng thử nghiệm chế phẩm ATX1 trên đồng ruộng diện rộng.
- Nghiên cứu phát triển các dòng chế phẩm sinh học đa chủng mới nhằm phòng trừ các đối tượng dịch hại khác và trên nhiều loại cây trồng khác nhau, hướng tới xây dựng nền nông nghiệp hữu cơ bền vững.
Giá trị tham khảo
Tài liệu khóa luận có giá trị tham khảo thiết thực đối với:
- Sinh viên, học viên cao học và cán bộ nghiên cứu chuyên ngành Công nghệ Sinh học, Bảo vệ Thực vật, Vi sinh vật học Nông nghiệp và Trồng trọt.
- Những người thực hiện các đề tài về phân lập, tuyển chọn và đánh giá hiệu lực của vi sinh vật đối kháng (Chaetomium, Trichoderma, Bacillus) kiểm soát nấm bệnh thực vật.
Các nội dung đáng tham khảo chuyên sâu gồm:
- Thông số kỹ thuật nhân sinh khối các chủng vi sinh vật (thành phần môi trường lên men thóc luộc, PDA, King'B, nhiệt độ, pH, lưu lượng sục khí).
- Quy trình kiểm tra mật độ vi sinh vật bảo quản theo Tiêu chuẩn Quốc gia TCVN 8741:2011.
- Kỹ thuật đánh giá đối kháng in vitro bằng phương pháp đồng nuôi cấy (Soytong, 2005) và phương pháp đổ thạch 2 lớp (TCVN 8566:2010).
- Phương pháp lây bệnh nhân tạo nấm Colletotrichum acutatum trên cây xoài và phương pháp đánh giá chỉ số bệnh theo 5 cấp bệnh hại.
Câu hỏi thường gặp
1. Chế phẩm sinh học ATX1 có thành phần sinh học và chất mang gồm những gì?
Chế phẩm ATX1 chứa 4 chủng vi sinh vật đối kháng tuyển chọn gồm: nấm Trichoderma asperellum (ký hiệu Tr.X2), nấm Chaetomium globosum (COL.X1), nấm Chaetomium aureus (CĐ.V2) và vi khuẩn Bacillus subtilis (Ba.X1). Chất mang phối trộn bao gồm rỉ đường, dầu thực vật, nước, chất khoáng và chất bám dính.
2. Mật độ vi sinh vật trong chế phẩm ATX1 biến động như thế nào sau 6 tháng bảo quản?
Mật độ ban đầu (0 giờ) của các chủng dao động từ $5,9 \times 10^8$ đến $6,5 \times 10^8$ CFU/ml. Sau 6 tháng bảo quản ở nhiệt độ phòng, mật độ giảm nhẹ do các bào tử non bị thoái hóa nhưng vẫn duy trì ở mức cao: T. asperellum đạt $4,0 \times 10^8$ CFU/ml, C. globosum đạt $3,5 \times 10^8$ CFU/ml, C. aureus đạt $3,8 \times 10^8$ CFU/ml và B. subtilis đạt $4,6 \times 10^8$ CFU/ml (toàn bộ đều đạt ngưỡng $3,5 - 6,5 \times 10^8$ CFU/ml).
3. Hiệu lực ức chế nấm Colletotrichum acutatum in vitro của chế phẩm ATX1 đạt bao nhiêu và nồng độ nào được chọn là tối ưu?
Sau 6 tháng bảo quản, hiệu lực ức chế nấm bệnh của chế phẩm đạt 71,82% (ở nồng độ 25 µl/20 ml), 78,05% (ở nồng độ 50 µl/20 ml) và 79,18% (ở nồng độ 75 µl/20 ml). Tác giả lựa chọn nồng độ 50 µl/20 ml môi trường là tối ưu vì cho hiệu lực ức chế cao trên 78% và không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê so với mức liều cao 75 µl/20 ml.
4. Trong điều kiện nhà lưới, liều lượng phun ATX1 nào cho hiệu quả kinh tế và phòng trừ bệnh cao nhất?
Liều lượng phun thích hợp nhất là 30 ml chế phẩm/20 lít nước. Sau 6 tháng bổ sung định kỳ 14 ngày/lần, công thức này giúp hạ tỷ lệ cây nhiễm bệnh xuống còn 15,99% (so với đối chứng dương là 61,31%) và đạt hiệu lực phòng trừ 73,94%, tương đương với liều 40 ml/20 lít nước (73,98%).
5. Việc bổ sung chế phẩm ATX1 tác động như thế nào đến khả năng sinh trưởng của cây xoài?
Sau 6 tháng thử nghiệm trong nhà lưới, cây xoài được xử lý ATX1 ở liều lượng 30 ml/20 lít nước đạt chiều cao 76,58 cm và đường kính thân 1,35 cm, cao hơn rõ rệt so với đối chứng dương lây bệnh (chiều cao 61,65 cm; đường kính 0,74 cm) và đối chứng âm không bệnh (chiều cao 68,27 cm; đường kính 0,86 cm). Cây có bộ lá xanh đậm, chồi phát triển khỏe và thân mập mạp.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Đắc Quang Dũng đã chứng minh chế phẩm sinh học lỏng ATX1 chứa 4 chủng vi sinh vật đối kháng (T. asperellum, C. globosum, C. aureus, B. subtilis) duy trì mật độ bào tử ổn định đạt $3,5 - 6,5 \times 10^8$ CFU/ml sau 6 tháng bảo quản. Trong điều kiện phòng thí nghiệm, chế phẩm đạt hiệu lực ức chế nấm Colletotrichum acutatum trên 78% ở nồng độ 50 µl/20 ml môi trường PDA. Thử nghiệm trên cây xoài 5-7 tháng tuổi trong nhà lưới khẳng định liều lượng 30 ml chế phẩm/20 lít nước mang lại hiệu lực phòng trừ thán thư đạt 73,94% và kích thích sinh trưởng thân, lá vượt trội so với các công thức đối chứng. Công trình cung cấp luận cứ thực nghiệm quan trọng cho việc ứng dụng biện pháp sinh học phòng trừ bệnh thán thư hại xoài trong sản xuất nông nghiệp an toàn.