Đặt vấn đề Cây xoài được coi là một trong những cây ăn quả quan trọng hàng đầu trong nghề trồng cây ăn quả trong nghề trồng cây ăn quả thế giới (Paull và Daurate, 2011). Cây xoài rất được người Việt Nam ưu thích, dễ trồng, có giá trị kinh tế cao và mang nhiều các chất xơ, vitamin A, C… với giá cả hợp lý và đa dạng về chủng loại được nhiều người tiêu dùng mua. Muốn tăng thêm thu nhập kinh tế sản phẩm cây xoài từ cây giống, nhiều hộ dân ở cách tỉnh khác nhau đã đầu tư hàng nghìn cây giống và học hỏi thêm cách chăm sóc để tạo điều kiện thuân lợi mang lại hiểu quả cao nhất. Thậm chí, các sản phẩm còn được xuất khẩu mang giá trị lợi nhuận gấp bội, tạo nguồn thu nhập và công việc ổn định cho nhiều hộ dân.Vì vậy trong những năm gần đây, diện tích trồng xoài tăng lên đáng kể.
Một số vùng trồng xoài nổi tiếng như xoài cát Hòa Lộc, xoài tượng Tiền Giang. Song song với diện tích và phát triển trồng xoài thì loại dịch hại trên xoài cũng ngày càng nhiều và trầm trọng hơn. Trong đó bệnh thán thư là do nấm Colletotrichum gây ra là bệnh nghiêm trọng nhất trên cây xoài. Bệnh thán thư gây thiệt hại đáng kể cho năng suất và sinh trưởng cây xoài.
Điều đó làm giảm nguồn thu sản phẩm từ cây xoài dẫn đến việc kinh tế cũng giảm theo cho hộ nông dân. Vai trò của chế phẩm sinh học với nguồn gốc là các vi sinh vật có tác dụng ức chế nấm gây bệnh trong sản xuất nông nghiệp ngày càng được quan tâm do có các ưu điểm: Không gây ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe con người, vật nuôi, cây trồng. Không gây ô nhiễm môi trường sinh thái. Có tác dụng cân bằng hệ sinh thái (vi sinh vật, dinh dưỡng …) trong môi trường đất nói riêng và môi trường nói chung.
Có tác dụng đồng hóa các chất dinh dưỡng, góp phần tăng năng suất và chất lượng nông, lâm sản phẩm. Có khả năng phân hủy, chuyển hóa các chất hữu cơ bền vững, các phế thải sinh học, phế thải nông nghiệp, công nghiệp, góp phần làm sạch môi trường. Có tác dụng giảm thiểu dịch hại, tăng khả năng đề kháng 1 bệnh, tăng năng suất chất lượng cây trồng mà không làm ảnh hưởng đến môi trường như các lọai thuốc BVTV có nguồn gốc hóa học khác. Không những thế chế phẩm sinh học còn có khả năng phân hủy, chuyển hóa các chất hữu cơ bền vững, các phế thải sinh học, phế thải nông nghiệp, công nghiệp, góp phần làm sạch môi trường (TT Công nghệ Sinh học TP.Hồ Chí Minh và TS.
Dương Hoa Xô, 2012). Đứng trước yêu cầu của sản xuất phải có sản phẩm an toàn sinh học cho thị trường trong nước thì sử dụng biện pháp sinh học trong phòng trừ bệnh hại rất cần thiết. Do vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu “Nghiên cứu đánh giá hiệu lực phòng trừ bệnh thán thư trên cây xoài của chế phẩm sinh học” nhằm đánh giá hiệu lực phòng trừ vi sinh vật gây bệnh thán thư, trên cây xoài trong điều kiện phòng thí nghiệm và điều kiện nhà lưới. Mục tiêu - Đánh giá hiệu lực phòng trừ nấm gây bệnh thán thư của chế phẩm sinh học ATX1 trong điều kiện phòng thí nghiệm.
- Đánh giá mật độ vi sinh vật đối kháng tồn tại trong chế phẩm sinh học ATX1 phòng trừ bệnh thán thư trên xoài. - Đánh giá hiệu lực đối kháng nấm gây bệnh thán thư trên cây xoài của chế phẩm sinh học ATX1 trong điều kiện nhà lưới. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2. Bệnh thán thư hại trên cây xoài Bệnh thán thư là một trong những bệnh hại nguy hiểm và phổ biến nhất trên cây xoài, phân bố rộng khắp trên thế giới, đặc biệt ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới.
Bệnh do nấm Colletotrichum spp. gây ra, loài nấm bệnh này gây hại không chỉ riêng cây xoài mà còn gây hại trên nhiều loại cây trồng khác (Kumari and Singh, 2017). Theo các báo cáo năm 1990, tỷ lệ bệnh thán thư trên cây xoài ở Nam Phi là 32% và ở Costa Rica là 64,6% và có thể lên đến 100% trong điều kiện ẩm ướt hoặc mưa nhiều (Arauz et al., 1994; Ann et al. Ở Ấn Độ, tại bang Hyderabad, tỷ lệ bệnh được ghi nhận trên đồng ruộng 20- 30% quả bị nhiễm bệnh (Prakash et al.
Còn tại bang Himachal Pradesh tỷ lệ quả bệnh thán thư hại xoài ở giai đoạn sau thu hoạch lên đến 29,6% (Sharma and Verma, 2007). Theo Arauz (2000), sản lượng xoài được đưa đến người sử dụng cuối cùng có thể giảm từ 30% - 60%, thậm chí có thể lên đến 100% đối với những vùng có ẩm độ cao do các loại bệnh trên xoài gây nên, trong đó bệnh thán thư là bệnh hại quan trọng nhất. Bệnh có thể gây hại cả trước và sau giai đoạn thu hoạch. Đối với giai đoạn trước thu hoạch, bệnh gây hại ở hầu hết các bộ phận cây xoài, đáng kể nhất là gây rụng hoa và quả non hoặc làm biến dạng quả.
Đối với giai đoạn sau thu hoạch bệnh có thể phát sinh trong quá trình di chuyển và tồn trữ làm giảm chất lượng xoài hoặc nghiêm trọng hơn làm cho trái xoài bị hỏng, vì thế không đạt được yêu cầu thương mại của thị trường. Cây xoài: Diện tích hiện có 3.324,9 tấn, giảm 1,46% (bằng 123,56 tấn) so với cùng kỳ do bị nhiễm bệnh thán thư và các bệnh khác trên xoài ở tỉnh Hậu Giang năm 2021 (Nguồn: https://www.vn/Pages/tinbai.aspx?idTin=51352&idcm=503) 3 Sản lượng xoài được đưa đến người sử dụng cuối cùng có thể giảm từ 30- 60%, thậm chí có thể lên đến 100% đối với những vùng có ẩm độ cao do các loại bệnh trên xoài gây nên, trong đó bệnh thán thư là bệnh gây thiệt hại lớn nhất. Bệnh có thể gây hại cả trước và sau giai đoạn thu hoạch. Đối với giai đoạn trước thu hoạch, bệnh gây hại ở hầu hết các bộ phận cây xoài, đáng kể nhất là gây rụng hoa và quả non hoặc làm biến dạng quả.
Đối với giai đoạn sau thu hoạch bệnh có thể phát sinh trong quá trình di chuyển và tồn trữ làm giảm chất lượng xoài hoặc nghiêm trọng hơn làm cho quả xoài bị hỏng, vì thế không đạt được yêu cầu thương mại của thị trường. Triệu chứng bệnh Vết bệnh đầu tiên là các đốm đen nhỏ, sau vết bệnh mở rộng và liên kết thành các mảng không định hình màu khô tối. Nếu gặp điều kiện ẩm ướt chúng liên kết thành các vết bệnh lớn. Các vết bệnh điển hình có tâm màu nâu vàng nhạt bao quanh là một viền màu nâu đen hoặc nâu sẫm, xung quanh có một quầng màu xanh vàng nhạt.
Các triệu chứng đặc trưng là nhiều đốm nâu, hình bầu dục hoặc có kích thước khác nhau rải rác khắp bề mặt lá dưới điều kiện ẩm ướt. Loại nấm này phát triển nhanh chóng tạo thành các khối nâu hoại tử nâu hoặc vết hoại tử màu nâu có đường kính 20-25 mm. Các vết bệnh kết hợp với nhau để hình thành các vùng hoại tử lớn thường xuyên dọc theo mép lá bị ảnh hưởng nghiêm trọng lá thường bị cong. Tổn thương phát triển chủ yếu trên mô còn non và bào tử được hình thành và có thể được quan sát thấy trong các vết bệnh ở mọi giai đoạn sinh trưởng phát triển của cây (Prakash, 1996; Kumari and Singh, 2017).
Triệu chứng đốm đen trên lá, hoa và quả trên cây xoài do nấm bệnh Colletotrichum gây ra. (Nguồn: https://faf.vn/benh-than-thu-hai-xoai-colletotrichum-spp- va-bien-phap-phong-tru/) 2. Nguyên nhân gây bệnh Bệnh thán thư xoài là do nấm Colletotrichum acutatum và Colletotrichum gloeosporioides gây ra ( Cannon et al., 2012; Kumari and Singh,2017). Nấm bệnh thán thư soi dưới kính hiển.
Nấm Colletotrichum acutatum là loại nấm hoại sinh phổ biến và xâm nhập chủ yếu trên các mô chết và mô bị tổn thương. Bào tử nảy mầm đòi hỏi độ ẩm gần 5 100%. Tuy nhiên, bệnh vẫn có thể xuất hiện ở điều kiện khô hơn khi bào tử hoặc sợi nấm tiềm sinh xâm nhập trên mô bị tổn thương và mô già. Đây là một trong những đặc điểm quan trọng trong nhiều đợt dịch bệnh, đặc biệt trên quả (Jeffries et al.
Sợi nấm có màu trắng xám trên môi trường nhân tạo PDA. Đĩa càng kích thước 120 – 270 m, khó hình thành trên môi trường nhân tạo, lông gai cứng dài, màu nâu đến đen, thuôn về phía đỉnh, hơi phồng nhẹ ở phần gốc, có nhiều vách ngăn, kích thước 53-191 x 5-7 m. Bào tử phân sinh hình thành trên cành bào tử ngắn, hẹp, trong suốt, hình trụ, đầu hơi tù, đỉnh tròn, không có vách ngăn, kích thước từ 9-19 x 3-5,5 m. Trên môi trường nhân tạo PDA, kích thước và hình dạng của bào tử có thể thay đổi so với trên cây ký chủ.
Khối bào tử màu hồng nhạt được hình thành trên cành bào tử phân sinh đơn độc sinh ra từ sợi nấm trong đĩa cành nhẵn hoặc không dễ nhìn thấy lông gai. Kích thước bào tử 18-25 x 2,5-3,5 m. Bào tử nảy mầm và hình thành giác bám màu nâu, hình ô van hoặc hình chùy hay tròn, kích thước 6-17 x 5-9 m (Freeman et al. Đặc điểm chung của nấm Colletotrichum Colletotrichum là một chi nấm túi (Ascomycota) với số lượng loài phong phú.
Chúng được công nhận trên toàn cầu là mầm bệnh của nhiều loài thực vật hoang dã và hầu hết các loài thực vật được trồng. Những sinh vật này tấn công cây trồng ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới gây thiệt hại hàng triệu đô la cho ngành nông nghiệp. Các Colletotrichum là một phần của nhóm nấm ascomycete. Những sinh vật này được đặc trưng bởi có cấu trúc sinh sản dưới dạng một cái túi.
Sợi nấm của nó được tạo thành từ các sợi nấm có vách ngăn (Wharton & J. Tình hình sản xuất chế phẩm sinh học trên thế giới và ở Việt Nam 2. Tình hình sản xuất chế phẩm sinh học trên thế giới Trong những năm gần đây phân hoá học, thuốc trừ cỏ được sử dụng với số lượng lớn trong sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam, là nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, đất đai bạc màu, làm chết các sinh vật có ích, làm tăng khả năng kháng thuốc của sinh vật gây hại, dẫn đến các cây ăn quả như xoài, chôm chôm, cam, quýt bưởi. dần dần kém phát triển, sâu bênh nhiều, thiếu dinh dưỡng, trồng không đúng thời vụ, khả năng kháng bệnh kém.